Thực hiện chính sách lao động, việc làm ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Pdf 57

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======

NGUYỄN THU HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM Ở
HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh

HÀ NỘI - 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======

NGUYỄN THU HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM Ở
HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học


chính sách lao động, việc làm ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện nay theo
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh” đƣợc thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn của ThS. Vi Thị Lại. Tôi
xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các công trình khác.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thu Huyền


BẢNG KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

CĐCS

Công đoàn cơ sở



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................3
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.........................................................................................4
6. Kết cấu khóa luận ....................................................................................................4
CHƢƠNG 1: TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG,
VIỆC LÀM..................................................................................................................5
1.1. Một số khái niệm cơ bản ......................................................................................5
1.1.1. Chính sách .........................................................................................................5
1.1.2. Chính sách lao động, việc làm ..........................................................................6
1.2. Nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chính sách lao động, việc làm ....................7
1.2.1. Quan điểm về vị trí, vai trò của chính sách lao động, việc làm ........................7
1.2.2. Quan điểm về nội dung chính sách lao động, việc làm ....................................9
1.2.3. Quan điểm về biện pháp thực hiện chính sách lao động, việc làm .................23
1.3. Giá trị của quan điểm Hồ Chí Minh về chính sách lao động, việc làm .............28
CHƢƠNG 2: VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI HIỆN NAY .................................................................................................30
2.1. Những yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách lao động, việc làm ở
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện nay ...........................................................30
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ...........................................................................................30
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ................................................................................33
2.1.3. Tình hình dân số và đặc điểm dân cƣ ..............................................................35


Chí Minh, tình yêu thƣơng con ngƣời luôn gắn với mong muốn dân tộc thoát khỏi
cảnh bị đày đọa, lầm than.
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh
vực, nhất là trên lĩnh vực kinh tế - xã hội; thực hiện tốt quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nƣớc đƣa nƣớc ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, nghèo
nàn, chậm phát triển thành một quốc gia văn minh, tiên tiến. Việc đạt đƣợc những
thành tựu này là nhờ một phần không nhỏ của các chính sách xã hội trong đó đặc
biệt phải kể đến chính sách lao động, việc làm. Chính sách này là một trong những
chính sách cơ bản của mỗi quốc gia. Với mục tiêu xã hội là công bằng xã hội và
nâng cao phúc lợi cho ngƣời dân, đảm bảo hòa nhập xã hội và giảm dần sự tách biệt
xã hội cho ngƣời lao động thông qua công tác tạo việc làm và đảm bảo việc làm cho
họ. Thời gian qua, tuy nƣớc ta đã từng bƣớc thực hiện đƣợc các mục tiêu đó, tuy
nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Do vậy, trong tình hình
nền kinh tế thị trƣờng ngày càng mở rộng, phát triển, việc thực hiện chính sách lao
động, việc làm vẫn luôn đƣợc ƣu tiên quan tâm hàng đầu.
Cùng với sự quan tâm triển khai thực hiện chính sách lao động, việc làm trên
phạm vi cả nƣớc, huyện Hoài Đức cũng đã góp một phần không nhỏ tạo nên thay
đổi đáng kể về mặt kinh tế - xã hội. Sự tiến bộ đó đã góp phần làm cho nhân dân địa
bàn nói riêng và toàn xã hội nói chung dần ổn định và cải thiện cuộc sống của mình.
Huyện Hoài Đức là một huyện giáp với nội đô Hà Nội, có vị trí chiến lƣợc trong
việc phát triển kinh tế, giao lƣu văn hóa – xã hội; là huyện có nhiều tiềm năng về
1


công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và các làng nghề truyền
thống. Tuy nhiên, do điều kiện sản xuất còn khó khăn, các khu công nghiệp, khu
chế xuất chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu lao động, việc làm thực tế của nhân dân trên
địa bàn. Thực tế đó đòi hỏi huyện cần phải học tập, nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về chính sách lao động, việc làm và vận dụng tƣ tƣởng đó vào thực tiễn địa
bàn huyện một cách hiệu quả.

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận và đề cập vấn đề tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về chính sách lao động, việc làm ở những khía cạnh và mức độ
khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay chƣa có một công trình nào nghiên cứu một cách
độc lập về vấn đề thực hiện chính sách lao động, việc làm ở huyện Hoài Đức, thành
phố Hà Nội hiện nay theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Do vậy, trên cơ sở học tập, kế
thừa và phát triển những kết quả thu đƣợc từ các công trình nghiên cứu nêu trên, em
mong muốn tìm hiểu một cách sâu sắc hơn tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chính sách lao
động, việc làm và sự vận dụng tƣ tƣởng đó vào việc thực hiện chính sách lao động,
việc làm ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chính sách lao động, việc
làm, vận dụng tƣ tƣởng đó vào nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách lao động,
việc làm ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chính sách lao động,
việc làm.
Thứ hai, phân tích thực trạng thực hiện chính sách lao động, việc làm ở
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2018.
Thứ ba, đề xuất một số định hƣớng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách lao động, việc làm ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong giai
đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách lao động, việc làm ở huyện Hoài Đức, thành phố
Hà Nội hiện nay theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chính sách lao động, việc làm.
Về không gian: Huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
3

Theo từ điển tiếng Anh Oxford, chính sách đƣợc hiểu là một đƣờng lối hành
động đƣợc thông qua và theo đuổi bới chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính sách…
Theo sự giải thích này, chính sách không chỉ đơn thuần là một quyết định mà nó là
một đƣờng lối, một phƣơng hƣớng hành động.
Ở một góc độ khác, trong cuốn “Giáo trình khoa học chính sách” của tác giả
Vũ Cao Đàm đã đƣa ra một loạt các khái niệm của các nhà khoa học về chính sách.
Trong đó, tiêu biểu có:
Guy Peters đƣa ra định nghĩa: “Chính sách là toàn bộ hoạt động của nhà
nƣớc có ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của công dân”. [4]
Theo James E. Anderson(1984): “Chính sách là một quá trình hành động có
mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi, để giải quyết những vấn đề mà họ
quan tâm”. [4]
Theo Thomas R. Dye cho rằng: “Chính sách là điều mà một chính phủ chọn
để làm hoặc không làm”. [4]
Từ việc xem xét các khái niệm mà các nhà khoa học đã chỉ ra, tác giả Vũ
Cao Đàm đã kết luận: Chính sách là một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hóa, mà

5


một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, trong đó tạo sự ƣu đãi một hoặc
một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một
mục tiêu ƣu tiên nào đó trong chiến lƣợc phát triển của một hệ thống xã hội. [4]
William N. Dunn: "Chính sách là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn
liên quan lẫn nhau, bao gồm các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà
nƣớc hay các quan chức nhà nƣớc đề ra". [11]
Theo Lê Vinh Danh, tác giả Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 19352001: "Chính sách là những gì mà chính quyền thực hiện đến dân". [2]
Đó là những quan niệm về chính sách theo quan điểm của các nhà nghiên
cứu khoa học. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã tiếp cận và làm rõ quan điểm chính sách
trên tinh thần mác xít về con ngƣời, bản chất con ngƣời vừa là một thực thể tự

thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Một ngƣời lao động có việc làm
khi ngƣời ấy chiếm đƣợc một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội.
Thông qua việc làm để ngƣời ấy thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu
nhập của ngƣời ấy.
Hai phạm trù lao động và việc làm có liên quan với nhau và cùng phản ánh
một loại lao động có ích của con ngƣời, nhƣng hai phạm trù đó hoàn toàn không
giống nhau, vì: có việc làm thì chắc chắn có lao động nhƣng có lao động thì chƣa
chắc có việc làm vì nó phụ thuộc vào mức độ ổn định của công việc mà ngƣời lao
động đang làm. Do vậy, cần phải có chính sách lao động, việc làm để có những chủ
trƣơng giải quyết những vấn đề về lao động, việc làm.
Từ khái niệm chính sách, khái niệm lao động và việc làm, có thể hiểu khái
niệm chính sách lao động, việc làm đó là: Chính sách lao động, việc làm là tổng thể
các quan điểm, tƣ tƣởng, các mục tiêu, các giải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực
lƣợng lao động và tạo việc làm cho lực lƣợng lao động đó. Nói cách khác, chính
sách lao động, việc làm là sự thể chế hóa pháp luật của Nhà nƣớc trên lĩnh vực lao
động và việc làm, là hệ thống các quan điểm, phƣơng hƣớng mục tiêu và giải pháp
giải quyết việc làm cho ngƣời lao động.
1.2. Nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chính sách lao động, việc làm
1.2.1. Quan điểm về vị trí, vai trò của chính sách lao động, việc làm
Một là, chính sách lao động, việc làm là một bộ phận quan trọng trong hệ
thống chính sách xã hội của một quốc gia, dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một ngƣời luôn hƣớng trái tim về những con ngƣời
lao động cực khổ trong xã hội, do đó Ngƣời luôn đặc biệt quan tâm đến những
chính sách xã hội trong đó có thể kể đến chính sách lao động, việc làm. Ngƣời đã
sớm nhận thức đƣợc rằng việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản nhất giúp con
ngƣời ổn định cuộc sống và phát triển một cách toàn diện. Do vậy, Ngƣời cho rằng
tạo việc làm, chăm lo đời sống của nhân dân, thực hiện tốt các chính sách về lao
động, việc làm là vấn đề cấp bách của xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của con ngƣời,
trƣớc là để đảm bảo những nhu cầu thiết yếu của nhân dân đồng bào cả nƣớc, sau là
7

có sự hợp tác chặt chẽ, có vậy việc tăng gia sản xuất mới có kết quả “Tăng gia sản
xuất chẳng những có lợi riêng cho chủ và thợ, mà còn có lợi chung cho nền kinh tế
của Tổ quốc, lợi chung cho toàn thể đồng bào” [16, tr.124]. Qua đó có thể thấy
Ngƣời đã chỉ ra đƣợc vai trò kinh tế của việc thực hiện chính sách lao động, việc
làm, thấy đƣợc rằng kinh tế có phát triển thì mới góp phần xây dựng đất nƣớc vững
mạnh hơn. Trong “Thƣ gửi đồng bào lao động toàn quốc” ngày 1/5/1948, Ngƣời đã
8


khẳng định vai trò quan trọng của lao động “Xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, là
nhờ lao động. Xây nên giàu có, tự do, dân chủ cũng là nhờ lao động. Trí thức mở
mang cũng nhờ lao động (lao động trí thức). Vì vậy lao động là sức chính của sự
tiến bộ loài ngƣời, cũng là sức mạnh của sự giải phóng dân tộc” [16, tr.514].
Ba là, chính sách lao động, việc làm góp phần trong việc nâng cao đời sống
của nhân dân
Chính sách lao động, việc làm đƣợc chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng,
và công tác thực hiện chính sách này cũng đƣợc thể hiện rõ nét trong các chủ
trƣơng, biện pháp, quan điểm, đƣờng lối của Đảng và Chính phủ trong giai đoạn
hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lấy nhân dân làm trung tâm, làm cốt lõi và
luôn chú trọng công tác chăm lo đời sống nhân dân, Ngƣời coi đó nhƣ nhiệm vụ
đánh thắng cái đói, cái nghèo, cái lạc hậu, là nhiệm vụ song song với nhiệm vụ đấu
tranh đánh bại đế quốc Pháp hùng mạnh, xây dựng đất nƣớc xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân.
Trong khi trả lời một nhà báo nƣớc ngoài, Hồ Chí Minh đã nêu rõ quan điểm
“Chƣơng trình kiến thiết của Việt Nam bƣớc đầu tiên là làm cho dân khỏi khổ, khỏi
dốt. Muốn nhƣ thế thì chúng tôi phải ra sức tăng gia sản xuất, muốn tăng gia sản
xuất rộng rãi và chóng có kết quả thì chúng tôi cần có tƣ bản, trí thức và lao
động”[16, tr.184]. Nhƣ vậy, ngay từ những ngày đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác
định đƣợc muốn đánh thắng giặc dốt, giặc nghèo khổ thì phải xây dựng đƣợc tiềm
lực con ngƣời đủ mạnh, mà muốn vậy thì lao động tăng gia sản xuất là tất yếu.

cụ thể những vấn đề về sắp xếp hợp lý tổ chức lao động, vấn đề tuyển dụng ngƣời
mới, vấn đề đào tạo thợ mới và bổ túc thợ cũ…
Ngƣời cũng đã nêu trong Thƣ gửi đồng bào tản cƣ: “Các anh em công nhân
thì Liên đoàn lao động và Chính phủ đã có kế hoạch sắp xếp công ăn việc làm cho
cả mọi ngƣời. Anh em phải lập tức đến đăng ký tại Liên đoàn lao động để nhận
công việc” [16, tr.64]. Ngƣời đã nhận thấy vai trò quan trọng của lao động và sản
xuất để từ đó đƣa ra đƣợc những quan điểm nhằm tạo việc làm cho nhân dân
Để tạo việc làm cho ngƣời lao động, chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đặc
biệt đến phát triển kinh tế, bởi chỉ có phát triển kinh tế thì mới có việc làm cho
ngƣời lao động và ngƣợc lại phải có việc làm cho ngƣời lao động thì sẽ tạo một
động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế - xã hội.
Do vậy, ngay khi đất nƣớc vừa giành đƣợc độc lập, trong bối cảnh đất nƣớc
còn khó khăn, nghèo nàn, chính trị chƣa đƣợc củng cố hoàn toàn thì chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đề nghị với Hội đồng Chính phủ lâm thời phát động chiến dịch tăng
gia sản xuất. Ngƣời đƣa ra khẩu hiệu: “Tăng gia sản xuất. Tăng gia sản xuất ngay.
Tăng gia sản xuất nữa!” [15, tr.135]. Ngƣời cho rằng tăng gia sản xuất, phát triển
kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc giành, giữ và củng cố chính quyền. Trong
nông nghiệp, Ngƣời chỉ ra rằng: “Trồng nhiều lúa, nhiều màu, nhiều bông, để quân
và dân đủ ăn, đủ mặc, đủ dùng, bảo vệ mùa màng cất dấu thóc lúa, sẵn sàng tiếp tế

10


lƣơng thực cho quân đội... tổ chức làng kháng chiến; chủ ruộng phải giảm tô cho
đúng, tá điền phải nộp tô cho đều, xây dựng tổ đổi công để tăng gia sản xuất” [17,
tr.59]
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng đối với nông dân, ruộng đất là tƣ liệu sản
xuất quan trọng nhất và đƣợc đặt lên hàng đầu. Ngƣời nêu: “Nông dân ai cũng có
ruộng cày. Giảm địa tô. Cứu tế nông dân trong những năm mất mùa” [14, tr.631],
Ngƣời khẳng định: “Muốn nông dân có lực lƣợng dồi dào thì phải làm cho họ có

nghề, học kiến thức ở trƣờng, học trong thực tiễn đời sống, trau dồi kiến thức với
các chuyên gia nƣớc ngoài, học hỏi cán bộ hay phải tự có ý thức học hỏi lẫn nhau…
Đảng, Nhà nƣớc và bộ máy quản lý các cấp cần phải chú trọng việc đào tạo ngƣời
lao động một cách đồng bộ, toàn diện, quan tâm xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ
khoa học – kỹ thuật, đội ngũ công nhân có trình độ và tay nghề cao. Trong 8 điều
của bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” do Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị
Vécxây năm 1919 có một điều đáng chú ý, đó là tại điều 6: “Tự do học tập, thành
lập các trƣờng kỹ thuật, và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho ngƣời bản xứ” [12,
tr.441]. Đây đƣợc coi là đòi hỏi đầu tiên một cách chính thức cho quyền đƣợc học
tập và đào tạo nghề nghiệp của ngƣời lao động ở các nƣớc thuộc địa. Đây là một
bƣớc tiến mới trong tƣ tƣởng về lao động, việc làm của Ngƣời, có thể thấy rằng
Ngƣời đã sớm hình thành tƣ tƣởng hƣớng nghiệp, kết hợp việc học với việc thực
hành và đào tạo nghề.
Ngƣời cũng chủ trƣơng: “Lại nên có những lớp học cho thợ, và con thợ. Thợ
học cho tinh xảo hơn. Con thợ học sẽ dễ thế cho những ngƣời thợ già về hƣu”, “Chủ
và thợ hợp tác chặt chẽ, thì hai bên đều có lợi. Vì hợp tác chặt chẽ, mới thực hiện
đƣợc tăng gia sản xuất và tăng gia sản xuất càng có kết quả thì chủ và thợ càng
đƣợc lợi”, “tăng gia sản xuất chẳng những lợi riêng cho chủ và thợ, mà còn lợi
chung cho nền kinh tế của Tổ quốc, lợi chung cho toàn thể đồng bào” [16, tr.124] .
Ngƣời cho rằng, khoa học phải từ sản xuất mà ra và trở lại phục vụ sản xuất,
phục vụ quần chúng nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện
đời sống của nhân dân, Phát biểu tại Hội nghị Cán bộ phát động cuộc vận động “Cải
tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn
diện, mạnh mẽ và vững chắc” ngày 07/03/1963, Ngƣời nói: “Chúng ta cần phải tập
trung lực lƣợng làm cho nƣớc ta sản xuất ngày càng nhiều lƣơng thực, trồng càng
nhiều cây công nghiệp…Muốn có kết quả đó thì nhất định phải cải tiến quản lý,cải
tiến kỹ thuật” [25, tr.42]. Tiếp tục nhấn mạnh nội dung này, trong bài phát biểu tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt
Nam ngày 18/05/1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích: “Chúng ta đều biết rằng
trình độ khoa học, kỹ thuật của ta hiện nay còn thấp kém. Lề lối sản xuất chƣa cải

cũng giúp ngƣời lao động có năng lực làm chủ, có đủ năng lực tổ chức, đủ năng lực
thực hành nghề nghiệp. Do đó, bản thân mỗi ngƣời phải tỏ rõ tinh thần say mê học
tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp để không ngừng nâng cao tay nghề, giúp ích cho
sự phát triển của kinh tế - xã hội, nhƣ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Nhƣ vậy là
làm cho sáng kiến, kinh nghiệm chung ngày càng dồi dào, trình độ tƣ tƣởng, tổ
chức, kỹ thuật chung ngày càng nâng cao. Do đó sản xuất phát triển ngày càng
nhanh và vững, đời sống nhân dân ngày càng ấm no, đầy đủ.” [23, tr.528]
Nhƣ vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc đào tạo nghề và nâng cao trình độ
cho ngƣời lao động là việc tất yếu nhằm nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra
nhiều của cải vật chất, xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi.

13


Ba là, đảm bảo tiền lƣơng hợp lý cho ngƣời lao động
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc thực hiện chính sách tiền lƣơng cũng là
một trong những động lực quan trọng của phát triển kinh tế đất nƣớc. Nó là một
chính sách hết sức cần thiết và cấp bách của mỗi quốc gia, tác động lớn đến sự phát
triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh của đất nƣớc. Nó có mối quan
hệ mật thiết và tác động đa chiều đối với động lực phát triển, tăng trƣởng kinh tế
cũng nhƣ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nƣớc. Ngƣời cho rằng, nếu tiền
lƣơng không xứng đáng với giá trị sức lao động thì những tƣ liệu sinh hoạt cần thiết
của ngƣời lao động cũng không đƣợc đáp ứng, ngƣời lao động sẽ không nâng cao
đƣợc trách nhiệm, hiệu quả, phát huy tài năng và cống hiến theo đúng năng lực mà
mình có và không khuyến khích đƣợc cán bộ, công chức, ngƣời lao động trau dồi
năng lực chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện, tu dƣỡng để thật sự toàn tâm toàn ý
phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, gắn bó với nhà nƣớc, không thu hút đƣợc
nhân tài. Những điều này sẽ dẫn đến đánh mất động lực, hiệu quả của quá trình sản
xuất và nền kinh tế sẽ bị trì trệ, suy thoái. Không chỉ vậy, tiền lƣơng không thích
hợp còn là một trong những nguyên nhân của căn bệnh nhƣ tham ô, tham nhũng,

công nhân sẽ bị suy giảm về thể chất và tinh thần dẫn tới giảm sút chất lƣợng lao
động và việc làm.
Không giống với công nhân, nông dân là thành phần xã hội không đƣợc trả
lƣơng do họ thực hiện việc lao động cày cấy trên chính mảnh ruộng của mình, mọi
sản phẩm lƣơng thực, thực phẩm trên chính mảnh ruộng đó là thu nhập chính của
ngƣời nông dân. Nông dân sản xuất nông nghiệp, do vậy những sản phẩm của ngƣời
nông dân phụ thuộc phần nhiều vào điều kiện tự nhiên nhƣ thời tiết, khí hậu, đất,
nƣớc…do vậy, họ không thể tránh khỏi sâu bọ, mất mùa, thất bát. Vì vậy, việc cứu
tế ngƣời dân trong những năm mất mùa là một trong những chính sách an sinh xã
hội tiến bộ và có ý nghĩa tích cực trong sản xuất nông nghiệp. Thấy rõ đƣợc tình
hình thực tế xã hội của ngƣời nông dân, Ngƣời yêu cầu: “Nông dân ai cũng có
ruộng cày. Giảm địa tô. Cứu tế nông dân trong những năm mất mùa” [14, tr.631].
Chính sách này thể hiện sự chu đáo, chu toàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngƣời
luôn đặc biệt quan tâm đến những thành phần xã hội nghèo đói nhất, điều này phần
nào thể hiện đƣợc tính nhân văn, nhân đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa – xã hội mà
Ngƣời luôn hƣớng tới.
Đối với bộ đội, Ngƣời cũng đặc biệt quan tâm đến chính sách tiền lƣơng, tiền
thƣởng, Ngƣời chủ trƣơng: “Hậu đãi binh lính có công giữ gìn Tổ quốc và phụ cấp
gia đình binh lính đƣợc đầy đủ” [14, tr.631]. Ngƣời cho rằng ngoài tiền lƣơng và
tiền thƣởng cho bộ đội theo quy định chung thì cần phải có phụ cấp thêm cho gia
đình của họ một cách đầy đủ để họ yên tâm chiến đấu, làm tròn nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc của mình.
Cuối cùng, đối với thành phần tri thức, Ngƣời cho rằng: “Hậu đãi viên chức
xứng đáng với công học hành của họ” [14, tr.631]. Bên cạnh công nhân, nông dân
và bộ đội, Ngƣời cũng đề cập đến viên chức, cho rằng cần phải có chính sách đảm
bảo cho công nhân viên chức có cuộc sống đầy đủ, phục vụ đƣợc những nhu cầu

15



thị, thì chủ sẽ bắt buộc lo nhà ở cho tất cả hay một phần thợ thuyền làm với mình.
Gặp một vài trƣờng hợp đặc biệt, nhất là trong những khi có bệnh dịch tả, chủ cũng
có thể bị bắt buộc phải tạm trù liệu nhà ở cho công nhân ở” [37].

16


Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đảm bảo an toàn cho ngƣời lao
động cho các đối tƣợng đặc biệt nhƣ: công nhân hầm mỏ, phụ nữ và trẻ em. Cụ thể,
trong bài nói ngày 27/10/1946 của báo Cứu quốc số 390 ngày 29/10/1946 Ngƣời
nói: “Bộ Luật lao động Việt Nam sẽ nhận cho công nhân Việt Nam có quyền tự do
tổ chức, tự do bãi công. Luật Lao động sẽ ấn định giờ làm, tiền công, bảo vệ đàn
bàm ngƣời già và trẻ con” [15, tr.477]. Ngƣời nêu, Bộ Lao động phải quy định rõ
“Những công việc coi là nguy hiểm, quá sức, đối với đàn bà trẻ con để cấm họ
không đƣợc làm”; phải có “Những thể lệ đặc biệt cho phép đàn bà, trẻ con làm
trong các cơ sở có hại cho sức khỏe hay nguy hiểm vì phải gần những chất hay hơi
độc, với những sự bảo vệ cần phải có cho họ”[37]. Những công nhân làm công việc
dƣới hầm mỏ, với điểu kiện đặc biệt nguy hiểm cũng phải có những “Thể lệ riêng
về việc bảo vệ sức khỏe và sinh mệnh cho công nhân các hầm mỏ” [37] sau khi hỏi
ý kiến các cơ quan chuyên môn; những công nhân, ngƣời lao động làm việc ở vùng
sâu, vùng xa cũng đƣợc đặc biệt quan tâm “Ở các vùng có bệnh sốt rét rừng, chủ
phải chịu phí tổn về việc đề phòng bệnh này mà phát thuốc cho công nhân không
lấy tiền” [37]…
Để đảm bảo an toàn cho ngƣời lao động, Ngƣời đặc biệt quan tâm đến vấn đề
vệ sinh và sức khỏe của công nhân. Về vấn đề vệ sinh, Ngƣời nêu rõ: “Những nơi
làm việc phải rộng rãi, thoáng khí và có ánh nắng mặt trời. Những nơi làm việc phải
cách biệt hẳn với nhà tiêu, những cống, rãnh, để tránh mùi hôi tanh”; “Mỗi ngày các
nơi làm việc phải quét dọn sạch sẽ trƣớc khi công nhân vào làm”; “Chủ phải xếp đặt
chỗ nhà tiêu, đi tiểu đủ dùng cho công nhân trong xí nghiệp và phải rửa quét một
ngày 2 lần”; “Các chủ trù liệu cho công nhân có nƣớc ăn đủ vệ sinh ở nơi làm”. Về

quyền lợi, giữa cống hiến và hƣởng thụ. Điều này thể hiện ở chỗ: “Nhân dân lao
động là những ngƣời chủ tập thể của tất cả những của cải vật chất và văn hóa, đều
bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Bởi vậy mọi ngƣời đều phải thấm nhuần sâu
sắc tƣ tƣởng “mình vì mọi ngƣời, mọi ngƣời vì mình”.” [24, tr.66], Ngƣời đòi hỏi
tất cả những ngƣời lao động ngày nay đều phải nhận rõ mình là ngƣời chủ nƣớc nhà
và đã có quyền hạn làm chủ, thì phải làm trọn nghĩa vụ của ngƣời chủ. Từ đó ta
thấy rằng, theo quan niệm của Hồ Chí Minh, việc thực hiện một chế độ phân phối
công bằng chính là thực hiện nguyên tắc phân phối trong đó phần hƣởng thụ ngang
bằng với mức độ đóng góp, cống hiến của từng cá nhân, chứ hoàn toàn không phải
sự ngang bằng về hƣởng thụ giữa các cá nhân mà không tính đến sự cống hiến của
từng ngƣời. Không thể coi việc thực hiện công bằng xã hội nhƣ là sự cào bằng trong
nghèo khổ. Ngƣời kiên quyết chống lại sự đồng nhất tinh thần đồng cam cộng khổ
với chủ nghĩa bình quân. Ngƣời nói: “Đồng cam cộng khổ là một tinh thần cần phải
có, nhƣng nếu bình quân chủ nghĩa thì lại không đúng. Bình quân chủ nghĩa là gì?
Là ai cũng nhƣ ai, bằng hết”; “Bình quân chủ nghĩa là trái chủ nghĩa xã hội, thế là
không đúng” [21, tr.583]. Bình đẳng xã hội trƣớc hết là phân phối phải theo lao
động và theo phúc lợi: “Chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng…làm
của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn,

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status