ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
NGUYỄN TRỌNG BÀO
CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
Hà Nội, 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
NGUYỄN TRỌNG BÀO
CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
MÃ SỐ: ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Chiều
1.3.1. Chính sách chung của Nhà nước về tạo việc làm .............................. 25
1.3.2. Chính sách đặc thù của thành phố Hà Nội về tạo việc làm đối với
nông dân ....................................................................................................... 34
Tiểu kết chƣơng 1 ........................................................................................... 37
CHƢƠNG 2.THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM
CHO NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN
HOÀI ĐỨC ........................................................................................................... 38
2.1. Khái quát đặc điểm huyện Hoài Đức..................................................... 38
2.1.1. Điều kiện tự nhiên............................................................................... 38
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội .................................................................... 39
2.1.3. Đặc điểm lao động - việc làm ............................................................. 42
2.1.4. Đánh giá thuận lợi, khó khăn và dự báo tình hình thu hồi đất và nhu
cầu tạo việc làm cho người nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở
Hoài Đức trong thời gian tới. ....................................................................... 44
2.2. Kết quả chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất
nông nghiệp ở huyện Hoài Đức ..................................................................... 47
2.2.1. Kết quả triển khai thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân
sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức ..................................... 47
2.2.2. Kết quả tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp
ở huyện Hoài Đức ......................................................................................... 53
2.3. Tồn tại và nguyên nhân trong việc thực hiện chính sách tạo việc làm
cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức ............ 57
2.3.1. Những tồn tại chủ yếu trong việc thực hiện chính sách tạo việc làm
cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức .............. 57
2.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại.......................................................... 59
Tiểu kết chƣơng 2 ........................................................................................... 61
2
STT
VIẾT TẮT
1
CNH, HĐH
2
HĐND
3
KT - XH
4
UBND
5
NXB
NGHĨA ĐẦY ĐỦ
Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
Hội đồng nhân dân
Kinh tế - Xã hội
Uỷ ban nhân dân
422, 423 và nhiều dự án nhƣ đƣờng vành đai 4 và các khu đô thị.
Trong quá trình mở rộng và phát triển các khu công nghiệp và khu đô thị
dẫn đến sự thay đổi về mục đích sử dụng đất đai, lao động, việc làm và cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Về lâu dài, sự thay đổi này mang
tính chất tích cực, tạo điều kiện cho cơ cấu kinh tế huyện Hoài Đức theo hƣớng
tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tạo ra
việc làm, nâng cao thu nhập cho ngƣời lao động. Tuy nhiên, sự phát triển các
khu công nghiệp và khu đô thị trên địa bàn huyện Hoài Đức cũng tạo ra rất
nhiều khó khăn cho ngƣời nông dân (14.844 hộ nông dân với số lao động
29.688) sau khi thu hồi đất nông nghiệp, nhất là những nơi có tốc độ công
nghiệp và đô thị hoá diễn ra nhanh. Trong đó, vấn đề việc làm của ngƣời nông
dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp đƣợc coi là vấn đề cấp thiết nhất đối với
cấp uỷ, chính quyền huyện Hoài Đức hiện nay.
Giai đoạn vừa qua, mặc dù Huyện uỷ, HĐND và UBND huyện Hoài
Đức đã và đang thực hiện nhiều biện pháp, chính sách về các mặt chính trị,
kinh tế, xã hội đối với ngƣời nông dân sau khi thu hồi đất. Tuy nhiên, công tác
tạo việc làm cho ngƣời nông dân sau khi thu hồi đất ở huyện Hoài Đức vẫn một
6
số tồn tại nhƣ: số lượng nông dân sau khi thu hồi đất thiếu việc làm, việc làm
bếp bênh, thu nhập giảm, thất nghiệp v.v. Hậu quả lâu dài dẫn đến tình trạng tệ
nạn xã hội, sự chênh lệch trong xã hội ở Hoài Đức có xu hƣớng ngày càng cao.
Từ góc nhìn của Khoa học quản lý, cần có những chính sách, biện pháp
tổng thể, đồng bộ, toàn diện để mở rộng việc làm, ổn định thu nhập, giải quyết
triệt để các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội cho nông dân sau khi thu hồi đất.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài luận văn thạc sĩ: “Chính sách tạo việc
làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức,
Thành phố Hà Nội”.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
giải pháp căn bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động và giải quyết
việc làm ở Việt Nam.
Tác giả Trần Đình Hoan (Nxb Sự thật, 1991) trong cuốn Sử dụng nguồn
lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam đã tập trung trình bày, phân tích
làm rõ các phƣơng diện nhƣ: Vai trò và tiềm năng nguồn lao động trong phát
triển kinh tế, xã hội, hiện trạng lao động và việc làm, phương hướng chủ yếu sử
dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm có hiệu quả ở Việt Nam.
Phân tích về vấn đề lao động nông thôn, tác giả Vũ Oanh (1998) trong
cuốn sách có tựa đề Nông nghiệp và nông thôn trên con đường công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hợp tác hoá, dân chủ hóa (Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội) đã khái quát về việc làm và nhu cầu dạy nghề cho lao động ở khu vực cần
chuyển mục đích sử dụng đất. Xây dựng mô hình dạy nghề cho lao động và vấn
đề việc làm và giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực chuyển đổi mục đích
sử dụng đất; tác giả Nguyễn Văn Phúc (2002) trong cuốn “Công nghiệp nông
thôn - Thực trạng và giải pháp” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); cũng tiếp
tục nêu khái niệm công nghiệp, nông thôn, trạng trạng và những giải pháp để
công nghiệp nông thôn đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ CNH, HĐH; tác giả
Đặng Kim Sơn (2008) trong cuốn “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt
Nam” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội) đã trình bày, phân tích làm rõ: Nêu nên
hệ thống khái niệm về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đưa ra những
phương hướng để nâng cao hiệu quả phát triên nông nghiệp, nông dân, nông
8
thôn; Tác giả Lƣu Văn Sùng (2004) Một số kinh nghiệm điển hình về phát triển
nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH (Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội) cũng đã chỉ ra: thực trạng về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo
hướng CNH, HĐH, đưa ra một số kinh nghiệm, định hướng về phát triển nông
nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH ở Việt Nam. Đặc biệt, Viện Nghiên
cứu Khoa học Dạy nghề (2011) trong cuốn sách Mô hình dạy nghề và giải
Bên cạnh các công trình nghiên cứu chuyên sâu còn có các báo cáo
chuyên đề của địa phƣơng trong việc làm rõ hơn các khía cạnh về lao động,
việc làm cho nông dân nói chung và nông dân thuộc diện thu hồi đất nông
nghiệp ở Thanh Trì nói riêng. Tác giả Trần Thị Minh Ngọc (2010) trong đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở
ngoại thành Hà Nội” cũng phân tích làm rõ: Thực trạng giải quyết việc làm và
kiến nghị giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở ngoại
thành Hà Nội; Huyện ủy Hoài Đức (2015): “Báo cáo chính trị của Ban Chấp
hành Đảng bộ huyện Hoài Đức trình đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ
XXIII, nhiệm kỳ 2015-2020; Uỷ ban nhân dân huyện Hoài Đức (2010) có Đề án
phát triển kinh tế huyện Hoài Đức đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;
Báo cáo Tình hình tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp; Báo cáo Tình hình tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp các năm 2010 – 2014; Báo cáo kết quả phát triển
kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng các năm 2010-2014…
Mặc dù, có nhiều công trình đã đƣa ra nhiều vấn đề có liên quan đến quá
trình đô thị hóa nông thôn, đề cập đến chính sách việc làm cho nông dân, tuy
nhiên, các tác phẩm trên nghiên cứu ở phạm vi rộng cấp tỉnh, thành phố lớn còn
cụ thể ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thì chƣa có công trình nghiên cứu
chuyên sâu. Công trình tập trung làm rõ chính sách việc làm cho nông dân sau
khi thu hồi đất nông nghiệp. Vì vậy, đề tài “Chính sách việc làm cho nông dân
sau khi thu hồi đất nông nghiệp từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà
Nội” có tính mới và không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách tạo việc
làm, luận văn phân tích thực trạng thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông
10
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Việc thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức khiến nhiều nông dân
mất việc làm, thiếu việc làm, giảm thu nhập.
- Tổ chức thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi
đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức chƣa đạt hiệu quả cao.
- Thực hiện một số biện pháp chính trị, kinh tế, xã hội một cách chƣa
tổng thể, đồng bộ ở huyện Hoài Đức.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phƣơng pháp trừu tƣợng hóa khoa học để để phân
tích các vấn đề lý luận và thực tiễn cho nông dân sau khi thu hồi đất nông
nghiệp.
- Sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu có liên quan nhƣ chủ
trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nƣớc, Nghị quyết
Thành phố Hà Nội, các công trình nghiên cứu và các báo cáo thông kê về giải
quyết việc làm về phát triển kinh tế xã hội của huyện Hoài Đức trong quá trình
tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp.
- Luận văn sử dụng phƣơng pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh
kết hợp với đánh giá quá trình tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất
nông nghiệp ở huyện Hoài Đức.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận của nghiên cứu
Đề tài góp phần bổ sung, cung cấp thêm cơ sở lý luận về chính sách, việc
làm, chính sách tạo việc làm để chính quyền huyện Hoài Đức phát triển kinh tế
đi đôi thực hiện công bằng xã hội đối với nông dân sau khi thu hồi đất nông
nghiệp.
Ý nghĩa thực tế của nghiên cứu
12
trọng, là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Ngày nay hệ thống lý thuyết
về việc làm đƣợc đề cập trên nhiều tài liệu, sách báo trong nƣớc và quốc tế và
đƣợc tiếp cận theo nhiều cách khác nhau.
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm đƣợc hiểu là sự kết hợp
giữa sức lao động với tƣ liệu sản xuất, nhằm biến đổi đối tƣợng lao động theo
mục đích của con ngƣời.
Trong Đại Từ điển kinh tế thị trƣờng của Trung Quốc do Viện nghiên
cứu và phổ biến trị thức bách khoa Hà Nội biên dịch và xuất bản năm 1998 thì
việc làm đƣợc hiểu là “hành vi của nhân viên có năng lực lao động, thông qua
hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất để được thù lao hoặc thu
nhập”.
Việc làm, theo từ điển Tiếng Việt: “1. Là công việc, nghề nghiệp thường
ngày để sinh sống; 2. Là điều kiện để thực hiện cụ thể với lời nói” [44;1064]
Nói đến nguồn nhân lực xã hội là nói đến sự liên hệ mật thiết tới vấn đề
việc làm.
Việc làm và việc xác định số lƣợng ngƣời có việc làm là vấn đề quan
trọng đối với mọi quốc gia. Nó giúp cho việc quy hoạch lao động, quy hoạch
phát triển kinh tế thị trƣờng dễ dàng hơn.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đƣa ra khái niệm: “Việc làm là những
hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”.
14
Theo Điều 9 chƣơng II Bộ Luật Lao động của nƣớc Cộng hoà Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam (2012) xác định: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn
thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm" [18].
Theo Luật Việc làm (2013) thì "Việc làm là hoạt động lao động tạo ra
thu nhập mà không bị pháp luật cấm" [19]. Theo khái niệm này một hoạt động
đƣợc coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện:
+ Hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động. Điều
không đủ thời gian giờ hành chính quy định của nhà nƣớc 08 tiếng mỗi ngày và
05 ngày mỗi tuần. Thời gian làm việc có thể dao động từ 0,5 đến 05 tiếng mỗi
ngày và không liên tục; Việc làm thêm: Mô tả một công việc không chính thức,
không thƣờng xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định.
Nhƣ vậy, một hoạt động đƣợc coi là việc làm khi có những đặc điểm sau:
“Đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những
công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt
động đó phải được pháp luật thừa nhận”.
* Khái niệm tạo việc làm
Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất; số
lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết
hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động.
Cơ chế tạo việc làm: cơ chế 3 bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực của
ngƣời lao động, Nhà nƣớc và ngƣời sử dụng lao động sao cho cơ hội việc làm
và mong muốn đƣợc làm việc của ngƣời lao động gặp nhau trên thị trƣờng
đúng lúc, đúng chỗ.
- Về phía người lao động: Muốn tìm đƣợc việc làm phù hợp, có thu nhập
cao, đƣơng nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tƣ cho phát triển sức lao
động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ (từ gia
đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp
nhất định.
- Về phía nhà nước: Tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính
sách liên quan trực tiếp đến ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, tạo môi
trƣờng pháp lý kết hợp sức lao động với tƣ liệu sản xuất là một bộ phận cấu
thành trong cơ chế tạo việc làm cho ngƣời lao động.
16
- Về phía người sử dụng lao động: Cần có thông tin về thị trƣờng đầu
Theo James E. Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning (Dec
1983): “chính sách là quá trình hàng động có mục tiêu mà một hoặc một số chủ
thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm”.
Theo PGS.Vũ Cao Đàm: “chính sách là tập hợp biện pháp mà chủ thể
quyền lực đưa ra để định hướng xã hội thực hiện mục tiêu chính trị của chủ thể
quyền lực [8; 6]. ”.
Nhìn chung chính sách là công cụ của chính trị. Tuy nhiên không phải
chính sách nào cũng bị chi phối bởi quyền lực chính trị và là công cụ phục vụ
trực tiếp cho mục tiêu chính trị. Trong nhiều trƣờng hợp chính sách mang tính
độc lập với chính trị.
Tóm lại, chính sách là tập hợp một hoặc một số biện pháp mà chủ thể
quản lý đưa ra nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhóm xã hội để thúc đẩy
sự phát triển kinh tế xã hội hay đạt mục tiêu nhất định mà chủ để quản lý đang
hướng tới.
* Khái niệm chính sách tạo việc làm
Chính sách tạo việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối
với mỗi quốc gia. Chính sách việc làm đúng đắn sẽ góp phần thúc đẩy thị
trƣờng lao động phát triển, là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn
lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trƣờng, đảm
bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội.
Chính sách việc làm đƣợc coi là chính sách KT - XH cơ bản giúp bảo
đảm sự phát triển bền vững cho nền kinh tế. Giải quyết việc làm có thể hiểu là
tổng thể các biện pháp, chính sách KT - XH từ vi mô đến vĩ mô tác động đến
mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện để ngƣời lao động có thể có việc
làm.
Chính sách việc làm có mối quan hệ hữu cơ với các chính sách KT - XH
khác. Nếu chính sách việc làm đƣợc thực hiện tốt nó sẽ sử dụng hiệu quả nguồn
lực lao động nhờ đó thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp sẽ giảm đi. Ngƣợc lại,
khi các chính sách này không đƣợc thực thi tốt, lại rơi vào đúng thời kỳ suy
Trước hết, các chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất
mang tính hỗ trợ là chủ yếu.
Giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm riêng của Nhà nƣớc đối với
nông dân sau khi thu hồi đất mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt là
19
cần chính sẽ nỗ lực tìm kiếm và chuyển đổi nghề nghiệp từ chính những ngƣời
nông dân sau khi thu hồi đất.
Thứ hai, chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất có tính
vùng, tính khu vực rõ rệt.
Lực lƣợng lao động nông nghiệp trên phạm vi cả nƣớc về chất lƣợng
nguồn nhân lực, trình độ dân trí, phong tục tập quán canh tác của nông dân mỗi
vùng miền rất khác nhau, sự phân bố dân cƣ và lao động giữa các vùng dân cƣ
trong nƣớc không đồng đều, số lƣợng nông dân sau khi thu hồi đất ở mỗi địa
phƣơng là khác nhau. Tính không đồng đều còn thể hiện ở vị trí địa lý của từng
vùng, có những khu vực giá trị của đất đai cao hơn những khu vực khác, có khu
vực việc thu hút đầu tƣ, xây dựng các khu công nghiệp mạnh mẽ hơn các khu
vực khác... Do vậy, cùng với chính sách đền bù và hỗ trợ cho nông dân sau khi
thu hồi đất, có nhiều mức đền bù ở mỗi địa phƣơng, đòi hỏi các chính sách việc
làm cho nông dân sau khi thu hồi đất phải có những văn bản tƣơng xứng. Căn
cứ vào nguồn lực và điều kiện thực tế của địa phƣơng, các địa phƣơng xây
dựng các phƣơng án, chính sách riêng của mình để giải quyết việc làm cho
nông dân sau khi thu hồi đất.
Thứ ba, chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất là loại
chính sách mang tính xã hội rõ nét.
Đây là một trong những nội dung cơ bản của công bằng xã hội và phát
triển cuộc sống con ngƣời. Đối tƣợng của chính sách giải quyết việc làm cho
nông dân sau khi thu hồi đất liên quan đến một trong những mặt sống còn của
cuộc sống con ngƣời. Do vậy, chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu
kinh tế công nghiệp, năng suất cao. Trong quá trình đó dẫn đến chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, và kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động. Hoạt động sản xuất cũ
mất đi, thất nghiệp phát sinh. Cho nên, tạo việc làm cho ngƣời lao động là cần
thiết nhằm giảm thất nghiệp, hạn chế sự di chuyển lao động từ nông thôn ra
thành thị, giảm gánh nặng cho các thành phố lớn trong vấn đề tạo việc làm.
Đồng thời, tạo việc làm góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống, hạn chế tiêu
cực xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo và ổn định xã hội. Tạo việc làm cho
ngƣời lao động là biện pháp trung tâm của mọi quốc gia, nó cho phép giải
quyết các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội.
21
Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất không chỉ là
vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị - xã hội, thực chất là nối liền kinh tế
với xã hội. Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất phù hợp
và có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, chính trị và xã hội.
Thứ nhất, về mặt kinh tế
Chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất sẽ khai thác và
sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế, tránh lãng phí nguồn
lực xã hội. Ở nƣớc ta lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm hơn 70% lực
lƣợng lao động cả nƣớc. Hàng năm, lực lƣợng lao động nông nghiệp đã đóng
góp đáng kể cho GDP của đất nƣớc. Nếu không sử dụng hoặc sử dụng thiếu
hiệu quả lực lƣợng lao động này vào sản xuất sẽ gây lãng phí tài nguyên con
ngƣời – nguồn lực quan trọng nhất để phát triển đất nƣớc.
Chính sách tạo việc làm hợp lý còn cho phép sử dụng có hiệu quả nguồn
tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và vốn. Tạo việc làm và giải quyết việc
làm cho nông dân sau khi thu hồi đất sẽ góp phần tích cực trong việc phân bổ
lao động một cách hợp lý.
Thứ hai, về mặt chính trị
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ƣơng lần thứ Bảy (khóa VII) của Đảng
phƣơng.
Thứ ba, về mặt xã hội
Chính sách tạo việc làm giúp con ngƣời nâng cao vai trò của mình trong
quá trình phát triển kinh tế, giảm đƣợc tình trạng thất nghiệp trong xã hội.
Không có việc làm đối với ngƣời lao động đặc biệt tầng lớp thanh niên là một
trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội nhƣ: trộm cắp, lừa đảo,
nghiện hút, v.v. Khi con ngƣời có việc làm sẽ thỏa mãn đƣợc các nhu cầu thông
qua các hoạt động lao động để thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần ổn định và
nâng cao đời sống của ngƣời lao động.
Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở nông thôn sẽ ngăn
chặn việc di dân tự do, ồ ạt từ khu vực nông thôn ra khu vực đô thị để kiếm
sống, Việc di dân tự do từ nông thôn ra thành thị là một vấn đề nóng bỏng, đặc
biệt là các nƣớc đang phát triển. Điều đó dẫn đến mật độ dân số ở đô thị tăng
đột biến, quá tải về cơ sở hạ tầng, gây ra sự lộn xộn và tạo sức ép lớn lên các
khu đô thị nhƣ nhà ở chật chội, thiếu thốn, giá cả leo thang, nạn xây dựng, lán
23