Một vài kinh nghiệm ôn luyện, bồi dưỡng học sinh giỏi môn GDCD lớp 9 ở trường THCS TRần phú TP thanh hóa - Pdf 57

STT
1

MỤC LỤC
NỘI DUNG

MỤC
1

TRANG
2

Mở đầu.

2

1.1

Lí do chọn đề tài.

2

3

1.2

Mục đích nghiên cứu.

4

4


Thực trạng vấn đề trước khi áp
dụng sáng kiến.

5

9

2.3

Các giải pháp để giải quyết vấn
đề.

6

10

2.4

Hiệu quả của sáng kiến.

18

11

3

Kết luân, kiến nghị.

18

các em hứng trong học tập.
Đối với học sinh THCS, đặc biệt là học sinh trường THCS Trần Phú thì kĩ
năng sống, tư duy sáng tạo,vận dụng kiến thức vào cuộc sống hàng ngày cũng
như cách giải quyết tình huống thực tế vào bài thi là chưa thật sự hiệu quả, Mặt
khác, học sinh yêu thích môn GDCD còn rất ít. Có những năm rất khó chọn đội
tuyển (chỉ 1 hoặc đến 2 học sinh tự nguyện còn lại phần lớn giáo viên phải làm
công tác tư tưởng vừa động viên, vừa mang tích chất giao nhiệm vụ thì mới đảm
bảo chỉ tiêu). Môn GDCD trong nhà trường phải chăng chưa còn chưa được tôn
vinh: GDCD được hiểu là giáo dục đạo đức, giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ
năng sống……. Xã hội ngyaf càng phát triển, khoa học kĩ thuật tiến bộ đặc biệt
là mạng Internet ngày nay đang thu hút phần lớn thời gian, tâm trí của các em.
Học sinh được cha, mẹ nuông chiều, việc yêu sách, ham đọc sách, báo, xem thời
sự còn rất ít, các tài liệu tham khảo môn GDCD không có nhiều khiến các em
2


bối rối không biết chọn sách gì, đọc gì, rồi lười suy nghĩ, tư duy, lười học bài,
làm bài tập...
Trước khá nhiều khó khăn như thế, làm thế nào để dạy tốt, học tốt môn
GDCD và đặc biệt làm thế nào để việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi các
cấp đạt kết quả cao. Đó là những câu hỏi đánh động đến lương tri, tình yêu nghề
nghiệp và nhiệt huyết của mỗi thầy, cô giáo đã và đang đứng trên bục giảng. Để
trả lời cho những câu hỏi ấy tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ trong
quá trình giảng dạy của mình. Vì thế nên tôi chọn đề tài “ Một vài kinh nghiệm
trong công tác ôn luyện, bồi dưỡng học sinh giỏi môn GDCD ở trường
THCS Trần Phú, TP Thanh Hóa”
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Bồi dưỡng học sinh giỏi là một công việc hết sức nan giải. Vì vậy tôi
nghiên cứu đề tài này với mục đích tìm ra những biện pháp, cách thức bồi dưỡng
học sinh giỏi đạt hiệu quả cao. Đồng thời nâng cao chất lượng giảng dạy, trình

con người Việt Nam. Từ đó đặt ra nhiệm vụ của người giáo viên dạy GDCD là
làm cho học sinh hiểu được cái hay, cái đẹp, cái ý nghĩa, kích thích sự hứng thú,
yêu thích, đam mê, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Một tiết học GDCD phải
tạo ra được, hứng thú, cảm xúc, tình cảm từ những câu truyện, tình huống có
thực trong thực tế. Bởi những câu truyện ấy những tình huống ấy luôn phản ánh
thực tại xung quanh cuộc sống con người. Như vậy, qua tiết dạy người giáo viên
cần phải phân tích những giá trị tích cực, mặt tiêu cực của câu truyện, tình
huống. các biểu hiện .......để truyền lửa từ những giá trị ấy đến với học sinh.
Giáo viên tham gia bồi dưỡng phải có sự học tập và trau dồi không ngừng nghỉ
cùng với lòng nhiệt huyết, quyết tâm cao với trái tim yêu nghề: tất cả vì học sinh
thân yêu mới có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc. Qua một số năm được
phân công dạy đội tuyển GDCD bản thân nhận thấy những giáo viên được phân
công, phụ trách bồi dưỡng học sinh giỏi thực sự trăn trở bởi họ đã bỏ ra nhiều
công sức giảng dạy học sinh trong một thời gian dài mà hiệu quả chưa cao. Hơn
nữa cùng với sự phát triển của cuộc sống và sự đổi mới của bộ GD& ĐT môn
GDCD đã được đưa vào thi chính thức tốt nghiệp và đại học. Vậy nên với
chuyên đề này tôi đưa ra những suy nghĩ, việc làm của bản thân với mong muốn
được trao đổi cùng các đồng nghiệp để góp phân nâng cao chất lượng giảng dạy
của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh để môn GDCD của huyện nhà
sớm bắt nhịp cùng các huyện khác trong tỉnh.
2.2 Thực trạng của vấn đề.
* Thuận lợi:
Qua thực tế giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn GDCD nhiều năm
ở trường THCS Trần Phú tôi nhận thấy có một số thuận lọi như:
- Luôn nhận được sự quan tâm, động viên của các cấp lãnh đạo, Phòng
giáo dục, Ban giám hiệu nhà trường... đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
4


- Đồng nghiệp nhiệt tình, hỗ trợ đắc lực trong công tác giảng dạy.

liệu nhất là phương pháp, hình thức bồi dưỡng. Những chuyên đề về vấn đề này
còn quá ít. Việc trao đổi kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi với các trường bạn
chưa nhiều. Chính những lí do này mà các giáo viên vô cùng lo lắng và áp lực
khi được phân công bồi dưỡng dẫn đến kết quả học tập của học sinh chưa cao.
Đó là thực tế mà bản thân luôn trăn trở vì vậy tôi dã mạnh dạn nghiên cướ đề tài
này.
* Số liệu thống kê.
5


Trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm thì kết quả bồi dưỡng học sinh
giỏi qua một số năm và chất lượng môn học còn rất thấp. Trong các kỳ thi học
sinh giỏi cấp Thành phố số lượng giải cũng có song kết quả chưa cao, số giải
còn ít.. Đồng đội môn GDCD phần lớn đứng tốp cuối của thành phố.
2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Nguyên tắc trong việc bồi dưỡng
Là giáo viên trực tiếp bồi dưỡng học sinh giỏi môn GDCD của trường
Trần Phú, TP Thanh Hóa trong suốt 7 năm, tôi luôn hướng cho các em nhận thấy
môn GDCD không phải là môn học dễ, nhưng cũng không phải là môn học khó
và khô khan mà đây là môn học luôn hướng con người phấn đấu đạt đến cái
chân, thiện, mỹ, đề cao tình yêu thương, lòng nhân ái, sự công bằng. Học GDCD
các em sẽ thấy được trong xã hội vẫn còn rất nhiều người tốt, nhiều việc làm tốt,
nhiều công việc tử tế, từ đó hình thành cho các em nhu cầu làm theo và tuyên
truyền cho người thân cũng như người khác thấy được giá trị tốt đẹp của cuộc
sống.
Người thầy luôn xứng đáng là người dẫn đường tin cậy và là tấm gương
sáng ngời về mọi mặt cho học sinh noi theo.
Giáo viên dạy đội tuyển luôn có tinh thần trách nhiệm cao, là tâm huyết,
là người truyền lửa đến các em, truyền cảm từ các giá trị của cuộc sống và kích
thích độ say mê đến các em học sinh thân yêu.

viên phải nắm được năng lực của từng học sinh trong đội tuyển: Tiếp thu bài và
vân dụng tốt, có trí nhớ tốt, học thuộc bài, nắm chắc kiến thức bài học, năng lực
diễn đạt,...Công việc này được tiến hành bằng cách giáo viên tổ chức cho học
sinh làm bài kiểm tra tại lớp. Sau khi đã có bài giáo viên chấm chữa bài cho học
sinh lấy kết quả, phân loại chất lượng học sinh để có kế hoạch bồi dưỡng. Trong
quá trình giảng dạy người thầy phải quan tâm theo dõi để nắm được sự cố gắng
và sự phát triển đặc biệt của học sinh. Từ đó có biện pháp động viên, khuyến
khích để học sinh phát huy năng lực cá nhân; sau đó lựa chọn những học sinh có
năng lực để bồi dưỡng. Cụ thể là ngoài bài tập sách giáo khoa thì sau mỗi bài
dạy giáo viên giao thêm cho học sinh những bài tập có nâng cao. Bên cạnh đó
phải tăng cường kiểm tra, đánh giá, động viên, khích lệ học sinh.
Sau khi phát hiện được những học sinh có khả năng lập danh sách các đội
tuyển. Từ đó xây dựng kế hoạch giảng dạy.
*. Lập kế hoạch giảng dạy và bồi dưỡng:
- Đầu năm trên cơ sở kế hoach nhà trường, giáo viên xây dựng kế hoạch
chuyên môn của cả năm, cụ thể hóa từng tháng, từng tuần. Giáo viên xây dựng
kế hoạch cá nhân với các chỉ tiêu cụ thể, kế hoạch giảng dạy và kế hoạch bồi
dưỡng học sinh giỏi, kế hoạch thi chon đổi tuyển….
- Họp với các tổ chuyên môn bàn kế hoạch thực hiện một cách dân chủ.
*. Tiến hành bồi dưỡng.
- Kiểm tra khả năng nắm kiến thức cơ bản của học sinh.
Sở dĩ phải có bước này bởi một yêu cầu đối với học sinh giỏi là phải nắm
vững kiến thức cơ bản cái gọi là phần nền, rồi mới mở rộng kiến thức và những
hiểu biết ngoài xã hội. Đây là biện pháp có tính phương pháp, thậm chí gần như
một nguyên tắc trong dạy học cho học sinh giỏi.
- Cung cấp những kiến thức về pháp luật và hiểu biết xã hội.
+ Kiến thức về pháp luật.
Qua một số năm giảng dạy, tôi nhận thấy, ở lớp 8 và lớp 9 học sinh được
học những kiến thức về pháp luật. trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện và
thành phố thì kiến thức về pháp luật cũng chiếm số điểm khá nhiều trong bài thi.

Có thể cụ thể hóa mức độ nhận biết bằng các yêu cầu:
- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất.
- Nhận dạng (không cần giải thích) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối
giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản.
- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố,
các hiện tượng.
b. Thông hiểu:
Là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện
tượng; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện
tượng; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu
hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái
niệm,thông tin mà học sinh đã học hoặc đã biết. Điều đó có thể được thể hiện
bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích
thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai
( dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng).
Có thể cụ thể hóa mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu:
8


- Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân các khái niệm, định lí, định luật, tính chất,
chuyển đổi từ hình thức ngôn ngữ này sang ngôn ngữ hình thức khác( ví dụ từ
lời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngượi lại).
- Biểu thị, minh họa, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, định
nghĩa, định luật, định lí.
- lựa chọn, bổ sung, sắp xếp, lại những thông tin cần thiết để giải quyết một số
vấn đề nào đó.
- Sắp xếp lại các ý trả lời câu hỏi hoặc lời giải bài toán theo cấu trúc lôgic.
c. Vân dụng:
Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới:
vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng

Là khả năng xác định giá trị của thông tin : bình xét, nhận xét, xác định
được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức, một phương pháp. Đây là
một bước mới trong lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản
chất của sự vật, hiện tượng. Việc đánh giá dựa trên các tiêu trí nhất định; đó có
thể là các tiêu trí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp
với mục đích).
Yêu cầu xác định được các tiêu chí đánh giá ( người đánh giá tự xác định
hoặc được cung cấp các tiêu trí) và vận dụng được để đánh giá.
Có cụ thể hóa mức độ dánh giá bằng các yêu cầu:
- Xác định được các tiêu chí đánh giá và vận dụng để đánh giá thông tin, sự vật,
hiện tượng, sự kiện.
- Đánh giá, nhận định giá trị của thông tin, tư liệu theo một mục đích, yêu cầu
xác định.
- Phân tích những yếu tố, dữ kiện đã cho để đánh giá sự thay đổi về chất của sự
vật, sự việc.
- Đánh giá nhận định được giá trị của nhân tố mới xuất hiện khi thay đổi các mối
quan hệ cũ.
Các công cụ đánh giá có hiệu quả phải giúp xác định được kết quả học tập
ở mọi cấp độ nói trên để đưa ra một nhận định chính xác về năng lực của người
được đánh giá về chuyên môn liên quan.
e. Sáng tạo:
Là khả năng tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin; khai thác, bổ sung
thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới.
Yêu cầu tạo ra được một hình mẫu mới, một mạng lưới các quan hệ trừu
tượng ( sơ đồ phân cấp thông tin). Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn
mạnh vào các hành vi, năng lực sáng tạo, đặc biệt là trong việc hình thành các
cấu trúc và mô hình mới.
Có thể cụ thể hóa mức độ sáng tạo bằng các yêu cầu sau:
- Mở một mô hình ban đầu thành mô hình mới.
- Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ, cụ thể thành vấn đề tổng quát mới.

đâu là hình thức của pháp luật. Cần lưu ý 3 yêu cầu trong giờ dạy:
- Cung cấp, củng cố kiến thức pháp luật cho học sinh.
- Bồi dưỡng tình cảm pháp luật cho học sinh.
- Rèn kỹ năng, thói quen chấp hành pháp luật ở học sinh.
Vì Thực hiện mục đích dạy pháp luật là dạy hiến pháp để nâng cao hiểu
biết, ý thức thực hiện pháp luật của công dân, góp phần xây dựng Nhà nước
pháp quyền. Mọi người sống và làm việc theo pháp luật, đảm bảo kỷ cương, trật
tự xã hội, tiến tới gia đình hạnh phúc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ và văn minh.
* Giảng dạy bộ môn GDCD phải làm rõ mối quan hệ qua lại giữ đạo đức và
pháp luật. Đạo đức là cơ sở, tiền đề cho học sinh nắm bắt pháp luật, còn pháp
luật nhằm củng cố, bảo vệ và làm rõ thêm các chuẩn mực đạo đức.
* Xác định được nội dung thi học sinh giỏi.
- Lớp 6 (2 điểm): các câu hỏi trắc nghiệm về luật an toàn giao thông đường bộ,
hoặc các quyền cơ bản của công dân mà các em được học trong chương trình
THCS.
- Lớp 7 (3 điểm): Các bài về pháp luật.
- Lớp 8 (6 điểm): - Phần đạo đức (3 điểm).
- Phần pháp luật (3 điểm).
- Lớp 9 (9 điểm): - Phần đạo đức (2 điểm).
- Phần pháp luật (4 điểm).
- Bài tập tình huống (3 điểm).

11


Nội dung thi là kiến thức toàn cấp THCS môn GDCD. Đối với các bài
trong nội dung giảm tải (chuyển sang đọc thêm hoặc ngoại khoá) có liên quan
đến các vấn đề và kiến thức cơ bản vẫn có thể đưa vào nội dung thi học sinh giỏi
(một số nội dung đã giảm tải trong các bài không nằm trong chương trình thi).

Qua những lời tâm sự của học sinh, tôi đã phần nào thấy được vai
trò của việc tạo hứng thú trong tiết học cho các học sinh có sức ảnh hưởng đến
động cơ học tập của các em.
2.3.4 Các bước luyện đề:
12


Sau khi học sinh nắm vững kiến thúc trọng tâm là khâu luyện đề, luyện càng
nhiều càng tốt vì hệ thống đề vô cùng phong phú và đa dạng gúp các em làm
quyen với nhiều dạng đề cụ thể, mỗi một lần làm đề sẽ giúp các em nhớ và khắc
sâu được kiến thức hơn.
Giáo viên ra đề thi tương đương đề thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh bám
theo cấu trúc hằng năm của Sở giáo giục và đào tạo ban hành.
- Cùng học sinh tìm hiểu đề, tìm ý của từng câu trong đề để học sinh làm
quen dần khi học sinh năm vững giáo viên có thể để học sinh tự xác định. Chú ý
dù đề khó hay dễ không được mất bình tĩnh vì khó là những đề đánh lừa nên cần
đọc lại đề nhiều lần sẽ biến khó thành dễ bởi đề không bao giờ ra ngoài chương
trình học. Nếu đề dễ cũng không được chủ quan vì chủ quan sẽ dẫn đến hấp tấp
dẫn đến làm sai đề thiếu ý đễ mất điểm.
-Hướng dẫn HS biết tự lập dàn ý cho từng dạng bài cụ thể một cách thành
thạo.
- Giáo viên viết mẫu hoặc đọc cho học sinh nghe những cách làm hay để các
em trau dồi và nắm vững kiến thức.
- Giáo viên cho học sinh tự làm bài theo dàn ý đã lập sẵn.
- Giáo viên chấm và sửa trên tờ giấy thi của các em. Khâu này hết sức quan
trọng bởi các em sẽ biết mình đã đạt mức độ nào để rút kinh nghiệm sữa lỗi và
phát huy mặt đạt được.
- Có thể cho học sinh chấm chéo bài của nhau, làm như vậy các em sẽ học
tập lẫn nhau chất lượng đội tuyển dần nâng lên đều.
2.3.5 Cho học sinh thi thử đề các năm cũ hoặc đề tương đương đề học sinh

tính chí công vô tư chúng ta cần phải làm gì?
Câu 6: (4,0 điểm)
Hợp tác là gì? Tại sao phải hợp tác quốc tế? Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta
về vấn đề này như thế nào? Là học sinh em cần phải làm gì để góp phần hợp tác
quốc tế?
Câu7 (3,0 điểm)
Trên đường đi học về Nam nhặt được một chiếc ví trong đó có một số tiền và
giấy tờ tùy thân của chủ chiếc ví, Nam liền lấy tiền đó vào quán chơi điện tử còn
giấy tờ thì vứt đi và nghĩ rằng đây là chiếc ví mình nhặt được chứ có phải ăn cắp
đâu mà sợ.
Theo em hành động và suy nghĩ của Nam như vậy đúng hay sai? vì sao?
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu1 (2,0 điểm)
1. Hiệu lệnh và chỉ dẫn. (0,5đ)
2. Người tham gia giao thông.(0,5đ)
3. Cố định. (0,5đ).
4. Đèn tín hiệu. (0,5đ)
Câu 2: (3,0 điểm)
- Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào một cái gì đó thần bí hư ảo, vô hình.
VD: Thần linh, thượng đế, chúa trời....(0,5đ)
- Tôn giáo là một hình thức có tổ chức, với những quan niệm giáo lý thể hiện rõ
sự tín nghưỡng, sùng bái thần linh và những hình thức thể hiện sự sùng bái ấy.
VD: Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa, Đạo Tin Lành.......(0,5đ)
- Pháp luật nước ta quy định: Đảng, nhà nước ta luôn quan tâm đến tôn giáo, đã
đưa ra những chủ trương chính sách thích hợp với tôn giáo trong từng thời kỳ
lịch sử, điều đó được thể hiện:
14


+ Tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của dân, bảo đảm cho các tôn

pháp luật Việt Nam. Mọi văn bản pháp luật khác đều được xây dựng, ban hành
trên cơ sở các qui định của Hiến pháp, không được trái với Hiến pháp.(1,0 đ)
- Từ khi thành lập nước (8/1945) đến nay, nhà nước ta đã ban hành năm bản
Hiến pháp: (1,0 đ)
Hiến pháp năm 1946
Hiến pháp năm 1959
Hiến pháp năm 1980
15


Hiến pháp năm 1992.
Hiến pháp năm 2013
- Mỗi bản Hiến pháp ra đời đánh dấu một thời kỳ, một giai đoạn phát triển của
cách mạng Việt Nam, khẳng định những thắng lợi đã đạt được đồng thời đề ra
phương hướng, đường lối xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới
(1,0 đ)
Câu 5: (2,0 điểm)
- Chí công vô tư là phẩm chất đạo đức của con người, thể hiện sự công bằng,
không thiên vị, giải quyết công việc theo lẽ phải, xuất phát từ lợi ích chung và
đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.(0,5 đ)
- Ý nghĩa: chí công vô tư đem lại lợi ích cho tập thể và cộng đồng xã hội, góp
phần làm cho đất nước giàu mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.(0,5 đ)
- Để rèn luyện đức tính này chúng ta cần: (1,0đ) HS có cách trả lời khác nhau.
+ Có thái độ ủng hộ, quý trọng người sống chí công vô tư.
+ Phê phán những hành động vụ lợi, thiếu công bằng trong giải quyết công
việc.....
Câu 6: (4,0 điểm)
- Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ hỗ trợ lẫn nhau trong công việc,
lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.(0,5đ)
- Thế giới đang đứng trước những vấn đề bức xúc có tính toàn cầu như: Môi

Quy định thời gian làm bài rất quan trọng: Phân bố thời gian hợp lí giữa
các câu, thời gian làm phù hợp với số điểm của câu đó tránh mất thời gian của
câu khác. Làm bài không được bỏ giở mà phải căn thời gian làm bài cho xong
hết các câu.
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy và đã từng ôn luyện đội tuyển nên cũng mạnh
dạn đưa ra một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi của riêng cá nhân tự cảm
thấy có ích, tâm đắc và vững vàng hơn trong chuyên môn, thấy tự tin với đóng
góp nhỏ bé của mình vào sự nghiệp trồng người. Điều đặc biệt hơn là học sinh
rất thích học, các em ý thức được tầm quan trọng của môn GDCD biết cách học,
làm bài đúng cách, biết tự lập dàn ý trước khi viết, biết vận dụng kiến thúc đã
học để giải quyết tình huống. Kết quả qua các kì thi cũng chuyển biến rõ rệt, cụ
thể kết qua các cuộc thi học sinh giỏi các năm gần đây như sau:
Năm học
Kết quả
2011- 2012 02 học sinh đạt giải khuyến khích cấp thành phố
02 học sinh đạt giải cấp thành phố. Trong đó có 01 giải nhì, 01 giải
2012- 2013

khuyến khích.

Cấp tỉnh có 01 học sinh đạt giải khuyến khích
2013- 2014 02 học sinh đạt giải khuyến khích cấp thành phố
2014- 2015 03 học sinh đạt giải ba cấp thành phố
2016- 2017 01 học sinh đạt giải khuyến khích cấp thành phố
2018- 2019 02 học sinh đạt giải khuyến khích cấp thành phố lớp 9.
*PHIẾU KẾT QUẢ ĐIỀU TRA HỨNG THÚ HỌC MÔN GDCD CỦA
HỌC SINH LỚP 9C NĂM HỌC 20187- 2018.
Lớp 9C – sĩ số
Trước khi áp dụng sáng

+ Cần tạo ra nhiều sân chơi bổ ích, gây hứng thú, say mê môn học GDCD cho
các em: Câu lạc bộ đôi bạn cùng tiến, giáo dục giới tính vị thành niên, giáo dục
kĩ năng sống, câu lạc bộ an toàn giao thông……
*Với nhà trường.
Thường xuyên kiểm tra việc bồi dưỡng của giáo viên, tổ chức thi chọn
đội tuyển từ đầu cấp, hàng tháng chuyên môn nhà trường cần liên hệ với các
trường bạn trong huyện thi kiểm tra để đánh giá năng lực ôn luyện của các em,
đồng thời kết hợp việc chấm chéo giữa các trường để giáo viện trực tiếp dạy có
thể đánh giá quá trình mình dạy tiến bộ đến đâu cần bổ xung những gì.
Trên đây là một số kinh nghiệm về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
lớp 9 của bản thân đúc rút trong thời gian trực tiếp ôn luyện tại trường THCS
Tần Phú Thành Phố Thanh Hóa. Rất mong được sự góp ý của các đồng nghiệp
để đề tài đạt kết quả tốt hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết không sao chép nội dung của người khác.
Tác giả
18


Nguyễn Thị Hương

TÀI LIÊU THAM KHẢO
1 .Sách giáo khoa GDCD 6; 7; 8; 9. Nhà xuất bản giáo dục .
2. Sách giáo viên GDCD 6; 7; 8; 9. Nhà xuất bản giáo dục.
3. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn GDCD trung học cơ sở Nhà xuất bản giáo dục.
19


Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)
Loại B

Năm học
đánh giá xếp
loại
2007- 2008

Loại B

2009- 2010

PGD & ĐT
Loại B
Thành phố Thanh
Hóa

2017- 2018

trong dạy học môn Ngữ văn ở
trường THCS Sơn Điện huyện
3.

Quan Sơn
Một vài kinh nghiệm phân biệt sự
khác nhau giữa thành ngữ và tục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status