SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT MƯỜNG LÁT
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC Ý THỨC GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT MƯỜNG
LÁT QUA CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM
Người thực hiện: Phạm Văn Tuyển
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Công tác chủ nhiệm
THANH HÓA NĂM 2019
MỤC LỤC
1. Mở đầu……………………………………………………………………….2
1.1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………………....2
1.2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………..3
1.3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………3
1.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………3
2. Nội dung………………………………………………………………………3
2.1. Cơ sở lí luận…………………………………………………………………3
2.2. Thực trạng…………………………………………………………………..4
2.3. Biện pháp, cách thức thực hiện……………………………………………..7
2.3.1. Giáo viên nghiên cứu tìm hiểu tâm sinh lí học sinh……………………....7
2.3.2. GVCN cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về vẻ đẹp văn hóa
của các dân tộc………………………………………………………………….8
2.3.3. Tổ chức hoạt động ngoài giờ, hoạt động tập thể………………………...11
đồng, một dân tộc, một quốc gia. Khiến cho cộng đồng ấy, quốc gia ấy, dân tộc
ấy mang trong mình những nét đặc thù riêng, không thể bị pha trộn. Chính vì
vậy, bản sắc văn hóa chính là linh hồn, là ngọn đuốc sống để phân biệt dân tộc
này với dân tộc khác.
Hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập, giao lưu quốc tế không
chỉ về kinh tế mà còn về chính trị, xã hội, văn hóa, lối sống… Hội nhập tạo ra
nhiều cơ hội mới để phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều thách thức. Trong
đó nguy cơ mất bản sắc văn hóa dân tộc là cấp bách nhất trước các dòng văn hóa
ngoại lai. Chính vì vậy làm thế nào để giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc
trong thời kỳ hội nhập và mở cửa, phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc, biến
văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh để phát triển đất nước với phương châm “
hòa nhập mà không hòa tan” là một vấn đề quan trọng cần phải nghiên cứu để có
những định hướng đúng đắn trên con đường phát triển chung của đất nước.
Là một giáo viên trẻ đang công tác tại huyện vùng cao biên giới- Mường
Lát- Thanh Hóa, cư dân ở đây chủ yếu là các dân tộc thiểu số( có 6 dân tộc cùng
sinh sống là Thái , H’Mông, Dao, Khơmú, Mường, và một số ít người dân tộc
Kinh), ngoài những nét chung trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa mỗi dân
tộc lại có những sắc thái văn hóa riêng được hình thành từ thời kỳ lịch sử xa
xưa. Vì vậy giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc là một việc làm quan trọng và
thiết thực đối với thế hệ trẻ nơi đây.
Trường THPT Mường Lát đóng chân trên địa bàn vùng biên giới với
nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch không hề từ bỏ âm mưu phá hoại
chúng ta đặc biệt là văn hóa. Chính vì vậy giáo dục học sinh ý thức giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc là một việc làm quan trọng. Trách nhiệm này đặt lên vai tất
cả các thầy cô nhưng quan trọng nhất là vai trò của người giáo viên chủ nhiệm
lớp.
Qua thực tế 8 năm giảng dạy tại trường cũng là từng ấy thời gian đảm
nhiệm công tác chủ nhiệm và quản lý khu ký túc xá nhà trường, tôi nhận thấy
được tầm quan trọng của việc giáo dục học sinh ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc cho thế hệ trẻ Mường Lát nói chung và học sinh trường THPT Mường
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về
mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh
đó tức là văn hóa”[2]. Định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa
cụ thể và đầy đủ hơn. Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều
“vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, những hoạt động sống đó trải
qua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán,
chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được tích
lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng quý giá mang bản sắc
riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại.
Như vậy, có thể nói văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình
4
tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa là của con
người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người. Văn hóa được con
người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác.
Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng
đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, là tổng hợp tất cả các khía cạnh của
cuộc sống. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang
những dấu hiệu của văn hóa. Văn hóa không phải mang trong mình những giá trị
cố định, bất biến mà văn hóa luôn phát triển theo lịch sử.
Bản sắc văn hóa dân tộc là những sắc thái gốc, những đường nét, màu sắc
riêng biệt không thể trộn lẫn của một nền văn hóa. có thể nói bản sắc văn hóa
chính là “ thẻ căn cước” cho mỗi dân tộc, để phân biệt dân tộc này với dân tộc
khác.
Hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển, vì vậy phải
chuẩn bị cho mình đầy đủ những năng lực nội sinh cần thiết để “ hòa nhập mà
những người hoạn nạn… trở thành phong trào quần chúng góp phần giữ gìn bản
sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế; sự nghiệp giáo dục cũng thu được
những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao trình độ học vấn của nhân dân.
Trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, các hoạt động sáng tạo cũng có bước phát
triển mới. Nhiều bộ môn nghệ thuật truyền thống được gìn giữ…
Bên cạnh những mặt tích cực trên, thì hội nhập quốc tế cũng có những tác
động tiêu cực đến sự giữ gìn bản sắc dân tộc của nước ta hiện nay như:
- Những biến động chính trị phức tạp trên thế giới, nên có nhiều phần tử
phản động tuyên truyền nhảm tạo nên sự hoài nghi về con dường xã hội chủ
nghĩa, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, phủ nhận những
thành quả của cha ông trong quá trình lịch sử, phủ nhận, xuyên tạc vai trò lãnh
đạo của Đảng… chính điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc ở nước ta, tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị
văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, vị kỷ… gây hại đến
thuần phong mĩ tục của dân tộc.
- Không ít trường hợp vì đồng tiền, danh lợi mà chà đạp lên tình nghĩa gia
đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp, suy thoái đạo đức lối sống..
- Các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, mê tín dị đoan… vẫn còn tồn
tại.
- Sự suy thoái đạo đức lối sống, nạn tham những, qua lưu cửa quyền..
Nhìn chung, thực trạng những năm gần đây không chỉ thành thị mà cả
những vùng nông thôn, điều kiện sinh hoạt và phong tục lối sống đang có những
thay đổi lớn, có những yếu tố được tiếp thu theo hướng tích cực nhưng có cũng
nhiều yếu tố tiêu cực, trái với thuần phong mĩ tục của cha ông. Vì vậy giáo dục
thế hệ trẻ ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là một việc làm thiết thực và
quan trọng.
Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện chânthiện-mĩ, thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh, giáo dục cho người học thấm nhuần các nguyên tắc và chuẩn
mực đạo đức do xã hội qui định về lối sống, phong cách, thái độ ứng xử trong
cộng đồng như lòng yêu nước, ý thức dân tộc. Như vậy , trước tình trạng văn
học sinh trốn tránh việc mặc sắc phục dân tộc dưới mọi hình thức, các em không
biết hoặc rất mơ hồ về phong tục tập quán của dân tộc mình như lế hội, điệu
múa, hát, các trò chơi, đầu tóc, trang phục không phù hợp với học sinh, hút
thuốc, nói tục, thiếu văn hóa khi tham gia giao thông…
Trong quá trình giảng dạy và gắn bó với các em qua công tác chủ nhiệm
và quản lí khu kí túc xá học sinh tôi đã nắm được các nguyên nhân dẫn đến tình
trạng nói trên:
- Trước hết, các em chưa ý thức được tầm quan trọng, ý nghĩa thiêng liêng
của các bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc mình.
- Các em không thích mặc sắc phục dân tộc vì nó bất tiện, vướng víu lại
không mốt, không hiện đại. Mặt khác, để may được một bộ sắc phục tốn kém
không ít công sức và tiền bạc.
- Trong quá trình học tập và chung sống với nhiều dân tộc khác nhau nên
các em rất dễ ảnh hưởng cách sống, cách nghĩ của nhau ( một em không thực
hiện sẽ kéo theo nhiều em khác không thực hiện theo).
- Bản thân gia đình của các em cũng không coi trọng việc giáo dục con
em mình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
- Những ảnh hưởng, tác động quá lớn của lối sống hiện đại đặc biệt là
công nghệ thông tin, sự cám dỗ, hấp dẫn của mạng xã hội, trò chơi điện tử, phim
ảnh không lành mạnh.
- Môi trường giáo dục nhà trường chưa đồng bộ. Vì đặc thù không phải là
trường nội trú nên chưa có giáo viên chuyên biệt trong việc quản lí học sinh mà
7
chủ yếu là giáo viên làm công tác kiêm nhiệm. Mặt khác giáo viên chủ yếu đầu
tư vào vấn đề chuyên môn nên không chú trọng tìm hiểu các phong tục tập quán,
bản sắc văn hóa các dân tộc đẻ giáo dục học sinh. Chính vì vậy, có những lúc
vấn đề giáo dục học sinh ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc vẫn còn bị bỏ
ngõ.
sắc dân tộc cho học sinh, tôi cố gắng học tiếng của các em về các cách giao tiếp,
chào hỏi.
Tôi nhận thấy trong những năm qua, mặc dù nhà trường đã đưa ra nhiều
nội quy, quy định để học sinh thực hiện tốt nhằm xây dựng một môi trường học
tập thân thiện, văn minh. Phần lớn các em đều đã thực hiện rất tốt, nhưng vẫn
còn một bộ phận học sinh cố tình vi phạm như không thực hiện sắc phục vào thứ
2 đầu tuần và ngày lễ, nói tục, đầu tóc, trang phục, tác phong không đúng quy
định, hút thuốc lá, chưa thực hiện tốt văn hóa giao thông… Nắm bắt được đặc
8
điểm tâm lí của học sinh Mường Lát, tôi thường đưa ra các biện pháp mềm
mỏng, chủ yếu là giáo dục, khuyên răn, tuyên truyền, thuyết phục từ đó các em
tự nguyện làm theo.
2.3.2. Giáo viên chủ nhiệm cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về nét
đẹp văn hóa của các dân tộc, vai trò quan trọng của việc giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc.
Mỗi dân tộc đều có những nét riêng, nét đặc trưng về văn hóa. Nó không
đơn giản sinh ra và tồn tại đến ngày nay mà đó là cả quá trình trong lịch sử của
cha ông. Có khi phải trả giá bằng xương máu và tính mạng. Vì vậy các thế hệ
con cháu phải biết trân quí và gìn giữ. Tuy nhiên không phải học sinh nào cũng
nhận thấy điều đó ngay được mà phải giáo dục các em.
Để thực hiện được nhiệm vụ này, trong các giờ sinh hoạt đầu tuần, tôi kể
cho học sinh nghe về các nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân
các dân tộc Thái, Mường, Dao, Khơ mú….
Bám sát các tiết sinh hoạt đầu giờ hàng ngày, tôi phân ra như sau: Thứ 3,
5, 7 tôi sẽ cung cấp cho học sinh một số kiến thức về trang phục truyền thống
của các dân tộc, điệu múa, điệu hát, trò chơi, lễ hội… Thứ 4, 6 tôi cho học sinh
tập hát một số bài hát của các dân tộc: Thái, Mông, Dao…
Ví dụ 1: Tôi kể cho học sinh nghe về trang phục của người Thái ( chiếc
hoặc vải dệt, trang điểm thêm bằng chùm dây xà tích bạc trắng, đeo quả đào,
nhưng đuôi thắt lưng người Thái ở Thanh Hóa để vuông, dài hơn.
Chiếc khăn piêu của người Thái Thanh Hóa là sự kết hợp độc đáo, khéo
léo giũa màu sắc và hoa văn: màu xanh của núi rừng, vàng của ánh trăng,
nương lúa, màu trắng hồng của của hoa thơm”.( Phụ lục 1)
Sau đó tôi nhấn mạnh: Nhìn vào trang phục của người phụ nữ ( đặc biệt
là chiếc khăn piêu) người ta có thế đánh giá được tài năng và phẩm hạnh của
người phụ nữ, đánh giá được người phụ nữ đó có được dạy dỗ đàng hoàng hay
không, tính tình siêng năng hay không. Người phụ nữ Thái khi đi lấy chồng phải
có trang phục, chăn gối do tự tay thêu đặc biệt là chiếc khăn piêu. Trong đời
sống tình cảm, chiếc khăn piêu là minh chứng tình yêu đặc biệt của đôi lứa. Từ
đó giáo dục cho học sinh ý thức trân trọng và thực hiện nghiêm túc trang phục
truyền thống của dân tộc mình là thể hiện tình yêu của mình đối với bà, mẹ,
người phụ nữ đã dệt nên những trang phục này.
Ví dụ 2: Tôi kể cho học sinh nghe về trang phục truyền thống dân tộc
H'Mông: “Dân tộc H'Mông có trang phục truyền thống hết sức cầu kì và sặc sỡ,
thường làm bằng vải lanh với nhiều màu sắc nổi bật cùng hoa văn đa dạng, cầu
kì. Một bộ trang phục hoàn chỉnh thường gồm áo xẻ cổ, váy xòe xếp ly, xà cạp
và mũ đội đầu. Nữ phục H'Mông rất đẹp và nổi bật, họ thường đính kèm các
đồng xu, chuỗi hạt trên trang phục để tăng tính thẩm mỹ cũng như thể hiện các
ý chí tâm linh truyền thống. Trang phục người Mông Hoa và Mông Trắng thì
hoa văn chủ yếu tập trung trên lưng áo, đó là các họa tiết thổ cẩm hình chữ
nhật, hình thoi,... Còn trang phục phụ nữ Mông Đen, Mông Đỏ thì họa tiết tập
trung ở vùng tay áo và trước ngực. Váy của họ là váy xòe xếp ly, thường là màu
trắng, đai thắt lưng dài có màu nổi bật như xanh, hồng,... Đi kèm với váy là xà
cạp được thiết kế tỉ mỉ với các đồng xu bạc trang trí”.( Phụ lục 2).
Ví dụ 3: Trang phục truyền thống dân tộc Dao : “ Phụ nữ Dao rất coi
trọng ăn mặc, trang phục của họ được may tỉ mỉ từng đường kim mũi chỉ, từ
khâu dệt tới nhuộm vải rồi thêu hoa văn đều rất cầu kì và công phu. Một bộ
trang phục hoàn chỉnh gồm áo, mũ, quần, thắt lưng và xà cạp quấn chân. Áo
dân gian sáng tác truyền miệng từ đòi này qua đời khác. Khặp Thái cơ bản là
thống nhất thế nhưng vẫn mang dấu ấn riêng của mỗi người Thái, địa bàn cư
trú, dân tộc mỗi vùng miền. Khặp Thái ở Thanh Hóa có hai dạng chủ yếu là
khặp truyền thống và khặp mới, thường được mở đầu nằng câu “ yêu đu nặng
ne lá noong ơi” . Đối với khặp truyền thống có nhiều dạng hát như hát thơ, hát
kể chuyện thơ, hát gọi, hát tiễn rể, đón dâu, hát trai gái giao duyên, hát đố, hát
ru con. Do sinh sống ở miền núi với đặc điểm tự nhiên, địa bàn cư trú, phương
thức sản xuất, tâm lí, tính cách con người và âm điệu ngôn ngữ mà sản sinh
những là điệu khặp phong phú và đặc sắc. Trong các bài khặp, thế giới tự nhiên
đã được người hát cảm nhận, phản ánh hồn nhiên trong sáng, giàu cảm xúc và
ngân lên thành lời hát. Ngoài ra khặp Thái còn dành nhiều lời ca ngợi về quê
hương, bản làng mà ông cha đã trãi qua nhiêu gian khó, bỏ ra nhiều công sức
để bảo vệ xây dựng”
Ví dụ 2: Dân ca H’Mông như: bình minh trên đỉnh núi, ru con, tình Bác
tỏa sáng núi rừng, dừng chân, đừng đi em ơi, người H’ Mông nhớ ơn Đảng, Bác
Hồ… Dân ca của dân tộc Mông là những bài hát do đồng bào tự sáng tác và
được lưu truyền từ lâu đời. Dân ca có nhiều loại, hiện nay còn lưu giữ được một
số loại hình dân ca như: Hát trong sinh hoạt có: hát ru, hát vui chơi của trẻ em;
hát mang tính nghi lễ có: Hát lên nhà mới, hát trong đám cưới, hát tiễn đưa
hồn..; hát giao duyên, hát than thân... Ngay từ lúc mới sinh ra, trẻ em người
Mông đã được đắm mình trong cái nôi văn hoá cộng đồng với những làn điệu
dân ca nói về cuộc sống, xây dựng bản làng. Những bài hát dân ca không chỉ
thể hiện bằng lời mà còn có thể giãi bày thông qua những nhạc cụ như: sáo,
khèn, kèn lá, đàn môi.
11
Trong các làn điệu dân ca Mông thì các làn điệu hát đối đáp của trai gái
đặc sắc hơn với hàng trăm bài. Khi trên nương, dưới ruộng, gặp nhau tại các
chợ phiên, đám cưới… các chàng trai dùng lời ca, tiếng hát để bày tỏ tình cảm,
thường ngày nhưng các em chưa nhận thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa thiêng
liêng của nó. Sau khi được tiếp nhận các kiến thức về các nét đẹp văn hóa đó các
em sẽ chú ý hơn, quan tâm hơn, tự hình thành cho mình ý thức trân trọng, giữ
gìn mà không cần phải dùng đến các nội qui qui định.
2.3.3. Tổ chức các hoạt động ngoài giờ, hoạt động tập thể theo chủ đề giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Để giáo dục học sinh ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong 15 phút
sinh hoạt đầu giờ hàng ngày và tiết sinh hoạt cuối tuần thì chưa đủ. Vì vậy để
hình thành cho các em những kiến thức những hiến thức về văn hóa một cách cơ
12
bản và có tính hệ thống nhất từ đó tác động mạnh đến thói quen, lối sống của các
em thì tôi thường lồng ghép nội dung ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động của nhà trường trong các
ngày lễ lớn…
Trong quá trình dạy học, hoạt động GDNGLL nói chung có một vị trí hết
sức quan trọng, nó có tác dụng mạnh tính tổng hợp, làm sâu sắc và phong phú
kiến thức của học sinh về các mặt khác nhau của đời sống xã hội, góp phần
mang lại hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập. Thông qua hoạt động
GDNGLL những cá tính, phẩm chất ý thức, khuynh hướng của học sinh được
bộc lộ rõ nét. Ví dụ có những học sinh thích chơi trò chơi, hát, diễn kịch…Có
những học sinh rất hứng thú, say mê với việc tìm tòi, nghiên cứu kiến thức. Đặc
biệt hoạt động GDNGLL đã gắn việc học tập với đời sống, tạo cho các em ý
thức trách nhiệm trong hoạt động phục vụ xã hội, đặc biệt là với các vấn đề
mang tính “thời sự. Đây là điều kiện quan trọng để giáo dục cho học sinh thế
giới quan khoa học, đạo đức tư tưởng và có cái nhìn đúng đắn hơn về bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung, của dân tộc mình nói riêng, từ đó hình
thành ý thức trách nhiệm của bản thân đối với đất nước hiện nay trong việc giũ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Các em học sinh rất hứng thú với các tiết mục văn nghệ, nhiệt tình, hăng
hái luyện tập. Qua các tiết mục đó tôi giáo dục học sinh thái độ trân quý và hành
động giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của mình.
Ví dụ 2: Chào mừng ngày 26/3: Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ chí
Minh.
Tháng 3 không chỉ là tháng trọng điểm của học kì II mà còn là tháng diễn
ra các hoạt động sôi nổi thi đua chào mừng ác ngày lễ lớn như ngày 8/3, 26/3.
Nên ngay từ đầu tháng, tôi không chỉ hướng dẫn lớp tham gia các hoạt động thi
đua do Đoàn trường phát động mà còn xây dựng chương trình cụ thể nhằm giáo
dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho học
sinh như tổ chức cho học sinh ném kòn, ném pao, bắn nỏ cho học sinh.
Để tham gia cuộc thi mỗi lớp chuẩn bị 5 còn, 5 pao và cử 3 nam, 3 nữ thi
bắn nỏ
- Đối với môn ném kòn ( là trò chơi dân gian truyền thống của dân tộc
Thái, thường được tổ chức trong các dịp lễ tết) : Học sinh nữ chuẩn bị 5 còn, học
sinh nam chuẩn bị dựng cây nêu ( làm bằng tre, cao 15m, phía trên có một vòng
tròn để làm đích ném. Địa điểm thi ném còn là sân trường, mỗi lớp ném 5 quả
còn, lớp nào ném trúng nhiều nhất thì chiến thắng.( Phụ lục 4)
- Ném pao được xem là trò chới dân gian truyền thống đặc sắc của dân
tộc Mông ở Thanh Hóa nói riêng, Tây Bắc nói chung. Ném pao được tổ chức ở
sân trường, mỗi lớp cử 5 nam, 5 nữ chia thành 2 đội đứng cách nhau 5m. Đội
nào có số lần ném và bắt pao được nhiều nhất sẽ là đội thắng cuộc ( Phụ lục 5).
- Bắn nỏ là môn thể thao truyền thống của các chàng trai, cô gái vùng cao,
mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc ( cả dân tộc Thái, Mông, Dao…).
+ Hình thức thi đấu 4 nội dung:
. Cá nhân nam: Đứng bắn
. Cá nhân nữ: Đứng bắn
. Cá nhân nam: Quỳ bắn.
. Cá nhân nữ: Quỳ bắn.
Mỗi vận động viên thi trực tiếp 1 lần bắn ở một tư thế ( đứng bắn, quỳ
hàng ngày, tôi thường gặp gỡ , trò chuyện trao đổi, nhắc nhở các em trong cách
đi đứng, chào hỏi, ăn mặc, giữ gìn vệ sinh chung.
Tôi lên thời gian biểu cho các em như sau: Từ 17h đến 19h30 là thời gian
các em được phép xem ti vi các nội dung văn hóa, phim ảnh, thời sự…tại phòng
sinh hoạt chung, sau đó tổ chức cho các em tự học ở nhà: đúng 19h30, học sinh
ngồi vào bàn học, 22h30 đi ngủ. Sáng mai 5h, các em dạy vệ sinh cá nhân, tâp
thể dục và dọn dẹp vệ sinh khu vực ký túc xá.
Thường xuyên tổ chức cho các em hát các bài hát của dân tộc mình, thăm
và dọn dẹp vệ sinh nghĩa trang liệt sĩ huyện, thăm cột mốc biên giới Việt – Lào,
tổ chức các chuyến đi thực tế xuống các bản để các em hiểu thêm về cuộc sống
của nhân dân các bản khác mình, tìm hiểu về đời sống phong tục của người dân,
nghề dệt vải, chăn tằm, ươm tơ,…( Phụ lục 6).
Từ những chuyến đi ấy, học sinh thêm tự hào và yêu thương những phong
tục vốn có của mình.
Đối với những học sinh cố tình vi phạm nội quy nhà trường về trang phục,
đầu tóc, nếp sống, tác phong, lời nói thô tục, tôi kết hợp với Ban nề nếp nhà
trường giáo dục các em bằng cách xiết chặt hơn nữa nội quy, nề nếp đã qui định
( thứ 2 đầu tuần và các ngày lễ mặc sắc phục dân tộc, không được cắt tóc kiểu,
không nhuộm tóc, trang điểm đến trường, không nói tục chửi bậy, yêu thương
bạn bè, lễ phép với thầy cô…).
15
2.3.4. Kết hợp với gia đình trong việc giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc.
Gia đình, nhà trường, xã hội là ba môi trường liên kết, gắn bó chặt chẽ với
nhau trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân. Gia
đình giữ vai trò quan trọng quyết định trực tiếp tới mặt tự nhiên và xã hội của
mỗi con người. Thông qua gia đình, mỗi cá nhân sẽ tự hoàn thiện hơn cả về mặt
tự nhiên và xã hội.
em viết chữ, mặc trang phục của dân tộc mình, dạy cho các em ít nhất một nghề
truyền thống như: dệt vải, làm gốm, thêu thùa, đan lát, trồng dâu nuôi tằm…,
dạy cho các em các bài hát điệu múa của dân tộc mình, đưa các em tham gia lễ
hội, chợ tình hàng tháng…
16
Ngoài ra, tôi còn tổ chức cho học sinh trong lớp đến thăm đại diện gia
đình học sinh ở một số bản người Thái ở Quang Chiểu, người Mông ở bản Pá
Hộc- Pù Nhi, người Dao ở Hạ Sơn- Pù Nhi, người Khơ Mú ở Đoàn Kết- Tén
Tằn…ngoài mục đích tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của các em tôi còn hướng cho
học sinh tìm hiểu thêm về phong tục, đạo đức, lối sống, truyền thống văn hóa
của từng gia đình để các em được quan sát thực tế, giáo viên cũng được hiểu biết
thêm về bản sắc văn hóa chung của mỗi dân tộc thông qua các gia đình. Hoặc
giáo viên có thể nhờ ban đại diện phụ huynh học sinh giới thiệu về nét đẹp trong
văn hóa truyền thống của từng dân tộc. Mỗi một dân tộc sẽ cử đại diện phụ
huynh để thực hiện nhiệm vụ này.
Bên cạnh đó tôi nhờ các già làng làng kể cho học sinh, con cháu nghe về
các câu chuyện trong bản, những anh hùng liệt sĩ đã xả thân vì làng bản quê
hương, câu chuyện về dựng làng, dựng bản, câu chuyện về chiếc khăn piêu, áo
gấm…
Qua quá trình thực hiện, tôi thấy biện pháp này rất có hiệu quả, tác động
đến tâm lí học sinh từ nhiều phía. Các em nhận thấy trọng trách của mình trong
việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cũng như yêu thương chính gia đình của
mình.
2.3.5. Lồng ghép giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong một
số bài giảng thuộc chương trình giáo dục quốc phòng- an ninh.
Mặc dù chương trình sách giáo khoa môn giáo dục quốc phòng không thể
hiện rõ nội dung văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc nhưng rõ ràng để giữ vững
chủ quyền biên giới quốc gia, giữ vững nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân
- Nhanh chóng tố giác tư tưởng lệch lạc về văn hóa, tôn giáo.
- Tiếp thu chọn lọc các yếu tó văn hóa từ bên ngoài.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau một năm nghiên cứu và thực hiện đề tài: “ Giáo dục ý thức giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường THPT Mường Lát qua công tác
chủ nhiệm”. tôi đã bước đầu thu được những kết quả đáng ghi nhận, cụ thể như
sau:
- Học sinh rất có hứng thú trước những kiến thức mà bấy lâu gắn liền với cuộc
sống thường ngày của các em mà các em không để ý đến.
- Các em học sinh rất tích cực, chủ động và tham gia đầy đủ các buổi hoạt động
ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa, thăm quan.
- Các em đã ý thức được vai trò việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong việc
bảo vệ vững chắc chủ quyền biên cương Mường Lát, từ đó giữ vững biên cương
Tổ quốc và nền hòa bình, độc lập nước nhà.
- Các em rất có tinh thần tự giác trong việc thực hiện sắc phục dân tộc vào thứ 2
đầu tuần và các ngày lễ, thực hiện tốt nội qui của lớp, của nhà trường, xây dựng
nếp sống văn hóa trong môi trường học tập và sinh hoạt ở khu ký túc xá, làng
học sinh.
- Lớp chủ nhiệm của tôi đã có sự chuyển biến trong rèn luyện đạo đức:Từ lớp
liên tục đứng tốp cuối về nề nếp các em đã có sự tiến bộ vươn lên là một trong 5
lớp đứng tốp đầu.
3.Kết luận, kiến nghị
3.1.Kết luận.
- Mặc dù chỉ là một trường bán trú nhưng học sinh trường THPT Mường Lát bao
gồm nhiều dân tộc khác nhau, được học tập và sinh sống cùng nhau sẽ là môi
trường thuận lợi để giáo dục sự thân thiện và hòa hợp cho các em. Giáo viên chủ
nhiệm kết hợp tốt với nhà trường tổ chức nhiều hơn nữa các hoạt động văn hóa,
văn nghệ giúp giữ gìn bản sắc dân tộc.
18
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác
Phạm văn Tuyển
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.78,126.
[2] Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.3. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 431.
3. Mạng Internet.
20
PHỤ LỤC
1. Trang phục dân tộc Thái
2. Trang phục của dân tộc Mông
21
3. Trang phục dân tộc Dao.
4. Ném kòn.
22