Vài kinh nghiệm về tổ chức hoạt động học trong bộ môn lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Bác Hồ đã nói:
“Dân ta phải biết sử ta.
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"
Lịch sử là môn học mang tính nhân văn và phát triển con người. Nó không
chỉ hướng con người biết về những mối quan hệ hiện tại, kết nối hiện tại với quá
khứ, mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển trong tương lai. Môn học này không
thể thiếu trong chương trình giảng dạy ở hầu hết các nước trên thế giới.
Với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay đã và đang đưa đến rất nhiều cơ hội
và những thách thức lớn cho các quốc gia dân tộc, một trong những cơ hội lớn
nhất đó chính là các nước đang phát triển có thể khai thác các nguồn vốn đầu tư,
kĩ thuật công nghệ và kinh nghiệm quản lí từ bên ngoài, nhất là các tiến bộ về
khoa học – kĩ thuật để có thể “đi tắt đón đầu” [3], rút ngắn thời gian xây dựng và
phát triển đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ thuận lợi, các quốc gia cũng gặp không
ít những khó khăn thách thức, một trong những khó khăn thách thức đó chính là
nguy cơ bị tụt hậu. Việt Nam cũng không tránh khỏi những nguy cơ thách thức
đó. Vì vậy, tận dụng thời cơ và vượt qua những khó khăn thách thức chính là
vấn đề không chỉ của riêng một nghành hay riêng một người, mà là sự chung
tay nỗ lực của cả dân tộc Việt Nam, trong đó lĩnh vực giáo dục đóng vai trò hết
sức quan trọng.
Bài học về “con người” là chìa khóa thành công từ Nhật Bản, bài học từ
việc áp dụng những thành tựu khoa học – kĩ thuật hiện đại của Mĩ và các nước
châu Âu. Tất cả đều gắn với vai trò của giáo dục.
Việt Nam là đất nước có nền văn hiến, truyền thống hiếu học lâu đời. Thân
Nhân Trung đã từng nói “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh
thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp".
Giáo dục là quốc sách, đất nước muốn phát triển, dân giàu và nước mạnh đều
phụ thuộc vào trình độ văn hóa cũng như nền giáo dục của nước nhà.
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển của đất

Xuất phát từ nguyên nhân đó, cùng với kinh nghiệm của bản thân trong
năm học 2017-2018 vừa qua, tôi xin được mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Vài
kinh nghiệm về tổ chức hoạt động học trong bộ môn lịch sử theo định
hướng phát triển năng lực học sinh” với mong muốn góp phần nhỏ cùng các
thầy cô trong sự nghiệp đổi mới giáo dục nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Có thể nói, phương pháp dạy học là một yếu tố quan trọng bậc nhất để
mục tiêu, chất lượng, hiệu quả giáo dục phổ thông đáp ứng được yêu cầu đổi
mới giáo dục, kỳ vọng của xã hội, đất nước trong bối cảnh hội nhập. Tính cấp
thiết việc đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra và đang quyết tâm thực
hiện. Đây không phải là câu chuyện đơn giản, giải quyết trong một sớm một
chiều mà cần có sự nỗi lực ý chí quyết tâm của đội ngũ các thầy cô. Bởi tâm lý
ngại thay đổi do sống và làm việc quá lâu với thói quen cũ, đặc biệt, có nhiều
thầy cô tâm huyết, nỗ lực trong việc tìm tòi đổi mới phương pháp, mỗi tiết dạy
đều thể hiện tinh thần đổi mới, lấy học sinh làm trung tâm, dùng nhiều hình thức
để dẫn dắt, gợi mở, phát huy tính chủ động, tính cực của học sinh. Bên cạnh đó,
còn nhiều thầy cô chỉ dạy phương pháp dạy học mới mang tính đối phó và nặng
thành tích như chỉ khi thao giảng, có đồng nghiệp dự giờ..., hoặc còn lúng túng
trong phương pháp tổ chức dạy học, có tổ chức hoạt động học theo định hướng
lấy học sinh làm trung tâm nhưng kỹ thuật và phương pháp còn đơn sơ, thiếu
sức hấp dẫn cuốn hút, thậm chí phản tác dụng, dẫn đến học sinh không hứng thú,
thầy cô chán nản.
Vậy làm thế nào để đổi mới phương pháp dạy học một cách có hiệu quả
và đồng bộ, khơi gợi sự đam mê và hứng thú đối với mỗi thầy cô trong quá trình
tổ chức dạy học? Làm thế nào để thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo
lối "truyền thụ một chiều"[2] sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn
luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất một cách có hiệu quả nhất? Có
những phương pháp kỹ thuật nào trong tổ chức hoạt động học theo hướng phát
huy tính tích cực của học sinh ở bộ môn lịch sử?
Mục đích nghiên cứu đề tài của tôi chính là đưa ra được những giải pháp

tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Ngày 4-11-2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI Nghị quyết số 29NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Văn kiện nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt
động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy và học” [3]
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh:
"Ngày nay, khi tri thức đã trở thành yếu tố hàng đầu để phát triển kinh tế tri thức
thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục là đòn bẩy quan trọng
3


để đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển xã hội bền vững” [3].
Sự đổi mới dạy học lịch sử là yêu cầu quan trọng, cấp bách để hiểu đúng
quá khứ, có tác dụng giáo dục thế hệ trẻ cho hôm nay và mai sau. Mục tiêu của
môn lịch sử không dừng lại ở kiến thức mà làm thế nào để những kiến thức đó
thấm sâu vào nhận thức của học sinh, biến thành hiểu biết của chính các em một
cách hứng thú. Do đó, phương pháp dạy học của mỗi giáo viên rất quan trọng.
Thầy giáo dạy hay, học sinh mới yêu thích môn học. Tuy nhiên, “dạy hay” ở đây
không có nghĩa là giọng giảng hay, thuộc lòng các con số, sự kiện theo kiểu
“thầy đọc, trò chép” như lối cũ. “Thầy dạy hay” chính người tổ chức, dẫn dắt,
khơi dậy được hứng thú học tập bộ môn, linh hoạt, mềm dẻo, luôn tạo cơ hội để
học sinh tham gia và làm chủ hoạt động nhận thức, cung cấp những nhiệm vụ

hình thức thông qua tài liệu bồi dưỡng hay những buổi tập huấn. Thực tế, việc
áp dụng đổi mới chưa thực hiện rộng rãi, có khi còn mang tính hình thức, đối
phó. Chỉ những giờ dạy thao giảng, có đồng nghiệp đến sự mới thực hiện.
Thứ hai: Một số thầy cô còn thiếu kiên trì với cái mới, chưa đầu tư, tìm tòi
nghiên cứu cho giờ dạy. Việc sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh trong mỗi giờ dạy còn ít.
Thứ ba: Tâm lý thói quen, lối cũ khó bỏ. Lại do đặc thù bộ môn, rằng lịch
sử là phải ghi nhớ. Cộng thêm đó, SGK còn nặng kiến thức, nhiều những con số,
sự kiện khô khan, khó học, khó nhớ. Hình thức thi kiểm tra đánh giá lại yêu cầu
phải nhớ, phải thuộc nên tâm lý thầy cô là dạy theo kiểu “ôm đồm” kiến thức.
Cái gì cũng muốn truyền tải đến học sinh vì sợ bỏ sẽ thiếu nên phương pháp
truyền thống “thầy đọc, trò chép” vẫn còn là chủ yếu.
Thứ tư: Để thiết kế một giờ dạy theo phương pháp mới ở bộ môn lịch sử,
thì cần đảm bảo về cơ sở vật chất và trang thiết bị. Cần sự đầu tư công phu, có
khi là thầy cô phải tự bỏ tiền để mua sắm thêm phương tiện, đồ dùng dạy học
trong khi kinh phí hỗ trợ của nhà trường còn hạn chế.
Xin dẫn chứng cụ thể về thực trạng trong một tiết dạy lịch sử thường được
tiến hành như sau:
Ở tiết 2, bài 12 “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến 1925”
chủ yếu sẽ diễn ra theo các bước truyền thống như:
- Kiểm tra bài cũ: Giáo viên đặt câu hỏi, học sinh lên bảng trả lời (học
thuộc lòng và đọc thuộc)
- Bài mới:
+ Dẫn dắt: giáo viên sẽ tự dẫn dắt mà chủ yếu bằng cách tóm lược lại kiến thức
ở tiết trước, học sinh lắng nghe.
+ Tiến trình thực hiện bài mới, chủ yếu thông qua việc giáo viên đặt câu hỏi, học
sinh theo dõi SGK và trả lời. Giáo viên kết luận, đồng thời nhấn mạnh kiến thức
trọng tâm (bằng giọng giảng, bằng cách viết lên bảng), và học trò sẽ ghi vào vở.
+ Phần củng cố: Giáo viên cũng sẽ tự củng cố, học sinh lắng nghe và ghi nhớ.
+ Bài tập, dặn dò: Giáo viên (có thể hoặc không) giao bài tập, đồng thời dặn dò

2.
Học sinh tự chiếm lĩnh kiến - Tổ chức hoạt động cá nhân, tập
Hình thành thức mới thông qua hệ thống thể, nhóm
kiến thức.
các bài tập, nhiệm vụ.
- Các trò chơi như ghép đôi...
- Kết hợp trò chơi với hoạt động
cá nhân, nhóm.
- Kỹ thuật mảnh ghép
- Vận dụng kiến thức liên môn
3.
Luyện Học sinh vận dụng kiến thức - Tập trung hình thành kỹ năng
tập
vừa học để giải quyết nhiệm - Thực hành theo tình huống giả
vụ cụ thể
định
4.
Vận Vận dụng Học sinh sử dụng - Nhận biết, giải quyết tình
dụng
kiến thức, kỹ năng đã học để huống, vấn đề mang tính thực
giải quyết các vấn đề, nhiệm tiễn.
vụ trong thực tế
- Triển khai ở lớp, ở nhà, cộng
đồng
5.
Hoạt Tiếp tục mở rộng kiến thức, kỹ - Tìm đọc trên sách, báo, mạng
động tìm năng từ các nguồn,kênh thông - Tham quan thực tế
tòi mở rộng tin.
- Trao đổi với người thân...
Từ 5 bước đó, giáo viên sẽ vận dụng một cách linh hoạt, sử dụng những

động này, hoặc là giáo viên tự dẫn dắt vào bài , hoặc tổ chức trò chơi, v.v... làm
mất quá nhiều thời gian và loãng nội dung bài học.
Vì vậy, để tổ chức hiệu quả hoạt động này, giáo viên cần:
- Xác định rõ mục đích yêu cầu bài học.
- Xác định kiến thức trọng tâm của bài từ đó lựa chọn phương pháp tổ chức hoạt
động phù hợp.
- Tìm kiếm từ nhiều nguồn thông tin, nhiều kênh (sách GK, sách tham khảo, các
trang web...) để xác định và lựa chọn cái mình cần sử dụng vào nội dung hoạt
động.
Sau đây là những ví dụ cụ thể do tôi thiết kế bài dạy và đã thựu hiện thành
công:
Ví dụ 1: Ở bài “Ôn tập lịch sử thế giới cận đại” (LSTG lớp 11).
Với kiểu bài tổng kết, ôn tập, giáo viên có thể lựa chọn những hình ảnh
hoặc nội dung hết sức tiêu biểu của giai đoạn hay thời kì lịch sử gắn liền với nội
dung bài học để khởi động/đặt vấn đề. Công phu hơn, giáo viên có thể tìm kiếm
đoạn video tư liệu (thậm chí giáo viên có thể tự cắt ghép hình ảnh và nhạc) để
dẫn dắt nêu vấn đề.
Cụ thể, với bài ôn tập này, tôi đã sử dụng đoạn video tự cắt ghép (30s-1p), nội
dung là những hình ảnh thời cận đại + nền nhạc Bettoven (bản sonate ánh trăng).
7


Hình ảnh cắt từ đoạn video
Sau khi cho các em xem xong, giáo viên đặt câu hỏi:
Đoạn video trên gợi cho em nhớ đến thời kì lịch sử nào của nhân loại ?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên dẫn dắt: Đây là những hình ảnh của
thời kì lịch sử thế giới cận đại. Suốt từ giữa chương trình học kì II của lớp 10
đến hết bài 7 của học kì I lớp 11, chúng ta đã học những nội dung chủ yếu của
lịch sử cận đại Để ôn lại những kiến thức cơ bản của thời kì lịch sử này, chúng ta
cùng tìm hiểu trong bài học hôm nay !

- Cân nhắc khi lựa chọn và sử dụng nguồn hình ảnh hoặc video, tránh gây phản
cảm hay sai lệch lịch sử.
- Nội dung hoặc câu hỏi phải thực sự có “vấn đề” mới đủ sức cuốn hút học sinh.
- Có thể tổ chức dưới hình thức cá nhân, nhóm...tùy vào cách giáo viên dẫn dắt.
Thứ hai, tổ chức hoạt động hình thành kiến thức.
Đây là hoạt động quan trọng nhất trong tiến trình dạy học. Bởi hoạt động
này giúp học sinh tìm hiểu và nắm bắt kiến thức của bài học, rèn luyện các kĩ
năng lĩnh hội kiến thức. Đây cũng là hoạt động mà người giáo viên có thể vận
dụng sử dụng và kết hợp nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau
trong quá trình dạy học.
Tuy nhiên, nếu lạm dụng nhiều phương pháp trong một hoạt động, hoặc
sử dụng phương pháp không phù hợp với nội dung và yêu cầu kiến thức của bài,
như hoạt động nhóm quá nhiều, hoặc chỉ hoạt động cá nhân đơn điệu, có khi lạm
dụng trò chơi trong một nội dung, vân vân....sẽ đưa tác dụng ngược lại. Vì vậy,
để có một hoạt động hình thành kiến thức trong giờ dạy thật sự chất lượng,
mang lại hiệu quả cao đối với học sinh, giáo viên nên:
- Xác định trọng tâm kiến thức của bài, từ đó xác định phương pháp
phù hợp với phần trọng tâm kiến thức đó, nhằm mục đích giúp học sinh “đào
kĩ”, “khắc sâu”, “ghi nhớ”, tránh xác định sai trọng tâm kiến thức của bài, dẫn
đến nội dung trọng tâm thì hời hợt, những phần có thể hướng dẫn học sinh tự
tìm hiểu thì dành thời gian quá nhiều.
- Lựa chọn và lên kế hoạch cụ thể, chi tiết cho việc sử dụng phương
pháp và kĩ thuật trong hoạt động phù hợp cho từng nội dung kiến thức. Ví
9


dụ, mục 1 nên sử dụng phương pháp hoạt động cá nhân, tập thể hay nhóm? Mục
2 nên sử dụng chiến thuật ghép đôi hay trò chơi lật mảnh ghép, v.v...
- Lựa chọn và thiết kế phương tiện dạy học, kết hợp với các hình ảnh
minh họa cho phù hợp với từng phương pháp hoạt động vànội dung kiến

Hình ảnh về trò chơi cặp đôi do tôi chuẩn bị
Ưu điểm của phương pháp hoạt động cặp đôi là tạo không khí sôi nổi,
khẩn trương trong hoạt động học, các em nhút nhát dễ hòa nhập, tăng kĩ năng
hợp tác. Giúp các em ghi nhớ được kiến thức một cách hiệu quả mà không nặng
nề.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, giáo viên nên phân công hợp lý để
các em hoạt động hợp tác có hiệu quả. Hoạt động có thể gây ồn ào ảnh hưởng
tới lớp bên cạnh, hoặc thời gian kéo dài dẫn đến giáo viên không làm chủ được
thời gian hợp lý.
Ví dụ 2: Ở bài “Phong trào dân tộc dân chủ Việt Nam từ 1919 – 1925”
(tiết 2) – (LSVN lớp 12)
Mục 2: Hoạt động của tư sản, tiểu tư sản và công nhân Việt Nam.
Phương thức: Hoạt động cá nhân và nhóm.
- Hoạt động cá nhân:
+ Chuyển giao nhiệm vụ: GV yêu cầu học sinh quan sát hình ảnh, kết hợp với
vận dụng hiểu biết + SGK để trả lời câu hỏi.

Hình ảnh minh họa được cắt từ bài giảng
+ Tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ: học sinh theo dõi SGK, suy nghĩ trả lời
11


+ Giáo viên nhận xét, bổ sung kết hợp bảng biểu để chốt ý.
- Hoạt động nhóm:
Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm, (hoặc có thể 6 nhóm nhỏ để dễ thảo
luận và đảm bảo học sinh nào cũng được tham gia thảo luận) với các nhiệm vụ
cụ thể.

Hình ảnh minh họa được cắt từ bài giảng
+ Tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ: học sinh theo dõi SGK, thảo luận và trả lời.

thuật phù hợp.
- Luyện tập phải đảm bảo mức độ vừa sức đối với học sinh, không
quá dễ, cũng ko nên quá khó gây hiệu ứng ngược. Ví dụ không nên có những
câu trắc nghiệm hỏi một cách quá đơn giản, ví dụ như: “Ngày 5-6-1911 có ý
nghĩa gì” trong nội dung Nguyễn Ái Quốc từ 1919-1925, hoặc “đây là ai” với
phương pháp nhận diện chân dung lịch sử bằng hình ảnh của Nguyễn Ái Quốc.
- Thời gian luyện tập không nên kéo dài và lặp đi lặp lại một hoạt
động dễ gây nhạt nhẽo và nhàm chán. Nên tổ chức các hoạt động luyện tập,
thực hành thông qua ít nhất 2 hoạt động (cũng không nên nhiều quá 3 hoạt động)
nhằm gây hứng thú cho học sinh, đồng thời qua đó kĩ năng của các em cũng
được rèn luyện.
Để cụ thể hơn, tôi xin giới thiệu một số phương pháp và kỹ thuật thực
hiện hoạt động luyện tập qua một số ví dụ sau:
Ví dụ 1: Ở bài “Ôn tập lịch sử thế giới cận đại” (LSTG lớp 11)
Do đặc thù của bài là ôn tập, nên thiết kế phương pháp và kỹ thuật sẽ khó
hơn, đảm bảo không lặp với nội dung và cách thức đã tiến hành trong bài. Vì
vậy, sau khi tìm tòi và nghiên cứu kĩ, tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
Bài tập 1: Nhận dạng chân dung lịch sử.
Giáo viên lựa chọn khoảng 3-4 chân dung nhân vật lịch sử (không nên
quá nhiều) và nêu nhiệm vụ đối với học sinh. Sau khi nhận dạng, mỗi đội giới
thiệu sự hiểu biết của mình về một trong 4 nhân vật trên.
Học sinh nào hoàn thành tốt, sẽ có phần thưởng.

Hình ảnh minh họa được cắt từ bài giảng
Bài tập 2: Chọn câu trả lời đúng
13


Câu 1: Trong các cuộc cách mạng tư sản sau cuộc cách
mạng nào được xem là triệt để và sâu sắc nhất?

cấp TS cấp
cấp CN
TTS
1
Chấn hưng nội hóa, bài trừ ngoại hóa
(1919)
2
Xuất bản nhiều báo tiến bộ: Chuông rè, An
Nam trẻ, Người nhà quê...
3
Đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925),
và để tang Phan Châu Trinh (1926)
4
Thành lập Đảng Lập hiến (1923)
5
Thành lập Công hội ở Sài Gòn – Chợ Lớn
(1920)
6
Thành lập các nhà xuất bản tiến bộ: Cường
học thư xã, Nam đồng thư xã…
7
Bãi công ở xưởng Ba Son (1925)
Bài tập 2: Tập thể và cá nhân
14


Đoạn video sau đây nói tới nội dung gì?
Giáo viên chiếu đoạn phim tư liệu (khoảng 1 phút) về những hình ảnh
trong quá trình hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ 1919-1925 + nhạc bài hát
“Dấu chân phía trước”. Mục đích vừa củng cố, khắc sâu kiến thức, vừa giáo dục

lớp 11): Tôi thiết kế và thực hiện các phương pháp trong hoạt động dạy học
theo hướng đổi mới, tuy còn những hạn chế nhất định nhưng khi thực hiện dạy
tại các lớp 12 và 11 do tôi đảm nhiệm đã thu được những kết quả tích cực, thể
hiện:
+ Lớp thực hiện dạy đổi mới và không đổi mới:
Lớp 12B1
Lớp 12B2
Lớp 12B5
Lớp 12B7
Dạy học truyền thống x
x
Dạy học theo phương
pháp mới

x

x

+ Đối với 2 lớp tôi dạy theo phương pháp truyền thống là 12B1 và 12B2, kết
quả thu được từ bài kiểm tra nhận thức là: (thực hiện đối với 80 em ở 2 lớp)
Kết quả bài kiểm tra
Tính phần trăm
Điểm giỏi (9-10)
10 bài
12,5%
Điểm khá(7-8)
21 bài
26,25%
Điểm TB(từ 5 -6)
37 bài

40%, số điểm khá là 35 bài chiếm tỉ lệ 43,75%, điểm, số điểm TB giảm hẳn,
điểm yếu chỉ 1 bài, điểm kém không có.
Thứ hai, qua quan sát thực tế từ các giờ dạy áp dụng theo phương pháp
mới, tôi nhận thấy thái độ và tinh thần học tập của các em khác hẳn so với thời
gian chưa hoặc có áp dụng phương pháp mới nhưng chưa rõ ràng. Đó là các em
hăng hái đón nhận và hào hứng tham gia mọi hoạt động học. Cách các em sôi
nổi trao đổi, thảo luận, bàn bạc để cùng đưa ra hướng giải quyết hay đáp án cho
nhiệm vụ tôi giao. Cách các em hợp tác cùng làm việc đối với các hoạt động
ghép đôi, chia cặp. Và cả cách các em lặng yên khi cùng xem đoạn vi deo ngắn
16


đầy xúc động về quá trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ. Tôi vẫn nhớ
như in không khí lớp học trùng xuống, không một tiếng động, những đôi mắt
hướng về màn hình cùng lắng nghe trong tiếng nhạc da diết của bài “dấu chân
phía trước”. Kết thúc đoạn vi deo, nhiều tiếng nói từ phía các em vang lên: “xúc
động quá cô ơi”!!!
Thứ ba, đối với riêng bản thân tôi khi thực hiện phương pháp đổi mới trong
các hoạt động dạy học, tuy quá trình chuẩn bị một giờ dạy đòi hỏi công phu,
nghiên cứu, tìm tòi nhưng khi lên lớp tôi không còn phải nói nhiều hay viết bảng
nhiều. Với cách dạy mới, tôi chỉ đóng vai trò là cố vấn, là người hướng dẫn dẫn
dắt các em làm việc. Tôi cũng không phải nhìn thấy những ánh mắt mệt mỏi,
những trang vở ghi kín chữ của các em học sinh đối với bộ môn lịch sử nữa.
Thứ tư, hiệu ứng đặc biệt đem lại từ hoạt động vận dụng và tìm tòi, sáng
tạo là các em tích cực tìm tòi và đầu tư vào bài thu hoạch do tôi giao nhiệm vụ,
đặc biệt, các em cũng đã tìm tòi và khám phá nhiều kiến thức và hiểu biết về địa
phương, về lịch sử quê hương đất nước.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
1. Kết luận:
Điều 8.2, Luật Giáo dục đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông cần

giáo viên” [3].
2. Kiến nghị:
Để góp phần vào việc đổi mới phương pháp giáo dục, tôi xin đưa ra một số kiến
nghị sau:
Một là, việc đổi mới phải được xác định rõ ràng là nhiệm vụ của tất cả các
cấp quản lý giáo dục, tất cả các thầy cô giáo và học sinh, nghĩa là phải đồng bộ
chứ không phải của riêng một cá nhân hay một đơn vị, càng không phải là việc
của riêng giáo viên vì “họ là người trực tiếp đứng lớp”.
Hai là, đổi mới là cần thiết, nhưng không vì thế mà quá nặng nề gây áp
lực cho cả giáo viên và học sinh, dẫn đến hiệu ứng ngược, chỉ mang tính đối
phó, thầy đạo diễn và trò là diễn viên hoặc chỉ thực hiện khi thao giảng hay
trong các cuộc thi.
Ba là, một trong những yếu tố quan trọng để thực hiện tốt một giờ dạy
theo phương pháp đổi mới đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng
đồ dùng dạy học. Vì vậy, đề nghị các cấp quản lý liên quan nên tạo điều kiện
thuận lợi về cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết. Nếu những giờ dạy công
phu, giáo viên tự bỏ tiền túi để mua và thiết kế đồ dùng dạy học thì nhà trường
nên có chính sách khuyến khích hỗ trợ.
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thọ Xuân, ngày 25 tháng 5 năm 2018
Người viết sáng kiến

Đặng Thị Thu Hằng

18


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh;
Tỉnh...)
Sở GD&ĐT
Thanh Hóa

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)
C

Năm học
đánh giá
xếp loại
2017

20


MỤC LỤC:
Tên đề mục

Trang

I. MỞ ĐẦU

1


6

2.4. Hiệu quả áp dụng vào thực tế

15

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

17

3.1. Kết luận

17

3.2. Kiến nghị

18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC ĐỀ TÀI SKKN

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status