Thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Địa lí theo định hướng phát triển năng lực học sinh THPT tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ) - Pdf 51

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ VÂN ANH

THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
MÔN ĐỊA LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỌC SINH THPT TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ VÂN ANH

THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
MÔN ĐỊA LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỌC SINH THPT TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Địa Lí
Mã số: 8.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN

THÁI NGUYÊN - 2018


Tác giả luận văn

Lê Vân Anh

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ........................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................... v
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................ 8
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 9
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu ................................................................... 9
6. Đóng góp của đề tài ................................................................................................ 10
7. Cấu trúc của luận văn.............................................................................................. 11
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ
HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO MÔN ĐỊA LÍ THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH THPT ............. 12
1.1.

Cơ sở lí luận ...................................................................................................... 12

1.1.1. Một số khái niệm cơ bản .................................................................................. 12
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo .................................................... 19


2.2.1. Xác định chuẩn đầu ra hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Địa lí theo
hướng phát triển năng lực học sinh THPT....................................................... 51
2.2.2. Xác định nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Địa lí theo hướng
phát triển năng lực học sinh THPT .................................................................. 56
2.2.3. Đánh giá hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Địa lí theo hướng phát triển
năng lực học sinh THPT .................................................................................. 59
2.2.4. Qui trình thực hiện hoạt động học tập TNST cho học sinh ............................. 70
Tiểu kết chương 2 ....................................................................................................... 82
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................................................................ 83
3.1.

Mục đích thực nghiệm ..................................................................................... 83

3.2.

Nhiệm vụ thực nghiệm..................................................................................... 83

3.3.

Tổ chức thực nghiệm ....................................................................................... 83

3.3.1. Chọn trường thực nghiệm ................................................................................ 83
3.3.2. Chuẩn bị thực nghiệm ...................................................................................... 84
3.3.3. Kết quả thực nghiệm ......................................................................................... 87
Tiểu kết chương 3 ....................................................................................................... 95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ........................................................................... 96
1. Kết luận ................................................................................................................... 96
2. Khuyến nghị ............................................................................................................ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 98


PPDH

: Phương pháp dạy học

SGK

: Sách giáo khoa

THPT

: Trung học phổ thông

TNST

: Trải nghiệm sáng tạo

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1:

Thực trạng nhận định của giáo viên về ý nghĩa của hoạt động trải
nghiệm sáng tạo môn Địa lý ở nhà trường THPT ................................... 44

Bảng 1.2:

Thực trạng nội dung môn Địa lý trong các hoạt động TNST ................. 45


Theo định hướng của Nghị quyết 29, ngày 27/7/2017, Chương trình giáo dục
phổ thông (GDPT) tổng thể vừa được Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình sách giáo
khoa giáo dục phổ thông thông qua. Chương trình tổng thể nêu lên 5 phẩm chất chủ
yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực,
trách nhiệm. Về năng lực, chương trình hướng đến 10 năng lực cốt lõi (những năng
lực mà ai cũng cần có để sống và làm việc trong xã hội hiện đại) gồm:
Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần
hình thành, phát triển: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng
lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một
số môn học, hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán,
năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực
thẩm mỹ, năng lực thể chất.
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo
dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu)
của học sinh.
Để thực hiện được hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông mới thì giáo dục
cần quán triệt và thực hiện đầy đủ, đúng đắn nguyên lý giáo dục “học đi đôi với hành,
lý luận gắn liền với cuộc sống, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và
giáo dục xã hội”, nghĩa là "Nhà trường ngày nay là nhà trường hoạt động… Phương
pháp giáo dục bằng hoạt động… hoạt động cùng nhau, hoạt động hợp tác giữa thầy
và trò, hoạt động hợp tác giữa trò - trò”, hoạt động giúp học sinh liên hệ, vận dụng
được những điều đã học vào thực tiễn cuộc sống.

1


Học từ trải nghiệm thực tế, trải nghiệm sáng tạo là xu hướng, phương pháp học
mới đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của những người làm giáo dục. Mô hình học tập
từ trải nghiệm ngày càng được nhân rộng và thu hút sự tham gia của nhiều người do

được tối đa năng lực của người học. Về tài liệu nghiên cứu, cho đến nay mới chỉ có
một số tài liệu nghiên cứu, luận văn, luận án về việc tổ chức hoạt động học tập trải

2


nghiệm sáng tạo chứ chưa nhiều tài liệu nghiên cứu chi tiết về việc thiết kế hoạt động
trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực của học sinh đối với môn
Địa lí. Chính vì vậy trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tham khảo, tiếp cận các
loại tài liệu đề cập đến những vấn đề chung của hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo
định hướng phát triển năng lực, làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu như sau:
2.1. Trên thế giới
Trên thế giới, ngay từ giữa thế kỉ XX, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người
Mĩ, John Dewey, với tác phẩm Kinh nghiệm và Giáo dục (Experience and Education)
đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh
nghiệm trong giáo dục.
Với triết lí giáo dục đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng,
những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách
kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn. Theo đó, quá trình giáo
dục gồm hai mặt: mặt tâm lí và mặt xã hội, trong đó mặt tâm lí là cơ sở. Vì thế những
gì trẻ em học đều có một điều kiện bắt buộc là phải mang tính xã hội. Nhà trường có
nhiệm vụ chuẩn bị những điều kiện cho trẻ em tự mình tạo dựng kiến thức cho chính
mình bằng toàn bộ các công cụ của chúng: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đôi chân… và
công cụ quan trọng số một là tư duy. Để cho trẻ em phát triển hết tầm, sẵn sàng sử
dụng mọi công cụ của mỗi em, đó chính là sự chuẩn bị đích thực cho cuộc sống tương
lai. Phương pháp thực hiện là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em là
những cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của người lớn,
những người đã trưởng thành. Người thầy không phải là một vị quan tòa, một quyền
uy độc đoán trong lớp học, mà người thầy là một thành viên của cộng đồng lớp học.
Vì thế phương pháp sẽ là cái gì đó tự nhiên, không cản trở sự phát triển tự nhiên ở trẻ

McPhee and Proudman, 1995); chỉ có kinh nghiệm thì chưa đủ để được gọi là trải
nghiệm; chính quá trình phản ánh đã chuyển hóa kinh nghiệm thành trải nghiệm giáo
dục (Joplin, 1995).
Như vậy, các lý thuyết trên đều khẳng định vai trò, tầm quan trọng của hoạt
động, của sự tương tác, của kinh nghiệm đối với sự hình thành nhân cách con người.
Năng lực chỉ được hình thành khi chủ thể được hoạt động, được trải nghiệm. Những quan
điểm này chính là cơ sở lý thuyết cho việc xây dựng hoạt động trải nghiệm sáng tạo
trong giáo dục.
Vận dụng quan điểm học tập trải nghiệm sáng tạo, rất nhiều các quốc gia trên
thế giới đã đưa học tập trải nghiệm sáng tạo vào chương trình giáo dục từ rất sớm và
đạt được hiệu quả cao trong giáo dục.
Tại Châu Âu, trong "Chương trình giáo dục phổ thông Anh Quốc" (2013)- quốc
gia hàng đầu thế giới và châu lục về giáo dục, Trung tâm Widehorizon thành lập năm
2004 (Chân trời rộng mở) như là niềm hi vọng của giáo dục ngoài trời trong đó có dạy
học phiêu lưu - mạo hiểm - một hình thức của hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Tầm
nhìn sứ mạng của tổ chức này đơn giản là: "Chúng tôi tin rằng mỗi đứa trẻ đều có cơ
hội trải nghiệm những tri thức về phiêu lưu mạo hiểm như là một phần được giáo dục
trong cuộc đời chúng". Tầm nhìn chiến lược ấy bắt đầu từ một hiện thực được cho là
khó tin: Hơn 50% trẻ con nước Anh chưa từng biết đến nông thôn, miền quê là gì,
riêng thủ đô London con số này là 35%. Việc nhiều trẻ em chưa biết đến nông thôn là

4


gì, cùng với sự suy giảm đáng kể cơ hội giáo dục thông qua các tổ chức tham quan cho
trẻ con ở các trường phổ thông là nguyên nhân lớn của sự lo lắng tương lại trẻ nhỏ, về
quyền được kết nối với thiên nhiên giảm sút và vô số nhưng lợi ích liên quan đến "giáo
dục ngoài trời" - một hình thức của tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Tại Châu Á, tiêu biểu là Hàn Quốc (một trong những quốc gia có nền giáo dục phát
triển nhất của khu vực), trong cuốn " Hoạt động trải nghiệm sáng tạo" - Bộ KH - KT và

5


Trong Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Việt Nam sau 2015,
cũng đề cập đến 8 lĩnh vực học tập chủ chốt và hoạt động giáo dục với tên gọi hoạt
động trải nghiệm sáng tạo. Trong đó, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động mới
với cả 3 cấp học, được phát triển từ các hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp,
ngoại khóa của chương trình hiện hành, được thiết kế thành các chuyên đề tự chọn
nhằm giúp học sinh phát triển các năng lực, kỹ năng, niềm tin, đạo đức nhờ vận
dụng những tri thức, kiến thức, kỹ năng đã học được từ nhà trường và những kinh nghiệm của
bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo thông qua các hình thức và
phương pháp chủ yếu như: tham quan, thực địa, câu lạc bộ, hoạt động xã hội/tình
nguyện, diễn đàn, giao lưu, hội thảo, trò chơi, cắm trại, thực hành lao động. Điều này
cho thấy tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm sáng tạo cũng như định hướng đổi
mới mạnh mẽ hoạt động này ở trường phổ thông trong giai đoạn tới.
Trong bản dự thảo ngày 21/7/2017 của Chương trình Giáo dục phổ thông tổng
thể, sự thay đổi lớn nhất nằm ở kế hoạch giáo dục, đặc biệt là ở tên gọi các môn học
cũng như thời lượng học tập ở từng cấp học. Theo đó, Hoạt động trải nghiệm sáng
tạo trước được đổi tên thành Hoạt động trải nghiệm nhưng thời lượng không thay
đổi, nội dung Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề; học sinh được
lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ
chức của nhà trường.Điểm mới nữa là hoạt động Tự học có hướng dẫn chiếm thời
lượng khá lớn trong dự thảo trước đây bị loại bỏ trong dự thảo mới nhất. Nội dung
giáo dục địa phương được đưa vào Hoạt động trải nghiệm.
Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu về lí luận dạy học cũng đề cập đến
vấn đề tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo như:
Cuốn Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông của
tác giả Nguyễn Thị Liên (chủ biên) cung cấp một số kiến thức cơ bản về hoạt động
TNST, cách tổ chức cụ thể các hoạt động trải nghiệm cho học sinh các cấp; một số
kinh nghiệm nước ngoài về giáo dục trải nghiệm. Đây được coi là tài liệu phục vụ đắc

nhất giữa các môn học, đảm bảo thời lượng của các môn học. Đối với môn Địa lí,
trường đã xây dựng chương trình học đơn môn (Địa lí), liên môn (Lịch sử - Địa lí) phù
hợp theo nhóm môn học tự chọn của học sinh. Trong phân phối chương trình, các tiết
học trải nghiệm sáng tạo được xây dựng chi tiết, cụ thể, phù hợp với từng nội dung kiến
thức, đảm bảo tính khả thi khi triển khai thực hiện.
Qua 3 năm thực hiện, hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát
triển năng lực học sinh đối với các môn học nói chung và môn Địa lí nói riêng tại
trường THPT Thái Nguyên đã thu được nhiều thành quả tốt đẹp. Nhà trường đã tổ
chức thành công các tiết học trải nghiệm sáng tạo ngoài thực tế tại nhiều tỉnh thành
trên cả nước cho hơn 1000 lượt học sinh tham gia; xây dựng và tổ chức nhiều tiết
học trải nghiệm sáng tạo với hình thức tổ chức phong phú như: ngoại khóa, hội thi,
triển lãm, thăm quan trường Đại học Sư phạm - cơ sở mà trường THPT Thái
Nguyên trực thuộc hiện đang trực tiếp đào tạo giáo viên cho các bậc học của khu
vực Trung du miền núi phía Bắc.
Ở Hà Nội, trường THPT Nguyễn Tất Thành đã xây dựng và thực hiện đề án
"Xây dựng trường phổ thông thực hành Nguyễn Tất Thành theo mô hình phát triển năng
lực chung" của chương trình quốc gia, lựa chọn hình thức phù hợp với thực tiễn nhà

7


trường đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực học sinh. Hình thức tổ chức dạy học đa
dạng gồm: dạy học dự án, dạy học trải nghiệmHình thức tổ chức dạy học này tạo điều
kiện cho học sinh được trải nghiệm, được khám phá, qua đó góp phần hình thành
năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, khả năng hợp tác và khát vọng học tập
suốt đời. Nhà trường, ngoài hình thức học tập trên lớp, nhà trường còn tiến hành
những hoạt động ngoài lớp giúp cho không gian lớp học được mở rộng thêm.
Các mô hình học tập trải nghiệm trên đây không chỉ là sợi dây gắn kết người học người dạy, người học với nhà trường mà còn là cầu nối giúp học sinh phát triển năng
lực, những kĩ năng sống cần thiết để có hành trang vững bước vào đời. Mô hình học
tập trải nghiệm này cũng đã rút ra rất nhiều kinh nghiệm cho việc trong xây dựng

- Thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
để đánh giá hiệu quả của vấn đề nghiên cứu.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Tập trung thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho một số bài học có ưu thế trong
môn Địa lí theo định hướng phát triển năng lực học sinh THPT tỉnh Thái Nguyên.
Phạm vi thực nghiệm: chúng tôi tiến hành thực nghiệm tại trường THPT Thái
Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên (Trường thí điểm đầu tiên của Tỉnh Thái Nguyên về việc
áp dụng chương trình nhà trường trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực
học sinh).
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm duy vật biện chứng: Mọi sự vật hiện tượng đều vận động và biến
đổi không ngừng và đều có xu hướng phát triển. Dựa trên quan điển duy vật biện
chứng để nghiên cứu sẽ giúp cho các kết quả nghiên cứu có tính logic và phản ánh
đúng quá trình phát triển và nguyên nhân của sự phát triển.
- Quan điểm tổng hợp: Đây là một quan điểm quan trọng trong nghiên cứu khoa
học địa lí. Quan điểm tổng hợp xem xét các yếu tố trong mối quan hệ tương tác, sự
tác động qua lại giữa giáo dục và thực tiễn nghiên cứu cũng như trong mối quan hệ
chặt chẽ của toàn hệ thống giáo dục.
- Quan điểm hệ thống - cấu trúc: Tính hệ thống là một trong những quan điểm
không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học nói chung, cũng như khi nghiên cứu khoa học
địa lí. Bất kỳ một nội dung kiến thức nào khi nghiên cứu đều phải được đặt trong mối
tương quan với các yếu tố thuộc hệ thống cấp cao hơn và trong cấp phân vị thấp hơn.
- Quan điểm lịch sử: Các đối tượng, hiện tượng Địa lí đều phải có thời gian hình
thành và phát triển nhất định. Vì vậy, cần phải vận dụng quan điểm này để gắn liền
giữa lí luận và thực tiễn, từ đó tránh có cái nhìn phiến diện, chủ quan về vấn đề
nghiên cứu. Đồng thời, khi xem xét quá khứ và hiện tại của các đối tượng, ở một mức
độ nhất định có thể dự đoán được tương lai của chúng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng các nhóm

xác định nhằm xác định hiệu quả của các bản thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo
môn Địa lí thông qua việc triển khai một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học
sinh THPT.
Nhóm phương pháp hỗ trợ: Dùng phương pháp toán thống kê để xử lý,
tổng hợp số liệu thu được, trên cơ sở đó rút ra kết luận khoa học, nhận xét mang
tính khái quát.
6. Đóng góp của đề tài
- Đề tài xác định được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế hoạt động trải
nghiệm sáng tạo môn Địa lí theo định hướng phát triển năng lực học sinh THPT.

10


- Đề tài xác định được quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn
Địa lí theo định hướng phát triển năng lực học sinh THPT.
- Thiết kế một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho một số bài học có ưu thế
trong môn Địa lí theo định hướng phát triển năng lực học sinh THPT.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có tính khả thi, sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo
viên dạy môn Địa lí của các trường THPT tỉnh Thái Nguyên.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế hoạt động trải nghiệm
sáng tạo môn Địa lí theo định hướng phát triển năng lực học sinh THPT.
Chương 2: Thiết kế các hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Địa lí theo định
hướng phát triển năng lực học sinh THPT.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

11


+ Hoạt động nhận thức: Là một dạng hoạt động tinh thần, không làm biến đổi
các vật thể thực, quan hệ thực... trong môi trường tự nhiên và xã hội. Nó chỉ phản ánh
sự vật, quan hệ... mang lại cho chủ thể các hình ảnh, các tri thức về sự vật và quan hệ
đó. Hoạt động này giúp con người phân tích, tống hợp, khái quát, ghi nhớ hình ảnh.
Nó là một dạng hoạt động chuẩn bị cho hoạt động lao động. Có hoạt động nhận thức

12


ở mức độ kinh nghiệm thực tiễn, có hoạt động nhận thức ở mức độ khoa học lý luận,
cả hai mức độ đều cần thiết và hỗ trợ cho nhau. Hoạt động dạy và học với tư cách là
hoạt động nhận thức, có nhiệm vụ truyền đạt cho HS tiếp thu các tri thức khoa học...;
giúp HS hình thành được hoạt động nhận thức khoa học, có hệ thống khái niệm khoa
học, có tư duy khoa học, say mẽ khoa học, có tinh thần ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật - công nghệ. Hoạt động học tập, một bộ phận của hoạt động dạy và học là
một loại hoạt động nhận thức nhằm lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội nói chung,
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nói riêng, chuẩn bị cho học sinh trở thành chù thể thực sự
của hoạt động lao động.
+ Hoạt động định hướng giá trị: Là một dạng hoạt động tinh thần, xác định ý
nghĩa của thực tại đối với bàn thân chủ thể, tạo ra phương hướng của hoạt động.
Trong hoạt động dạy và học, khâu định hướng giá trị trở thành vấn đề giáo dục, động
cơ học tập của người học và động cơ dạy học của người dạy.
+ Hoạt động giao tiếp chủ yếu là các quan hệ người - người (bao gồm cá nhân - cá
nhân, nhóm với thành viên của nhóm, tập thể với cá nhân...). Hoạt động của con người
có bản chất xã hội - lịch sử, giao tiếp là điều kiện không thể thiếu được của hoạt động
con người nói chung. Hoạt động này chứa đựng cả thông tin, thông báo, điều khiến, tổ
chức, tình cảm, quan hệ... ở đó, có giao tiếp của nhân cách con người với nhau, hoạt
động này là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển tâm lý người.
Như vậy, hoạt động của con người bao giờ cũng mang tính chất xã hội. Mỗi con
người là một chù thể của hoạt động. Con người có nhiều dạng hoạt động: hoạt động
của con người nói chung, hoạt động riêng từng mặt. Các dạng hoạt động này có quan

xúc cảm, thiếu một trong hai yếu tố đó đều không thể mang lại hiệu quả.
- Kết quả của trải nghiệm là hình hành được kinh nghiệm mới, hiểu biết mới,
năng lực mới, thái độ, giá trị mới...
* Các dạng trải nghiệm
Có rất nhiều dạng trải nghiệm phong phú và đa dạng:
- Căn cứ vào phạm vi diễn ra hoạt động của học sinh sẽ có các dạng: trải nghiệm
trên lớp học; trải nghiệm ngoài trời...;
- Căn cứ vào các cơ quan tham gia hoạt động sẽ có các dạng: trải nghiệm trong
đầu (các thao tác tưởng tượng, tư duy trong đầu); trải nghiệm bằng các thao tác tay
chân, trải nghiệm các giác quan...
- Căn cứ vào các nội dung giáo dục sẽ có các dạng trải nghiệm: trải nghiệm cám
xúc, trải nghiệm đạo đức, trải nghiệm giá trị, trải nghiệm sáng tạo...
Vận dụng vào nhà trường phổ thông: Vì trải nghiệm rất đa dạng và phong phú
bởi những loại hình khác nhau, chúng tôi cho rằng học sinh khi tham gia các hoạt
động trải nghiệm sáng tạo do nhà trường tổ chức cũng sẽ rất đa dạng và khác nhau.
Vì thế, không nên hiểu một cách cứng nhắc là bắt buộc phải tố chức hoạt động cho
các em học sinh ở ngoài trời mới là trải nghiệm. Trên thực tế, khi học sinh được tham
gia trực tiếp vào hoạt động trên lớp, được tương tác trực tiếp với sự vật, hiện tượng,
con người và hình thành được kinh nghiệm cho bản thân, như vậy có nghĩa là học
sinh đã được trải nghiệm. Hiểu đúng bản chất của trải nghiệm, nếu không có điều
kiện để tổ chức hoạt động cho học sinh ngoài trời, có thể tổ chức trong phạm vi lớp
học, sử dụng các phương pháp, hình thức phù hợp như: giải quyết tình huống, tố chức
câu lạc bộ... tạo điều kiện tốt cho học sinh có những trải nghiệm phong phú.

14


1.1.1.3. Sáng tạo
Khái niệm sáng tạo được sử dụng đồng nghĩa với nhiều thuật ngữ khác như: sự
sáng tạo, tư duy hay óc sáng tạo Các thuật ngữ này đều có liên quan đến một thuật

xét trên bình diện cá nhân, còn tạo ra cái mới liên quan đến cả một nền văn hóa thì
sáng tạo đó được xét trên bình diện xã hội.

15


1.1.1.4. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một khái niệm mới trong dự thảo về “Đổi mới
chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau 2015”.
Để xác định được khái niệm “hoạt động trải nghiệm sáng tạo”, cần xuất phát từ
các thuật ngữ "hoạt động”, “trải nghiệm”, “sáng tạo” và mối quan hệ qua lại giữa
chúng với nhau. Tuy nhiên, nó cũng không phải là phép cộng đơn giản của ba thuật
ngữ trên, bởi trong hoạt động đã có yếu tố trải nghiệm và sáng tạo. Chỉ có những hoạt
giáo dục có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành phẩm chất và năng lực cho người
học, dành cho đối tượng học sinh đảm bảo ba yếu tố Hoạt động - Trải nghiệm
Theo dự thảo chương trình giáo dục phố thông mới công bố ngày 21 tháng 7
năm 2017, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục trong đó từng học
sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự
hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cám, đạo đức, các kỹ
năng và tích luỹ kinh nghiệm riêng của cá nhân. Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động
được coi trọng trong từng môn học; đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng bố trí các
hoạt động trải nghiệm sáng tạo riêng, mỗi hoạt động này mang tính tổng hợp của
nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau.
Nhìn chung, có nhiều cách hiểu khác nhau về TNST, nhưng nhìn chung, TNST
được coi là hoạt động giáo dục, được tổ chức theo phương thức trải nghiệm và sáng
tạo nhằm góp phần phát triển toàn diện nhân cách học sinh.
Trên cơ sở phân tích các khái niệm (thuật ngữ) liên quan, từ các góc độ nghiên
cứu khác nhau, có thể đưa ra nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động trải
nghiệm sáng tạo như sau:
Theo nghĩa chung nhất: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục,

toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia
đình, yêu Tố quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
+ Kết quả hoạt động TNST: Hệ thống các kỹ năng xã hội, năng lực xã hội,
phẩm chất đạo đức, giá trị sống.
Nếu coi hoạt động TNST có giá trị tương đương với một môn học (theo cách
quan niệm trong dự thảo đổi mới chương trình giáo dục phổ thông), có thể quan
niệm: Hoạt động TNST là một hợp phần quan trọng trong chương trình giáo dục phổ
thông, với tư cách như là một môn học, có nội dung chương trình cụ thể, phương
pháp, đánh giá... được các nhà sư phạm thiết kế, nhằm mục tiêu phát triển toàn diện
nhân cách học sinh, đặc biệt nhấn mạnh tạo điều kiện để người học trực tiếp tham gia
các loại hình hoạt động giáo dục, phát huy năng lực sáng tạo.
Như vậy, hoạt động TNST được coi là một không gian giáo dục trong nhà
trường phổ thông, trong đó có sự tích hợp nội dung học tập trong nhà trường từ các
môn học gắn với kinh nghiệm của bản thân học sinh trong cuộc sống và năng lực sở
trường của học sinh trong từng lĩnh vực để thích nghi với cuộc sống thực đang diễn ra
bên trong và bên ngoài nhà trường. Đó cũng là không gian để tổ chúc các hoạt động
giáo dục đa dạng như giáo dục định hướng nghề nghiệp, các hoạt động giáo dục phát
triển năng lực chuyên biệt, khác biệt cho các nhóm học sinh, gắn hoạt động của nhà
trường với cuộc sống, tạo sự liên kết đa dạng giữa các môn học trong những tình
huống thực tiễn, xây dựng các giá trị cuộc sống cho công dân theo định hướng các kỹ

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status