SKKN vài kinh nghiệm về tổ chức hoạt động học trong bộ môn lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh - Pdf 65

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Bác Hồ đã nói:
“Dân ta phải biết sử ta.
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"
Lịch sử là môn học mang tính nhân văn và phát triển con người. Nó không
chỉ hướng con người biết về những mối quan hệ hiện tại, kết nối hiện tại với quá
khứ, mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển trong tương lai. Môn học này không
thể thiếu trong chương trình giảng dạy ở hầu hết các nước trên thế giới.
Với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay đã và đang đưa đến rất nhiều cơ hội
và những thách thức lớn cho các quốc gia dân tộc, một trong những cơ hội lớn
nhất đó chính là các nước đang phát triển có thể khai thác các nguồn vốn đầu tư,
kĩ thuật công nghệ và kinh nghiệm quản lí từ bên ngoài, nhất là các tiến bộ về
khoa học – kĩ thuật để có thể “đi tắt đón đầu” [3], rút ngắn thời gian xây dựng và
phát triển đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ thuận lợi, các quốc gia cũng gặp không
ít những khó khăn thách thức, một trong những khó khăn thách thức đó chính là
nguy cơ bị tụt hậu. Việt Nam cũng không tránh khỏi những nguy cơ thách thức
đó. Vì vậy, tận dụng thời cơ và vượt qua những khó khăn thách thức chính là
vấn đề không chỉ của riêng một nghành hay riêng một người, mà là sự chung tay
nỗ lực của cả dân tộc Việt Nam, trong đó lĩnh vực giáo dục đóng vai trò hết sức
quan trọng.
Bài học về “con người” là chìa khóa thành công từ Nhật Bản, bài học từ
việc áp dụng những thành tựu khoa học – kĩ thuật hiện đại của Mĩ và các nước
châu Âu. Tất cả đều gắn với vai trò của giáo dục.
Việt Nam là đất nước có nền văn hiến, truyền thống hiếu học lâu đời. Thân
Nhân Trung đã từng nói “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh
thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp".
Giáo dục là quốc sách, đất nước muốn phát triển, dân giàu và nước mạnh đều
phụ thuộc vào trình độ văn hóa cũng như nền giáo dục của nước nhà.
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển của đất

Xuất phát từ nguyên nhân đó, cùng với kinh nghiệm của bản thân trong
năm học 2017-2018 vừa qua, tôi xin được mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Vài
kinh nghiệm về tổ chức hoạt động học trong bộ môn lịch sử theo định
hướng phát triển năng lực học sinh” với mong muốn góp phần nhỏ cùng các
thầy cô trong sự nghiệp đổi mới giáo dục nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Có thể nói, phương pháp dạy học là một yếu tố quan trọng bậc nhất để
mục tiêu, chất lượng, hiệu quả giáo dục phổ thông đáp ứng được yêu cầu đổi
mới giáo dục, kỳ vọng của xã hội, đất nước trong bối cảnh hội nhập. Tính cấp
thiết việc đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra và đang quyết tâm thực
hiện. Đây không phải là câu chuyện đơn giản, giải quyết trong một sớm một
chiều mà cần có sự nỗi lực ý chí quyết tâm của đội ngũ các thầy cô. Bởi tâm lý
ngại thay đổi do sống và làm việc quá lâu với thói quen cũ, đặc biệt, có nhiều
thầy cô tâm huyết, nỗ lực trong việc tìm tòi đổi mới phương pháp, mỗi tiết dạy
đều thể hiện tinh thần đổi mới, lấy học sinh làm trung tâm, dùng nhiều hình thức
để dẫn dắt, gợi mở, phát huy tính chủ động, tính cực của học sinh. Bên cạnh đó,
còn nhiều thầy cô chỉ dạy phương pháp dạy học mới mang tính đối phó và nặng
thành tích như chỉ khi thao giảng, có đồng nghiệp dự giờ..., hoặc còn lúng túng
trong phương pháp tổ chức dạy học, có tổ chức hoạt động học theo định hướng
lấy học sinh làm trung tâm nhưng kỹ thuật và phương pháp còn đơn sơ, thiếu
sức hấp dẫn cuốn hút, thậm chí phản tác dụng, dẫn đến học sinh không hứng thú,
thầy cô chán nản.
Vậy làm thế nào để đổi mới phương pháp dạy học một cách có hiệu quả
và đồng bộ, khơi gợi sự đam mê và hứng thú đối với mỗi thầy cô trong quá trình
tổ chức dạy học? Làm thế nào để thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo
lối "truyền thụ một chiều"[2] sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn
luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất một cách có hiệu quả nhất? Có
những phương pháp kỹ thuật nào trong tổ chức hoạt động học theo hướng phát
huy tính tích cực của học sinh ở bộ môn lịch sử?
Mục đích nghiên cứu đề tài của tôi chính là đưa ra được những giải pháp

tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Ngày 4-11-2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI Nghị quyết số 29NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Văn kiện nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt
động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy và học” [3]
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh:
"Ngày nay, khi tri thức đã trở thành yếu tố hàng đầu để phát triển kinh tế tri thức
thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục là đòn bẩy quan trọng
3


để đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển xã hội bền vững” [3].
Sự đổi mới dạy học lịch sử là yêu cầu quan trọng, cấp bách để hiểu đúng
quá khứ, có tác dụng giáo dục thế hệ trẻ cho hôm nay và mai sau. Mục tiêu của
môn lịch sử không dừng lại ở kiến thức mà làm thế nào để những kiến thức đó
thấm sâu vào nhận thức của học sinh, biến thành hiểu biết của chính các em một
cách hứng thú. Do đó, phương pháp dạy học của mỗi giáo viên rất quan trọng.
Thầy giáo dạy hay, học sinh mới yêu thích môn học. Tuy nhiên, “dạy hay” ở đây
không có nghĩa là giọng giảng hay, thuộc lòng các con số, sự kiện theo kiểu
“thầy đọc, trò chép” như lối cũ. “Thầy dạy hay” chính người tổ chức, dẫn dắt,
khơi dậy được hứng thú học tập bộ môn, linh hoạt, mềm dẻo, luôn tạo cơ hội để
học sinh tham gia và làm chủ hoạt động nhận thức, cung cấp những nhiệm vụ

hình thức thông qua tài liệu bồi dưỡng hay những buổi tập huấn. Thực tế, việc
áp dụng đổi mới chưa thực hiện rộng rãi, có khi còn mang tính hình thức, đối
phó. Chỉ những giờ dạy thao giảng, có đồng nghiệp đến sự mới thực hiện.
Thứ hai: Một số thầy cô còn thiếu kiên trì với cái mới, chưa đầu tư, tìm
tòi nghiên cứu cho giờ dạy. Việc sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh trong mỗi giờ dạy còn ít.
Thứ ba: Tâm lý thói quen, lối cũ khó bỏ. Lại do đặc thù bộ môn, rằng lịch
sử là phải ghi nhớ. Cộng thêm đó, SGK còn nặng kiến thức, nhiều những con số,
sự kiện khô khan, khó học, khó nhớ. Hình thức thi kiểm tra đánh giá lại yêu cầu
phải nhớ, phải thuộc nên tâm lý thầy cô là dạy theo kiểu “ôm đồm” kiến thức.
Cái gì cũng muốn truyền tải đến học sinh vì sợ bỏ sẽ thiếu nên phương pháp
truyền thống “thầy đọc, trò chép” vẫn còn là chủ yếu.
Thứ tư: Để thiết kế một giờ dạy theo phương pháp mới ở bộ môn lịch sử,
thì cần đảm bảo về cơ sở vật chất và trang thiết bị. Cần sự đầu tư công phu, có
khi là thầy cô phải tự bỏ tiền để mua sắm thêm phương tiện, đồ dùng dạy học
trong khi kinh phí hỗ trợ của nhà trường còn hạn chế.
Xin dẫn chứng cụ thể về thực trạng trong một tiết dạy lịch sử thường được
tiến hành như sau:
Ở tiết 2, bài 12 “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến 1925”
chủ yếu sẽ diễn ra theo các bước truyền thống như:
- Kiểm tra bài cũ: Giáo viên đặt câu hỏi, học sinh lên bảng trả lời (học
thuộc lòng và đọc thuộc)
- Bài mới:
+ Dẫn dắt: giáo viên sẽ tự dẫn dắt mà chủ yếu bằng cách tóm lược lại kiến thức
ở tiết trước, học sinh lắng nghe.
+ Tiến trình thực hiện bài mới, chủ yếu thông qua việc giáo viên đặt câu hỏi, học
sinh theo dõi SGK và trả lời. Giáo viên kết luận, đồng thời nhấn mạnh kiến thức
trọng tâm (bằng giọng giảng, bằng cách viết lên bảng), và học trò sẽ ghi vào vở.
+ Phần củng cố: Giáo viên cũng sẽ tự củng cố, học sinh lắng nghe và ghi nhớ.
+ Bài tập, dặn dò: Giáo viên (có thể hoặc không) giao bài tập, đồng thời dặn dò

xem trích đoạn phim tư liệu
- Tạo hứng thú bài học
- Trò chơi
2.
Học sinh tự chiếm lĩnh kiến
Hình thành thức mới thông qua hệ thống
kiến thức.
các bài tập, nhiệm vụ.

3.
tập
4.
dụng

Luyện
Vận

5.
Hoạt
động
tìm
tòi mở rộng

- Tổ chức hoạt động cá nhân, tập
thể, nhóm
- Các trò chơi như ghép đôi...
- Kết hợp trò chơi với hoạt động
cá nhân, nhóm.
- Kỹ thuật mảnh ghép
- Vận dụng kiến thức liên môn


được sự thống nhất, tương tác mà trong đó, giáo viên giữ vai trò chỉ đạo, hướng
dẫn, trọng tài; học sinh không chỉ là đối tượng của hoạt động dạy mà cũng chính
là chủ thể của hoạt động học?
Với thời gian nghiên cứu và thử nghiệm, cùng với những kinh nghiệm của
bản thân là giáo viên trực tiếp áp dụng phương pháp dạy học mới theo định
hướng phát huy tính tích cực của học sinh, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kinh
nghiệm đã được thực hiện cụ thể tại bài 12 “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt
Nam từ 1919 – 1925” – tiết 2 (chương trình LSVN lớp 12) và “Ôn tập lịch sử
thế giới cận đại” (chương trình LSTG lớp 11)
Thứ nhất, tổ chức hoạt động khởi động, nêu vấn đề.
Hoạt động khởi động (tạo tình huống xuất phát) rất cần thiết trong dạy học
nhằm phát triển năng lực cho học sinh [1]. Hoạt động này cần tạo ra những tình
huống, những vấn đề mà ở đó người học cần được huy động tất cả các kiến thức
hiện có, những kinh nghiệm, vốn sống của mình để cố gắng nhìn nhận và giải
quyết theo cách riêng của mình và cảm thấy thiếu hụt kiến thức, thông tin để giải
quyết. Như vậy, hoạt động tạo tình huống xuất phát là một hoạt động học tập,
nhiệm vụ chuyển giao của giáo viên phải rõ ràng, học sinh phải được bày tỏ
ý kiến riêng của mình cũng như ý kiến của nhóm về vấn đề đó cũng như việc
trình bày báo cáo kết quả.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, một số giáo viên còn lạm dụng hoạt
động này, hoặc là giáo viên tự dẫn dắt vào bài , hoặc tổ chức trò chơi, v.v... làm
mất quá nhiều thời gian và loãng nội dung bài học.
Vì vậy, để tổ chức hiệu quả hoạt động này, giáo viên cần:
- Xác định rõ mục đích yêu cầu bài học.
- Xác định kiến thức trọng tâm của bài từ đó lựa chọn phương pháp tổ chức hoạt
động phù hợp.
- Tìm kiếm từ nhiều nguồn thông tin, nhiều kênh (sách GK, sách tham khảo, các
trang web...) để xác định và lựa chọn cái mình cần sử dụng vào nội dung hoạt
động.

Hình ảnh minh họa được cắt từ bài giảng
8


Qua theo dõi những hình ảnh, gợi hứng thú học tập của học sinh khi tìm
hiểu về phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1919 đến năm 1925, đặc biệt
là những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn này. Qua đó để thấy
được nét mới trong phong trào dân tộc dân chủ ở nước ta sau chiến tranh thế
giới thứ nhất. Từ đó, giáo viên dẫn dắt vào bài mới:
Đây là một số hình ảnh tiêu biểu phản ánh về phong trào dân tộc dân chủ
ở Việt Nam trong những năm từ 1919 đến 1925 - một giai đoạn lịch sử quan
trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc ta. Vậy phong trào dân tộc dân chủ ở Việt
Nam từ năm 1919 đến 1925 có nội dung gì? Ý nghĩa của nó đó đối với sự
nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam? Những vấn đề này chúng ta
sẽ giải quyết qua bài học hôm nay.
Với cách dẫn dắt nêu tạo tình huống/nêu vấn đề, ngay từ khi vào bài đã lôi
luôn học sinh ko chỉ khiến các em chú ý mà còn tạo sức hấp dẫn ngay từ đầu,
kích thích sự tìm tòi khám phá của các em đối với bài học.
Tuy nhiên, lưu ý khi thực hiện:
- Không ôm đồm kiến thức, ko lạm dụng hình ảnh hay video minh họa sẽ dẫn
đến nội dung nặng nề, lê thê, hoặc xa rời nội dung bài học, làm loãng kiến thức.
- Cân nhắc khi lựa chọn và sử dụng nguồn hình ảnh hoặc video, tránh gây phản
cảm hay sai lệch lịch sử.
- Nội dung hoặc câu hỏi phải thực sự có “vấn đề” mới đủ sức cuốn hút học sinh.
- Có thể tổ chức dưới hình thức cá nhân, nhóm...tùy vào cách giáo viên dẫn dắt.
Thứ hai, tổ chức hoạt động hình thành kiến thức.
Đây là hoạt động quan trọng nhất trong tiến trình dạy học. Bởi hoạt động
này giúp học sinh tìm hiểu và nắm bắt kiến thức của bài học, rèn luyện các kĩ
năng lĩnh hội kiến thức. Đây cũng là hoạt động mà người giáo viên có thể vận
dụng sử dụng và kết hợp nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau

+ Chuyển giao nhiệm vụ:
GV đặt câu hỏi: Lịch sử thế giới cận đại được mở đầu và kết thúc bằng
những sự kiện nào? Thời gian?
+ Tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ: HS nhớ lại kiến thức đã học, trả lời câu hỏi.
+ Báo cáo sản phẩm.
+ GV nhận xét, bổ sung bằng trục thời gian.

Hình ảnh minh họa được cắt từ bài giảng
- Hoạt động cặp đôi
+ Chuyển giao nhiệm vụ:
+ GV tổ chức trò chơi: Nhanh mắt, nhanh tay.
Học sinh tự lựa chọn bạn đồng hành thành từng cặp đôi. Hai cặp sẽ lên
bảng lựa chọn mảnh ghép sự kiện để dán vào chỗ trống sao cho đúng với cột
mốc thời gian. Đội nào nhanh, đúng sẽ có phần thưởng.
Tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ: học sinh chọn cặp đôi, lên bảng thực hiện luật
chơi.
+ Báo cáo sản phẩm
+ Giáo viên nhận xét, chốt ý.
10


Hình ảnh về trò chơi cặp đôi do tôi chuẩn bị
Ưu điểm của phương pháp hoạt động cặp đôi là tạo không khí sôi nổi,
khẩn trương trong hoạt động học, các em nhút nhát dễ hòa nhập, tăng kĩ năng
hợp tác. Giúp các em ghi nhớ được kiến thức một cách hiệu quả mà không nặng
nề.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, giáo viên nên phân công hợp lý để
các em hoạt động hợp tác có hiệu quả. Hoạt động có thể gây ồn ào ảnh hưởng
tới lớp bên cạnh, hoặc thời gian kéo dài dẫn đến giáo viên không làm chủ được
thời gian hợp lý.

hoặc hoạt động nhóm cho phù hợp, không nên thực hiện phương pháp này này
một cách hình thức. Không nên lạm dụng hoạt động nhóm và cần đề phòng xu
hướng hình thức (tránh lối suy nghĩ: đổi mới phương pháp dạy học là phải sử
dụng hoạt động nhóm).
+ Trong suốt quá trình học sinh thảo luận, giáo viên cần đi đến các nhóm, quan
sát, lắng nhe, gợi ý, giúp đỡ hs khi cần thiết.
Thứ ba, hoạt động luyện tập
Với mục đích nhằm củng cố và khắc sâu và nâng cao kiến thức đã học
trong bài, đồng thời giúp học sinh biến những kiến thức thành kĩ năng, đặc biệt
đối với bộ môn lịch sử thì hoạt động luyện tập đóng vai trò quan trọng, vì qua
đó học sinh được tiếp cận, được thực hành qua các dạng bài tập khác nhau nhằm
12


“củng cố và ghi nhớ được kiến thức mà không phải bằng học thuộc hay ghi chép
máy móc” [1].
Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao ở hoạt động này thì giáo viên cần
chú ý những điểm sau:
- Luyện tập phải nhằm mục đích và yêu cầu nhất định, không dàn
trải hoặc tránh chỉ tập trung vào một nội dung. Xác định rõ nội dung trọng
tâm bài học mà học sinh cần khắc sâu, ghi nhớ để thiết kế phương pháp và kỹ
thuật phù hợp.
- Luyện tập phải đảm bảo mức độ vừa sức đối với học sinh, không
quá dễ, cũng ko nên quá khó gây hiệu ứng ngược. Ví dụ không nên có những
câu trắc nghiệm hỏi một cách quá đơn giản, ví dụ như: “Ngày 5-6-1911 có ý
nghĩa gì” trong nội dung Nguyễn Ái Quốc từ 1919-1925, hoặc “đây là ai” với
phương pháp nhận diện chân dung lịch sử bằng hình ảnh của Nguyễn Ái Quốc.
- Thời gian luyện tập không nên kéo dài và lặp đi lặp lại một hoạt
động dễ gây nhạt nhẽo và nhàm chán. Nên tổ chức các hoạt động luyện tập,
thực hành thông qua ít nhất 2 hoạt động (cũng không nên nhiều quá 3 hoạt

D. Giai cấp địa chủ phong kiến
Câu 3: Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX chủ nghĩa tư bản phát triển:
A. Không đều về kinh tế và chính trị
B. Phát triển đồng đều
C. Chậm phát triển về mọi mặt
D. Chỉ phát triển về quân sự và thuộc địa
Lưu ý, khi thiết kế bài tập dạng này trên bằng giáo án điện tử, giáo viên
nên sử dụng hiệu ứng + âm thanh cho sinh động, hấp dẫn. Ví dụ khi trả lời trắc
nghiệm, giáo viên nên sử dụng đồng hồ đếm ngược có âm thanh tính thời gian
và có chuông báo hết giờ, như vậy sẽ tăng phần kịch tính.
Ví dụ 2: Ở bài “Phong trào dân tộc dân chủ Việt Nam từ 1919 – 1925”
(tiết 2) – (LSVN lớp 12)
Do đặc trưng kiểu bài là tiếp thu và hình thành kiến thức mới chứ không
phải dạng bài ôn tập, nên tôi sử dụng 2 hoạt động sau đây:
Bài tập 1: Em hãy lựa chọn đáp án đúng vào các cột bên cho phù hợp với
kiến thức: (giáo viên chuẩn bị sẵn vào giấy A-0, học sinh lên bảng dùng bút dạ
tích trực tiếp vào)
TT Các hoạt động
Giai
Giai cấp Giai
cấp TS TTS
cấp CN
1
2
3
4
5
6
7


còn nhiều điều cần học hỏi, khám phá.
Ví dụ, ở bài bài “Phong trào dân tộc dân chủ Việt Nam từ 1919 –
1925” (tiết 2-LSVN lớp 12), tôi chia theo tổ, mỗi tổ sưu tầm những hình ảnh về
hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ 1919 đến 1925 (khuyến khích những hình
ảnh hiếm, ngoài sách GK), Yêu cầu: Kẹp thành quyển theo thứ tự thời gian và
có chú thích rõ ràng. Học sinh tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ tại nhà, sau đó
báo cáo sản phầm bằng bài thu hoạch.
Hoặc với bài Ôn tập lịch sử thế giới cận đại lớp 11, tôi giao nhiệm vụ cho
các em như sau: Từ những nội dung đã học, đặc biệt là cuộc chiến tranh thế giới
thứ nhất (1914 – 1918), em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày
suy nghĩ của bản thân về thông điệp của V. Hugo: “Hòa bình là đức hạnh của
nhân loại, chiến tranh là tội ác”. Học sinh tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ tại
nhà, sau đó báo cáo sản phầm bằng bài thu hoạch.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau thời gian nghiên cứu tìm tòi, áp dụng, tôi đã thu được những kết quả
như sau:
15


Thứ nhất, đối với hai giờ dạy “Phong trào dân tộc dân chủ Việt Nam từ
1919 – 1925” (tiết 2-LSVN lớp 12) và “Ôn tập lịch sử thế giới cận đại” (LSTG
lớp 11): Tôi thiết kế và thực hiện các phương pháp trong hoạt động dạy học theo
hướng đổi mới, tuy còn những hạn chế nhất định nhưng khi thực hiện dạy tại các
lớp 12 và 11 do tôi đảm nhiệm đã thu được những kết quả tích cực, thể hiện:
+ Lớp thực hiện dạy đổi mới và không đổi mới:
Lớp 12B1
Lớp 12B2
Dạy học truyền thống x
x
Dạy học theo phương

quả thu được như sau: (thực hiện đối với 80 em ở 2 lớp)
Kết quả bài kiểm tra
Tính phần trăm
Điểm giỏi (9-10)
32 bài
40 %
Điểm khá(7-8)
35 bài
43,75%
Điểm TB(từ 5 -6)
12 bài
15 %
Điểm yếu(từ 3-4)
1 bài
1,25%
Điểm kém (từ 0-3)
không có

Nhìn vào kết quả so sánh từ 2 bảng trên ở các lớp ta thấy kêt quả khác hẳn
nhau: Đối với các lớp không thực hiện đổi mới: số điểm giỏi chỉ 10 bài chiếm tỉ
lệ 12,5%, chủ yếu là điểm TB là 37 bài chiếm tỉ lệ 46,25%. Điểm yếu còn nhiều,
thậm chí có một điểm kém.
Đối với 2 lớp thực hiện đổi mới: số điểm giỏi lên tới 32 bài chiếm tỉ lệ
40%, số điểm khá là 35 bài chiếm tỉ lệ 43,75%, điểm, số điểm TB giảm hẳn,
điểm yếu chỉ 1 bài, điểm kém không có.
Thứ hai, qua quan sát thực tế từ các giờ dạy áp dụng theo phương pháp
mới, tôi nhận thấy thái độ và tinh thần học tập của các em khác hẳn so với thời
gian chưa hoặc có áp dụng phương pháp mới nhưng chưa rõ ràng. Đó là các em
hăng hái đón nhận và hào hứng tham gia mọi hoạt động học. Cách các em sôi
nổi trao đổi, thảo luận, bàn bạc để cùng đưa ra hướng giải quyết hay đáp án cho

phương pháp dạy học. Đổi mới không chỉ để phù hợp với xu thế phát triển
chung của đất nước, của thế giới, mà đổi mới còn để đào tạo ra “thế hệ trẻ tương
lai không chỉ giỏi về kiến thức mà còn giỏi về kĩ năng”[3]. Đặc biệt đối với bộ
môn lịch sử, khi những quan niệm dường như đã ăn sâu vào suy nghĩ mọi người
rằng học môn lịch sử là phải thuộc, phải nhớ, phải ghi phải chép, rằng môn lịch
sử chẳng có gì hay ho ngoài những con số, những sự kiện khô khan...thì việc đổi
mới phương pháp dạy học là cách tốt nhất để chấm dứt những quan niệm sai lầm
về bộ môn lịch sử !
Có thể nói, phương pháp dạy học là một yếu tố quan trọng bậc nhất để mục
tiêu, chất lượng, hiệu quả giáo dục phổ thông đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo
dục, kỳ vọng của xã hội, đất nước trong bối cảnh hội nhập. “Tính cấp thiết việc đổi
mới phương pháp dạy học”[3] được đặt ra và đang quyết tâm thực hiện. Tuy nhiên,
đây không phải là câu chuyện đơn giản, giải quyết trong một sớm một chiều, cần có
một lộ trình nhất định, đặc biệt là nỗ lực, ý chí, từ nhiều phía, các cấp quản lý giáo
dục, đội ngũ giáo viên đến đối tượng học sinh chúng ta.
Thay cho lời kết, xin trích dẫn câu nói của TS Vũ Ngọc Anh, Viện Khoa
học Giáo dục Việt Nam chia sẻ quan điểm về đổi mới PPDH hiện nay: “Đổi mới
PPDH trong trường phổ thông không phải là một mong muốn chủ quan, một
phong trào quần chúng với sự tự nguyện hoặc không mà là một yêu cầu khách
17


quan, cấp thiết, có cơ sở pháp lý, lý luận, thực tiễn đối với mọi trường học,
mọi giáo viên” [3].
2. Kiến nghị:
Để góp phần vào việc đổi mới phương pháp giáo dục, tôi xin đưa ra một số kiến
nghị sau:
Một là, việc đổi mới phải được xác định rõ ràng là nhiệm vụ của tất cả
các cấp quản lý giáo dục, tất cả các thầy cô giáo và học sinh, nghĩa là phải đồng
bộ chứ không phải của riêng một cá nhân hay một đơn vị, càng không phải là

19


DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Đặng Thị Thu Hằng
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THPT Lam Kinh

TT

Tên đề tài SKKN

1.

Vai trò của người giáo viên
chủ nhiệm trong việc góp
phần giảm tình trạng bạo lực
học đường ở trường THPT.

Cấp đánh giá
xếp loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh;
Tỉnh...)
Sở GD&ĐT
Thanh Hóa

Kết quả


1.3. Đối tượng nghiên cứu

3

1.4. Phương pháp nghiên cứu

3

II. NỘI DUNG

3

2.1. Cơ sở lí luận

3

2.2. Thực trạng vấn đề

4

2.3 Giải pháp

6

2.4. Hiệu quả áp dụng vào thực tế

15

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status