I- Đặt vấn dề:
1. Lí do chọn đề tài
Trí thông minh cảm xúc hay có thể gọi là trí tuệ cảm xúc,năng lực cảm xúc
( Emotional Quatient- viết tắt là EQ ) đã được công nhận là một trong những yếu
tố chủ chốt để có thành công trong sự nghiệp và cuộc đời.Garden - cha đẻ của
thuyết Trí thông minh Đa dạng - từng nhấn mạnh “ Nhiều người có IQ 160 làm
việc không bằng những người có IQ không quá 100, do những người trên có trí
thông minh quan hệ cá nhân yếu hơn những người dưới. Và trong dời sống hàng
ngày, không một hình thức trí tuệ nào quan trọng hơn hình thức ấy cả. Nếu bạn
không có nó, bạn sẽ lựa chọn không đúng người bạn đời, nghề nghiệp của bạn
vv. Nhà trường nhất thiết phải giáo dục cho trẻ hình thức trí tuệ đó.”
Vậy năng lực cảm xúc (EQ) là gì mà lại quyết định sự thành công của một
người hơn cả IQ - chỉ số thông minh ? Năng lực cảm xúc là khả năng nhân thức,
hiểu và truyền đạt cảm xúc. Chỉ số EQ thể hiện khả năng một người hiểu rõ
chính bản thân mình cũng như thấu hiểu người khác. Đó còn là khả năng chế
ngự cảm xúc để thích ứng với hoàn cảnh và kiểm soát các cảm xúc. Người có
EQ cao do vậy dễ thích nghi với hoàn cảnh, luôn tìm được sự hòa hợp trong tập
thể, dễ dàng nhận được sự hợp tác. Các thống kê đã chỉ ra rằng, IQ chỉ đóng
15% vào thành công, 85% thành công được quyết định bởi năng lực cảm xúc EQ.
Năng lực cảm xúc gồm có năng lực cảm xúc cá nhân và năng lực xúc cảm xã
hội. Năng lực cảm xúc cá nhân gồm năng lực tự nhận biết bản thân, năng lực tự
điều chỉnh, năng lực tạo động lực. Năng lực xúc cảm xã họi gồm khả năng thấu
cảm và năng lực giao tiếp.
Năng lưc tự nhận biết bản thân là khả năng chúng ta biết rõ cảm xúc hiện tại
của mình và vai trò của cảm xúc trong công việc, học tập. Khả năng đó giúp
chúng ta biết điểm mạnh điểm yếu của bản thân, can đảm thể hiện những suy
nghĩ chưa được chấp nhận và dám một mình theo đuổi.Năng lực tự điều chỉnh là
khả năng kìm giữ các cảm xúc bốc đồng của bản thân, bình tĩnh, lạc quan cả
trong những khoảnh khắc khó chịu nhât. Năng lực tạo động lực khiến cho chúng
1
cảm, là nguyên nhân dẫn đến những hành động dại dột nông nổi và sự vô cảm ở
2
học sinh. Chẳng hạn như các em chạy theo lối sống đua đòi, đánh nhau hoặc
thản nhiên quay cảnh bạn bị đánh đưa lên mạng xã hội, nghiêm trọng hơn là
những vụ cướp của giết người ở tuổi vị thành niên… Cho nên việc bồi dưỡng
phát triển năng lực cảm xúc cho học sinh nhất là học sinh THPT chính là tạo cho
các em một nền tảng tốt về nhân cách, những kĩ năng xã hội cần thiết, giúp các
em có thể thành côngvững chắc trong tương lai.
2.Mục đích của đề tài:
Xuất phát từ yêu cầu của thực tế cuộc sống và mục tiêu giáo dục trong nhà
trường phổ thông, mục đích của đề tài là qua môn học Ngữ văn bồi dưỡng phát
triển năng lực cảm xúc cho học sinh, trong đó chú trọng vào rèn luyện năng lực
nhận biết và điều chỉnh, năng lực thấu cảm, năng lực truyền đạt thông tin. Với
mong muốn tạo cho các em học sinh có nền tảng nhân cách, có niềm tin vào bản
thân, có động lực học tập và phấn đấu ,nuôi dưỡng ước mơ về tương lai tốt đẹp
( bởi không phải tất cả các em sinh ra đều có chỉ số IQ vượt ngưỡng 100 hay đã
có EQ cao)- những hnân tố dẫn tới thành công, đề tài sẽ đưa ra một số định
hướng bồi dưỡng nâng cao EQ trong dạy học môn Ngữ văn .
II- Tổng quan về đề tài:
Đề tài được thực hiện dựa trên những nghiên cứu của các nhà tâm lí học ,xã hội
học về Trí thông minh cảm xúc hay Năng lực cảm xúc - EQ . trong quá trình dạy
học môn Ngữ văn ở nhà trường phỏ thông, tôi nhận thấy đặc thù bộ môn rất phù
hợp để vừa đảm bảo các yêu cầu kiến thức kĩ năng theo quy định, vừa có thể bồi
dưỡng phát triển năng lực cho học sinh trong đó có năng lực cảm xúc.Thực tế
cho thấy chưa có nhiều tìm hiểu nghiên cứu đưa vấn đè phát triển năng lực cảm
xúc cho học sinh vào môn Ngữ văn. Hoặc cách hiểu năng lực cảm xúc còn hạn
hẹp, đơn gian là tình cảm cảm xúc, là sự rung động trước hình tượng nghệ thuật
hay hiện tượng đời sống. Vì thế tôi cho rằng đề tài đưa ra là tìm tòi thử nghiệm
đường đời . Chỉ số EQ có thể thay đổi phụ thuộc vào yếu tố giáo dục, cả trong
gia dình và nhà trường. Nhà tâm lí Gottman đưa ra một số cách “ huấn luyện
cảm xúc” cho trẻ nhỏ như:
+ Lắng nghe thấu cảm: Cha mẹ, thầy cô phải biết tập trung để nghe,hiểu điều trẻ
cảm nhận và sau đó chia sẻ.
4
+ Thừa nhận cảm xúc của trẻ, không phủ nhận cảm xúc của các em ngay lập tức
khi chưa rõ lí do hay áp đặt cảm xúc của người lớn buộc các em thừa nhận.
+ Tạo ra và sử dụng tình huống có xung đột để trẻ giải quyết…vv.
Nghĩa là về mặt lí thuyết chỉ số EQ hoàn toàn có thể đào tạo và ai cũng có thể sở
hữu nếu chú ý bồi dưỡng, phát triển.
b) Bản chất và mục tiêu dạy học môn Ngữ văn
Trong quá trình dạy học tôi nhận thấy môn Ngữ văn, với bản chất và mục tiêu
môn học , hoàn toàn phù hợp để bồi dưỡng,phát triển năng lực cảm xúc cho học
sinh.
Đã là một môn học,môn nào cũng phải cung cấp kiến thức cho học sinh.
Nhưng xét về bản chất, môn Ngữ văn không đạt mục tiêu cung cấp kiến thức là
chủ yếu như các môn học khác mà hướng đến mục tiêu quan trọng nhất phải đạt
được là bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ, biết rung cảm trước cái đẹp trong văn
chương và trong cuộc sống, từ đó hình thành những tình cảm, phẩm chất tốt đẹp
như yêu thiên nhiên, yêu con người, cuộc sống, trung thực, dũng cảm, vị tha,
nhân ái vv.
Trong nhà trường phổ thông, môn Ngữ văn là môn học khá đặc biệt: vừa là
môn học nghệ thuật, vừa là môn công cụ. Là môn nghệ thuật, giờ học Ngữ văn
( đọc hiểu các tác phẩm, đoạn trích văn học ) trở thành giờ học hình thành năng
lực như năng lực thẩm mĩ, năng lực khám phá cái đẹp. cùng đó là hình thành các
năng lực khác như thấu hiểu, đồng cảm ( với nhân vật, với những nỗi niềm, tư
2- Cơ sở thực tiễn:
Qua quan sát, tìm hiểu thực tế, dạy học trong nhà trường phổ thông vẫn đang
nặng về cung cấp kiến thức, phát triển trí tuệ lôgic hơn là giáo dục kĩ năng sống,
phát triển năng lực cảm xúc. Không khó để thấy trên các báo, mạng xã hội đưa
tin về thực trạng học sinh có những hành vi dại dột, nông nổi, khó hiểu như :
chơi điện tử, đắm mình trong thế giới ảo, gây gổ đánh nhau,đua xe, dùng chất
kích thích, trang phục lố lăng, lời nói thiếu lễ độ, thậm chí cướp của giết người.
Có những học sinh thiếu bản lĩnh, yếu đuối, chỉ cần một câu nói nặng lời của bố
mẹ, điểm thi thấp vv cũng tìm đến cái chết. Tất cả hiện tượng trên đều do các em
thiếu năng lực cảm xúc. Bởi cốt lõi của năng lực cảm xúc là khả năng làm chủ,
kiểm soát bản thân, làm chủ cảm xúc, làm chủ các mối quan hệ. Một học sinh
được cho là giỏi nhưng nếu thiếu hay năng lực cảm xúc thấp thì tương lai như
6
thế nào? Em có thể hòa nhập cộng đồng? có biết sống trách nhiệm? có đủ bản
lĩnh đứng lên sau những thất bại? có làm chủ được bản thân để tránh xa những
cám dỗ? có kịp thích nghi với những thay đổi chóng mặt của xã hội?
Thực tế cũng cho thấy, những học sinh ít đọc sách, nhất là sách văn học và học
kém môn văn thì năng lực truyền đạt thông tin kém, đời sống cảm xúc đơn giản,
thiếu khả năng làm chủ càm xúc bản thân và cảm nhận cảm xúc của những
người xung quanh…
Nhận thấy tầm quan trọng của chỉ số EQ với học sinh và khả năng bồi dưỡng,
phát triển chỉ số này cho các em qua học tập môn Ngữ văn, đề tài đưa ra một số
định hướng trong dạy học bộ môn này.
3- Hướng bồi dưỡng, phát triển năng lực cảm xúc (EQ) cho học sinh qua
môn Ngữ văn:
a) Tăng cường sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong giờ Đọc văn.
Một thời gian dài, cách dạy học truyền thống trong giờ Ngữ văn là thầy cảm
nhận, thẩm bình, truyền lại những ấy đến học sinh. Hoạt động diễn ra trong giờ
Trong giờ Ngữ văn, giáo viên có thể tạo tình huống có vấn đề và tổ chức cho
học sinh giải quyết tình huống theo các cách sau:
a1- Xây dựng tình huống lựa chọn:
Xây dựng tình huống này là giáo viên đặt học sinh trước một sự lựa chọn khó
khăn. Các em phải suy nghĩ, phải có chính kiến của mình và đưa ra lựa chọn nào
đều phải có lí giải thuyết phục. tình huống này phát huy tính chủ động tích cực
cho học sinh, phát triển năng lực cảm xúc cá nhân.
Ví dụ 1: dạy học bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu, có thể đặt tình huống : có ý
kiến cho rằng Vội vàng là bài thơ cổ vũ cho lối sống gấp, sống tận hưởng; ý kiến
khác thì khẳng định bài thơ thể hiện một quan niệm sống tích cực, sống mãnh
liệt, hết mình, biết tận hưởng và tận hiến. Em nghĩ như thế nào về hai ý kiến đó?
Giải quyết tình huống: tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm, sau đó một đại diện
lên trình bày. Lựa chọn đưa ra phải có kiến giải thuyết phục. Sau đó giáo viên
nhận xét và đưa ra lựa chọn phù hợp với nội dung giá trị bài thơ: Vội vàng
không cổ vũ cho lối sống gấp và hưởng thụ ích kỉ. Bài thơ đưa ra cái nhìn mới
mẻ về cuộc sống gắn liền với quan niệm mới về thời gian, tuổi trẻ, từ đó giúp
mọi người nhận ra cần phải quý trọng thời gian từng giây từng phút trong cuộc
8
đời, phải sống mãnh liệt hết mình để cuộc sống không trôi qua vô nghĩa. Điều
này khác với lối sống gấp trong một số người trẻ hiện nay là lối sống hưởng thụ
cá nhân, bất chấp tất cả, không tạo ra những giá trị tốt đẹp cho xã hội.
Ví dụ 2: Dạy truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân, giáo viên đưa ra tình
huống lựa chọn: về nạn đói trong truyện, có ý kiến cho rằng đó là thử thách, ý
kiến khác lại khẳng định đó là cơ hội cho các nhân vật. Em nghĩ như thế nào về
các ý kiến trên?
Giải quyêt tình huống: Học sinh đặt mình vào hoàn cảnh các nhân vật trong câu
chuyện để hiểu, đồng cảm với cảnh ngộ và những khát vọng của nhân vật, từ đó
thấy được hai ý kiến trên không mâu thuẫn hay đối lập nhau mà thể hiện cái
khiến con người này trở nên thô bạo. Trong khi đánh dánh vợ, ông ta cất lên
những tiếng rên rỉ đau đớn bởi có lẽ chính ông cũng đau dớn bởi bế tắc. Hiểu
được như vậy học sinh sẽ ít nhiều cảm thông cho con người này, tuy nhiên cũng
hiểu được không thể vì bất cứ lí do gì mà có quyền bạo hành, chà đạp con người.
Ví dụ2: dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, giáo viên cũng đưa học
sinh vào tình huóng lí giải hành động của nhân vật Chí Phèo: sau khi bị thị Nở
từ chôiú sống thành một nhà, Chí phèo đã thất vọng rồi tuyệt vọng, uống rượu
say và muốn đến trả thù cả nhà thị Nở. Nhưng thay vì đến nhà thị Nở, hắn lại
đến nhà Bá Kiến đòi lương thiện,giết Bá Kiến rồi tự sát?.
a4- Xây dựng tình huống giả định: Là tình huống giáo viên nêu ra một số giả
thiết nào đó khi phân tích tác phẩm văn học để làm rõ vấn đề,sự việc cần tìm
hiẻu. Tình huống này giúp học sinh bộc lộ năng lực thích ứng trong những tình
huống của cuộc sống, học sinh được “nhập vai”, được trải ngiệm cùng nhân vật.
Ví dụ1: các tình huống giả định trong dạy học Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn
Minh Châu): nếu tác giả để cho nhân vật nghệ sĩ chứng kiến cảnh bạo hành
trong gia đình hàng chài rồi mới phát hiện cảnh đẹp như mơ của chiếc thuyền
lưới vó trong sương sớm thì sẽ như thế nào? nếu em là cậu bé Phác trong câu
chuyện em sẽ hành đọng ra sao hay cũng giống như cậu bé dó? nếu người đàn
bà hàng chài chấp nhận giải pháp mà Phùng và Đẩu đưa ra ( li dị người chồng
thô bạo ) thì điều gì xảy ra trong câu chuyện và chủ đề tư tưởng của tác phẩm?
Ví dụ 2: Trong truyện Chí phèo, sau khi giết chết Bá Kiến, Chí phèo vẫn tiếp
tục sống có được không? điều gì sẽ xảy ra?
10
Có thể thấy sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề rất hữu ích đối với sự phát
triển EQ cho học sinh. Các em được chia sẻ, đồng cảm, được bộc lộ kiến giải
của riêng mình, được tham gia trải nghiệm và giải quyết các tình huống. Những
điều này rất quan trọng để bồi dưỡng năng lực cảm xúc cá nhân, nâng cao năng
lực giao tiếp xã hội.
Người thực hiện đề tài: Nguyễn Thị Lan
Tài liệu tham khảo:
12
1-Phan Trọng Luận - Đổi mới giờ họctác phẩm văn chương ở trường THPT.
NXB GD- 1999
2- Đặng Thị Trinh - Vận dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học một số tác
phẩm thơ trữ tình lớp 11 THPT- Trường ĐHSP TPHCM
3- Tìm hiểu phương pháp dạy học nêu vấn đề- Trường ĐH Văn hóa nghệ thuật
quân đội.
4- Tài liệu tập huấn cán bộ quản lí và giáo viên THPT về đổi mới PPDH, kĩ
thuật xây dựng ma trận đề và biên soạn câu hỏi kiểm tra đánh giá. Năm 2017
Mục lục
13
I-Đặt vấn đề
1- Lí do chọn đề tài
1- Mục đích của đề tài
II- Tổng quan về đề tài
III- Phương pháp nghiên cứu
IV- Nội dung đề tài
V- Kết luận
14