SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LÊ LỢI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI KINH NGHIỆM RÈN KỸ NĂNG LÀM KIỂU BÀI SO
SÁNH VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
Người thực hiện: Nguyễn Tú Ngọc Hà
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Lê Lợi
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HOÁ, NĂM 2018
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông, nghị luận văn học
luôn là phần quan trọng và khó bởi dạng bài nghị luận văn học yêu cầu học sinh
vận dụng kiến thức tổng hợp để tạo lập văn bản nghị luận, đặc biệt là dạng bài:
so sánh văn học đối với học sinh hiện nay đang còn là một vấn đề nan giải.
Ngày 01/4/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã gửi Công văn
số 1656/BGDĐT-KTKĐCLGD về việc hướng dẫn tổ chức thi tốt nghiệp
Trung
học phổ thông (THPT) năm 2014, trong đó có nội dung: đề thi môn ngữ văn
có hai phần: Đọc hiểu và làm văn trong đó tỷ lệ điểm của phần nghị luận
văn học chiếm 50% tổng số điểm bài thi. Cũng từ năm đó dạng câu hỏi nghị
luận văn học đưa vào đề thi bắt đầu có sự thay đổi chuyển từ nghị luận về
có tốt mấy cũng chỉ đạt khoảng 4,0 hoặc 5,0 điểm. Ngược lại nếu học sinh
làm tốt phần nghị luận so sánh, văn học các em sẽ có nhiều cơ hội đạt điểm
cao. Như vậy phần nghị luận so sánh, liên hệ văn học góp phần không nhỏ
vào kết quả thi môn Văn cũng như tạo cơ hội cao hơn cho các em xét tuyển
Đại học. Có thể nói ôn tập và làm tốt phần nghị luận so sánh, văn học chính
là giúp các em đạt điểm cao cho bài thi của mình. Vì vậy việc ôn tập bài bản
để các em học sinh lớp 12 làm tốt phần nghị luận so sánh tác phẩm văn học,
làm tốt bài thi của mình càng trở nên cấp thiết.
Đối với học sinh trường THPT nhất là học sinh lớp 12, đây là phần
kiến thức mà các em đang rất quan tâm, mong muốn được các thầy cô củng
cố để chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia. Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy
cũng như vai trò của một giáo viên tâm huyết với nghề, nhiều năm ôn thi Tốt
nghiệp, Đại học, đồng thời góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, tôi đã lựa
chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm : “Một vài kinh nghiệm rèn kỹ năng
làm kiểu bài so sánh văn học cho học sinh lớp 12 Trung học phổ thông”
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thông qua việc hướng dẫn các em học sinh ôn luyện kiến thức lý
thuyết cách làm bài, luyện tập các dạng đề nghị luận so sánh văn học, tôi
muốn nâng cao chất lượng làm dạng bài so sánh, liên hệ tác phẩm văn học
của học sinh THPT nói chung nhất là các em học sinh lớp 12 chuẩn bị bước
vào kì thi THPT Quốc gia nói riêng . Vì thế khi nghiên cứu và thực hiện đề
tài này tôi đã hướng tới các mục đích cụ thể sau:
- Nắm vững những kiến thức lý thuyết cách làm bài so sánh văn học.
- Rèn kĩ năng làm kiểu bài so sánh văn học cho học sinh
- Luyện tập một số đề nghị luận so sánh liên hệ tác phẩm văn học để
rèn kĩ năng làm bài
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
những mới mẻ, độc đáo của đối tượng cũng như những sáng tạo của nghệ sĩ.
Để rèn luyện và hướng dẫn học sinh thực hiện tốt phương pháp này nói riêng,
cảm thụ văn học nói chung, về phía học sinh, giáo viên cần đặt ra những yêu
cầu cụ thể.
Với phân môn Làm văn trong nhà trường phổ thông, khái niệm so sánh
văn học cần phải được hiểu theo hai lớp nghĩa khác nhau.
Thứ nhất, so sánh văn học là một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập
lụân khác như: phân tích, chứng minh, bác bỏ, bình luận… đã được đưa vào
SGK Ngữ văn 11.
Thứ hai, nó được xem như một phương pháp, một cách thức trình bày khi
viết bài nghị luận văn học, tức là một kiểu bài nghị luận văn học. Tuy nhiên, so
sánh văn học như một kiểu bài nghị luận văn học lại chưa được cụ thể bằng
một bài học độc lập trong chương trình ngữ văn THPT.
Vì vậy, từ việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài, mục đích yêu cầu, đến
cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết.
Trong chuyên đề này khái niệm so sánh văn học chủ yếu được hiểu theo
nghĩa là một kiểu bài nghị luận,
2. Cơ sở thực tiễn
Thực tế những năm gần đây, các kỳ thi học sinh giỏi cũng như thi THPT
Quốc gia môn Văn,thường xuất hiện dạng đề so sánh văn học. Mục đích so
sánh văn học là để thấy được điểm tương đồng và khác biệt nhằm làm sáng tỏ
những điểm mới, kế thừa của tác phẩm, hoặc đánh giá những chuyển biến
trong tư tưởng và phong cách của một cây bút trong những tác phẩm viết cùng
một đề tài, một chủ đề…ở nhiều thời điểm khác nhau. Có khi so sánh chỉ để
làm nổi bật một vài chi tiết, hình ảnh, từ ngữ nào đó của tác phẩm. Tuy nhiên
đây là dạng nghị luận mới nên gây khó khăn, lúng túng cho cả giáo viên và học
sinh
Đối với giáo viên trong phân phối chương trình, kiểu bài so sánh văn học
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
(Vội vàng– Xuân Diệu, Ngữ văn 11, Tập 2, NXB Giáo dục 2011)
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.
(Từ ấy– Tố Hữu, Ngữ văn 11, Tập 2, NXB Giáo dục 2011)
Ví dụ 2: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:
“Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị nén lấy hũ rượu cứ uống ừng ựng từng
bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát,
nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi
bạn đầu làng...” (Vợ chồng APhủ - Tô Hoài)
“ Phải uống thêm chai nữa. Và hắn uống. Nhưng tức quá, càng uống lại càng
tỉnh ra. Tỉnh ra chao ôi buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng
thấy hơi cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức...” ( Chí Phèo - Nam Cao)
1.2 . So sánh các vấn đề nội dung tư tưởng của tác phẩm (hoặc đoạn trích).
Những đề văn thuộc dạng này có thể yêu cầu phân tích, so sánh các
phương diện, nội dung tư tưởng như: giá trị hiện thực, tư tưởng nhân đạo, chủ
nghĩa yêu nước…
Ví dụ 1: Cảm hứng quê hương đất nước trong các bài thơ Việt Bắc của Tố
Hữu và đoạn trích Đất nước (trích Trường ca mặt đường khát vọng) của
Nguyễn Khoa Điềm.
Ví dụ 2: Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao qua truỵên ngắn “Chí Phèo”
và Kim Lân qua truyện ngắn “Vợ nhặt”.
1.4. So sánh các vấn đề về hình thức nghệ thuật của tác phẩm (hoặc
của đoạn trích)
vật Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ -Tô Hoài).
2. Biện pháp 2: Rèn kỹ năng so sánh:
- So sánh phải dựa trên cùng một tiêu chí, cùng một bình diện để tránh
khập khiễng.
- So sánh trên nhiều cấp độ: nhỏ nhất là giữa các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh;
lớn hơn là các nhân vật, sự kiện, tác phẩm, tác giả và phong cách…
- So sánh thường đi đôi với nhận xét, đánh giá thì so sánh đó mới trở nên sâu
sắc.
Để thực hiện tốt các thao tác so sánh đòi hỏi học sinh:
+ Phải có vốn tri thức rộng về văn chương kết hợp với trí tụê sắc sảo và
năng khiếu liên tưởng, tưởng tượng.
+ Phải có khả năng nắm vấn đề cụ thể, chi tiết đồng thời có khả năng khái
quát, tổng hợp.
ép.
+ So sánh để làm nổi bật đối tượng, phải tự nhiên, phù hợp không gượng
Như vậy, kiểu bài so sánh văn học ít nhất phải từ hai tác phẩm (hoặc hai
đoạn trích) trở lên. Đối với kiểu bài này, người làm bài phải biết phân tích các
đối tượng trong thế so sánh để tìm ra những chỗ giống nhau, khác nhau, từ đó
hiểu rõ hơn về cái hay, cái đẹp của các tác phẩm, nét độc đáo trong phong cách
của mỗi tác giả…
Kiểu bài này đòi hỏi người làm bài phải có kiến thức lí luận văn học, kiến
thức về văn học sử (tác phẩm và tác giả) phong phú và phải có năng lực khái
quát tổng hợp vấn đề cao. Trong quá trình rèn luyện kỹ năng làm bài cho học
sinh, nếu chúng ta biết chọn và đưa ra nhiều đề văn thuộc dạng này không chỉ
giúp các em củng cố được thao tác phân tích, tổng hợp, khái quát nâng cao vấn
đề mà còn là cơ hội để các em biết xâu chuỗi và vận dụng một cách nhuẫn
sinh tự thành lập các đề văn cảm thụ trong thế đối sánh (thiết lập ngân hàng
đề).
Cách làm như sau: Giáo viên hướng dẫn học sinh cách thiết lập các đề
theo dạng: cùng viết về một đề tài….nhưng mỗi tác phẩm, tác giả lại có những
cách khám phá, thể hiện mới mẻ đặc sắc…chứ không đơn thuần: nêu cảm nhận
của anh/chị về hai nhân vật, hai đoạn văn, đoạn thơ, hai chi tiết, hai hình
ảnh….
Từ đó, các em sẽ thấy rằng các tác phẩm khi được đặt trong thế đối sánh
thì các đối tượng nên cùng loại (gần nhau) để nhận thức được những điều khác
biệt. Tuy nhiên cần xác định được điểm chung, tiêu chí và mục đích của sự đối
sánh trước khi ra đề, sẽ tránh sự khập khiễng, gượng ép khi đặt các đối tượng
cảm thụ quá khác xa nhau trong một đề văn.
4.Biện pháp 4: Rèn kỹ năng làm bài so sánh văn học
4.1.Rèn kĩ năng phân tích đề:
Phân tích đề là một trong những khâu quan trọng quyết định chất lượng
bài văn. Vì vậy, giúp học sinh có được kĩ năng này giáo viên cần trang bị cho
học sinh những kĩ năng cụ thể như:
4.1.1- Rèn kỹ năng phân tích các đối tượng và so sánh để thấy được nét
chung, nét riêng
Ví dụ 1: Cùng viết về đất nước và nhân dân trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp nhưng tác phẩm: “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và
“Việt Bắc” của Tố Hữu là hai thế giới hình tượng riêng, hai giọng điệu trữ tình
riêng, chứa đựng những nỗi niềm riêng của mỗi hồn thơ. Anh/chị hãy phân tích
hai bài thơ trong quan hệ đối sánh để chỉ ra nét riêng của mỗi tác phẩm.
Học sinh biết cách phân tích từng đối tượng so sánh sau đó nhận xét đánh
giá về những điểm tương đồng và khác biệt của các đối tượng so sánh.
4.1.2. Kỹ năng xác định yêu cầu của đề:
Trước hết, cần xác định đối tượng cảm thụ - đối sánh, phạm vi kiến thức
cấu, âm hưởng, giọng điệu, đề tài, chủ đề, tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật.
Bước 2: Nhận xét, đối chiếu để chỉ ra điểm giống và khác nhau. Học sinh
cần có sự phát hiện chính xác, có tiêu chí so sánh rõ ràng, diễn đạt thật nổi bật,
rõ nét, tránh chung chung, mơ hồ.
Bước 3: Đánh giá, nhận xét, lí giải nguyên nhân của sự giống và khác
nhau. Bước này đòi hỏi những tiêu chuẩn rõ ràng, nền lí luận vững chắc, kiến
thức văn học sâu rộng, tránh những suy diễn tuỳ tiện, chủ quan, thiếu sức
thuyết phục.
4.2.2.Cách thức trình bày ý:
Vì là một bài nghị luận nên bố cục một bài văn so sánh văn học cũng có 3
phần: mở bài, thân bài và kết bài. Tuy nhiên chức năng cụ thể của từng phần lại
có những điểm khác biệt so với kiểu bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích,
thơ hay nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi.
Các cách làm bài dạng đề so sánh văn học: thường có hai cách:
- Cách nối tiếp : Lần lượt phân tích hai văn bản rồi chỉ ra điểm giống và
khác nhau
- Cách song song : Tìm ra các luận điểm giống và khác nhau rồi lần lượt
phân tích từng luận điểm kết hợp với việc lấy song song dẫn chứng của cả
hai văn bản minh họa.
* Cách 1: Phân tích theo kiểu nối tiếp: Đây là cách làm bài phổ biến của
học sinh khi tiếp cận với dạng đề này, cũng là cách mà Bộ giáo dục và đào
tạo định hướng trong đáp án đề thi đại học - cao đẳng. Bước một lần lượt
phân tích từng đối tượng so sánh cả về phương diện nội dung và nghệ thuật,
sau đó chỉ ra điểm giống và khác nhau. Cách này học sinh dễ dàng triển khai
các luận điểm trong bài viết. Bài viết rõ ràng, không rối kiến thức nhưng
cũng có cái khó là đến phần nhận xét điểm giống và khác nhau học sinh
không thành thạo kĩ năng, nắm chắc kiến thức sẽ viết lặp lại những gì đã
phân tích ở trên hoặc suy diễn một cách tùy tiện. Mô hình khái quát của kiểu
giọng điệu trữ tình
- Mô hình khái quát của kiểu bài này như sau:
Mở bài:
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Thân bài:
-Giới thiệu vị trí, sơ lược về hai đối tượng cần so sánh.
-So sánh nét tương đồng và nét khác biệt giữa hai hay nhiều đối tượng
theo từng tiêu chí trên cả hai bình diện nội dung, nghệ thuật. Ở mỗi tiêu chí tiến
hành phân tích ở cả hai tác phẩm để có thể thấy được điểm giống, điểm khác.
Học sinh có thể dựa vào một số tiêu chí sau để tìm ý (tất nhiên tùy từng đề
cụ thể có thể thêm, hoặc bớt các tiêu chí).
+ Về nội dung: Đề tài, chủ đề, hình tượng trung tâm (tầm vóc, vai trò, ý
nghĩa của hình tượng), cảm hứng, thông điệp của tác giả…
+ Về hình thức nghệ thuật: Thể loại, hệ thống hình ảnh, ngôn từ, nhịp
điệu, giọng điệu, biện pháp, nghệ thuật..
+ Lí giải vì sao có điểm giống, điểm khác này, nguyên nhân chủ yếu:
+ Do hoàn cảnh lịch sử
+ Do hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân.
+ Do sự chi phối của ý thức hệ và thi pháp hệ thống quan điểm thẩm mĩ.
+ Do cá tính của tác giả.
+ Cơ sở lí luận văn học: Mỗi tác phẩm là số phận của một cá nhân cụ thể,
tác phẩm muốn tồn tại phải có cái khác người, độc đáo, có sự sáng tạo.
Kết bài
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
Cách này hay nhưng khó, nó khắc phục được tất cả các nhược điểm của cách
thứ nhất đòi hỏi học sinh phải có tư duy chặt chẽ logic để tách vấn đề, không
Và:
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”
(Việt Bắc- Tố Hữu)
Hướng dẫn làm đề 1:
Tìm hiểu đề
- Dạng đề: nghị luận so sánh hai hình ảnh, trong hai tác phẩm .
- Đối tượng nghị luận: Hình ảnh bát cháo hành trong truyện “Chí Phèo” (Nam
Cao) và nồi cháo cám trong truyện “Vợ nhặt” (Kim Lân).
- Thao tác: Tổng hợp: phân tích, chứng minh, so sánh…
- Phạm vi dẫn chứng: Tác phẩm Vợ nhặt (Kim Lân) và Chí Phèo ( Nam Cao)
Lập dàn ý
• Mở bài:
- Giới thiệu về đề tài nông thôn và người nông dân
- Giới thiệu Nam Cao, truyện Chí Phèo và chi tiết bát cháo hành
- Giới thiệu Kim Lân, Truyện Vợ nhặt và chi tiết bát cháo cám
II. Thân bài:
• Khái quát về tác giả tác phẩm:
- Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc trước Cách mạng. Ông có tài kể
chuyện tự nhiên hấp dẫn, ngôn ngữ uyển chuyển, gần với lời ăn tiếng nói của
quần chúng, có biệt tài phân tích tâm lí nhân vật. Nhiều tác phẩm thơ văn của
ông thấm đượm ý vị triết lí trữ tình. Tác phẩm "Chí Phèo", truyện ngắn đặc sắc
của Nam Cao. Truyện ngăn “Chí Phèo” nói lên số phận bi thảm của người nông
dân nghèo, lương thiện bị xã hội thực dân phong kiến xô đẩy vào con đường lưu
manh, tội lỗi không cố lối thoát.
* Sự xuất hiện: Hình ảnh này xuất hiện ở cuối truyện, trong bữa cơm đầu tiên
đón nàng dâu mới của gia đình bà cụ Tứ.
* Ý nghĩa:
- Về nội dung:
+ Đối với gia đình Tràng, nồi cháo cám là món ăn xua tan cơn đói, là món ăn
trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới. Qua đó, tác giả đã khắc sâu sự nghèo
đói, cực khổ và thảm cảnh của người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm
1945.
+ Qua chi tiết nồi cháo cám, tính cách của nhân vật được bộc lộ:
Trong bữa cơm ngày đói bà cụ Tứ nói toàn chuyện vui, bà gọi cháo cám là “chè
khoán”, bà vui vẻ, niềm nở, chuyện trò với các con. Bà là người mẹ nhân hậu,
thương con, và có tinh thần lạc quan. Nồi cháo cám là nồi cháo của tình thân,
tình người, niềm tin và hy vọng. Trong hoàn cảnh đói kém, mẹ con Tràng dám
cưu mang, đùm bọc thị, chia sẻ sự sống cho thị. Còn thị thông cảm thấu hiểu gia
cảnh nhà chồng, đón nhận bát cháo cám như đón nhận ân tình của người mẹ
nghèo, “thị điềm nhiên và vào miệng”.Vợ Tràng đã thực sự sẵn sàng cùng gia
đình vượt qua những tháng ngày khó khăn sắp tới.
- Về nghệ thuật:
Chi tiết góp phần bộc lộ tính cách các nhân vật, thể hiện tài năng của tác giả
Kim Lân trong việc lựa chọn chi tiết trong truyện ngắn, góp phần thể hiện giá trị
nhân đạo, nhân văn của tác phẩm: vẻ đẹp tình người trong nạn đói.
4. So sánh:
a. Điểm giống nhau :
+ Biểu hiện của tình người ấm áp, bao dung.
+ Qua đó, thể hiện sâu sắc bi kịch của nhân vật, và tái hiện lại hiện thực xã hội:
bi kịch bị tha hoá, bị cự tuyêt quyền làm người (bát cháo hành) .Dù Chí muốn
lương thiện nhưng cách duy nhất là cái chết để không bị tha hóa nhân cách của
chính mình. Bát cháo cám: thể hiện hiện thực tàn khốc của nạn đói (cám vốn là
thức ăn của con vật thế nhưng giờ đây lại trở thành món ăn quý giá, đặc biệt của
một gia đình).
…………………………………………………………………………………….
Hướng dẫn làm đề 2:
Tìm hiểu đề
- Dạng đề: nghị luận so sánh hai đoạn thơ trong hai tác phẩm.
- Đối tượng nghị luận: Cảm nhận về đoạn thơ Tây Tiến và đoạn thơ Việt
Bắc( Nỗi nhớ thiên nhiên núi rừng trong kỉ niệm )
- Thao tác: Tổng hợp: phân tích, chứng minh, so sánh…
- Phạm vi dẫn chứng: Tác phẩm Tây Tiến( Quang Dũng) và Việt Bắc( Tố Hữu)
Lập dàn ý
• Mở bài:
- Giới thiệu về đề tài thiên nhiên trong thơ ca.
• Giới thiệu về thiên nhiên trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và trong
Việt Bắc của Tố Hữu.
II.Thân bài:
• Khái quát về tác giả tác phẩm
- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, tên tuổi của ông gắn liền với thi phẩm “Tây
Tiến”. Bài thơ Tây Tiến ra đời năm 1948, trích trong tập “Mây đầu ô” là một
trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ là nỗi
nhớ lớn của tác giả về thiên nhiên và đồng đội Tây Tiến. Bốn câu thơ bộc lộ nỗi
nhớ thiên nhiên miền tây - chặng đường hành quân của người lính Tây Tiến.
- Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, lá cờ đầu của thi ca cách mạng Việt
Nam. Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu ra đời vào tháng 10-1954 khi Trung ương
Đảng rời chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội. Bài thơ là tình cảm cách
mạng sâu nặng của những người cán bộ kháng chiến với chiến khu và những kỉ
niệm kháng chiến. Bốn câu thơ là nỗi nhớ về núi rừng Việt Bắc – cội nguồn
kháng chiến.
• Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng.
- Nội dung: Thiên nhiên hùng vĩ dữ dội ở con đường hành quân nhiều gian khổ.
Nhiều từ láy được huy động để diễn tả sự hiểm nguy: “Khúc khuỷu, thăm thẳm,
heo hút”. Phép nhân hóa “súng ngửi trời” diễn tả tinh tế độ cao. Phép tương
+ Thể thơ thất ngôn cũng góp phần làm cho bức tranh thơ thể hiện được những
nét trên.
+ Thiên nhiên trong Việt Bắc thiên về miêu tả sự gần gũi và đồng lòng với con
người Trong Việt Bắc, thiên nhiên có chiều hướng gắn với hiện thực cuộc kháng
chiến khi ta dựa thế rừng núi để đáp trả lại kẻ thù.
+ Thể thơ lục bát biến hóa linh hoạt mang lại một thiên nhiên hùng vĩ nhưng
cũng thật gần gũi.
4. Lí giải sự khác biệt: Quang Dũng viết bài thơ “Tây Tiến” trong những năm
đầu kháng chiến chống Pháp. Hình ảnh người lính còn nhiều khó khăn gian khổ.
Hồn thơ Quang Dũng lãng mạn hào hoa. Bài thơ “Việt Bắc” được Tố Hữu viết
sau kháng chiến chống Pháp. Hồn thơ Tố Hữu là hồn thơ trữ tình chính trị.
III. Kết bài: - Khái quát lại nội dung, nghệ thuật của hai đoạn thơ.
- Đánh giá, mở rộng vấn đề.
2. Kết quả kiểm chứng
Qua điều tra cho thấy kết quả như sau:
Lớp Kết quả khảo sát
Bài viết
Số học sinh biết phân tích đề
40%
Số học sinh biết xác định các bình diện so sánh
50%
12A6 Số học sinh biết so sánh điểm giống và khác
60%
Số học sinh biết lí giải nguyên nhân
5%
Số học sinh biết đánh giá khái quát vấn đề
50%
Số học sinh biết phân tích đề
60%
Số học sinh biết xác định các bình diện so sánh
và phù hợp với cách ra đề thi các cấp hiện nay. Vì vậy, chúng ta hoàn toàn có
thể thực hiện trong các giờ viết bài hai tiết ở lớp hoặc ở nhà đối với HS THPT,
nhất là lớp 12 dựa trên phân phối chương trình. Và tiết trả bài chính là thời gian
để giáo viên rèn kĩ năng so sánh cho học sinh.
Rèn kĩ năng so sánh văn học cho học sinh cũng là cách để GV trau dồi
kiến thức, tăng cường khả năng học hỏi, say mê với chuyên môn, đổi mới
phương pháp giảng dạy và ra đề kiểm tra.
Rèn kĩ năng so sánh văn học cho học sinh còn là cách kích thích sự tìm
tòi, sáng tạo ở HS, khiến các em miệt mài, say mê, ngày càng yêu thích môn
Văn hơn.
2.2.Khả năng áp dụng
Đối tượng: Việc rèn kĩ năng so sánh văn học cho học sinh hoàn toàn phù
hợp với điều kiện dạy học của GV và HS hịên nay, nhất là kì thi THPT Quốc
gia và đổi mới kiểm tra đánh giá trong dạy học ngữ văn ở cá trường THPT.
Phạm vi: GV có thể thực hiện bình thường ở tại lớp học, trong giờ học
thêm, thực hiện vào những tiết trả bài hoặc tự chọn trong chương trình lớp 10,
11, 12.
Nguồn tư liệu tích luỹ : chỉ cần phát động trong tổ chuyên môn, giáo viên
xây dựng ngân hàng đề về dạng bài so sánh văn học. Các tư liệu có thể dựa
vào mạng Internet, đề thi và đáp án đại học, cao đẳng hàng năm, kiến thức về
tác giả, tác phẩm, lí luận văn học…vv, sau đó GV lựa chọn tích lũy và sử dụng
trong quá trình giảng dạy.
Giải pháp này là lâu dài. Nếu chúng ta tích luỹ trong nhiều năm, chúng ta
sẽ chủ dộng trang bị cho môn học những tư liệu dạy học hiệu quả để nâng cao
chất lượng dạy học phục vụ tốt cho các kì thi đặc biệt là thi THPT Quốc gia sắp
tới.
PHẦN III: KẾT LUẬN
Rèn kĩ năng làm làm kiểu bài nghị luận so sánh văn học cho học sinh
là rèn khả năng tư duy logic, tư duy khoa học, khả năng cảm thụ các tác
phẩm văn học, sự nhạy cảm trước những vấn đề của đời sống xã hội. Công
1.Trần Đình Sử, Lý luận và phê bình văn học, NXB Giáo dục, 2000
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn
học,
NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2000
3.Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt , trung tâm từ điển học, 2003
4. Nguyễn Văn Hạnh, Lí luận văn học vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo
dục,1999
5. Phan Trọng Luận, phương pháp dạy học văn, NXB Giáo dục, 2001
6. Nguyễn Thị Thanh Hương, Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở
trường THPT, NXB Giáo dục, 1998
7. Hoàng Ngọc Hiến, Văn học và học văn, NXB Giáo dục, 1990
8 . Nguyễn Thanh Hùng, Hiểu văn dạy văn. NXB Giáo dục, 2002.
9. Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học,
Bộ GD&ĐT. Dự án Việt -Bỉ - NXB Đại học sư phạm.
10. Nguyễn Duy Kha (chủ biên), Ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn,
NXB Giáo dục, 2015
11. 580322222231802898Trần Đình Sử, Quan niệm đọc văn,
www.vanhoanghean.com.vn