VuTranNhatMinh_LuanVan_11.04.2017(Final).pdf
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
VŨ TRẦN NHẬT MINH
THỰC TIỄN THỰC THI CÔNG TÁC
PHÒNG CHỐNG HÀNG GIẢ VÀ CÁC HÀNH VI
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ĐỐI VỚI
TÊN THƯƠNG MẠI VÀ NHÃN HIỆU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
VŨ TRẦN NHẬT MINH
THỰC TIỄN THỰC THI CÔNG TÁC
PHÒNG CHỐNG HÀNG GIẢ VÀ CÁC HÀNH VI
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ĐỐI VỚI
TÊN THƯƠNG MẠI VÀ NHÃN HIỆU
Chuyên ngành: Luật kinh tế
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1 - Bối cảnh nghiên cứu ..............................................................................................1
2 - Mục tiêu nghiên cứu ..............................................................................................2
3 - Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................2
4 - Vấn đề nghiên cứu .................................................................................................3
4.1-Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................3
4.1.1- Câu hỏi nghiên cứu ...........................................................................................4
4.2- Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................4
4.3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................4
4.4- Kết cấu luận văn ..................................................................................................5
PHẦN 2: NỘI DUNG LUẬN VĂN ............................................................................. 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ .................................................................................. 6
1.1. Quy định pháp luật về chống hàng giả và cạnh tranh không lành mạnh trên thế giới.6
1.1.1. Các khái niệm ....................................................................................................6
1.1.2. Quy định pháp luật về chống hàng giả trên thế giới .......................................11
1.1.3. Quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trên thế giới ..............13
1.2. Qui định pháp luật hiện hành về chống hàng giả và cạnh tranh không lành mạnh
đối với tên thương mại và nhãn hiệu tại Việt Nam ...................................................14
1.2.1. Phân tích theo chiều ngang .............................................................................15
1.2.2. Phân tích theo chiều dọc .................................................................................20
1.3. Tiểu kết luận Chương 1 ......................................................................................27
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC THI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG HÀNG
GIẢ VÀ CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ĐỐI VỚI
TÊN THƯƠNG MẠI VÀ NHÃN HIỆU DƯỚI GÓC NHÌN KINH TẾ LUẬT . 28
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI VÀ NHÃN
HIỆU ............................................................................................................................. 59
3.1.1. Cơ sở đề xuất ...................................................................................................59
3.1.2. Giải pháp đề xuất ............................................................................................60
3.2. Nhóm các giải pháp về thực thi..........................................................................63
3.2.1. Cơ sở đề xuất ...................................................................................................63
3.2.2. Giải pháp đề xuất ............................................................................................64
3.2.2.1. Đề xuất cấp độ cao .......................................................................................64
3.2.2.2. Đề xuất cấp độ trung bình ............................................................................65
3.2.2.3. Đề xuất cấp độ thấp ......................................................................................66
3.3. Giải pháp khác ....................................................................................................66
3.3.1. Cơ sở đề xuất ...................................................................................................66
3.3.2. Giải pháp đề xuất ............................................................................................66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
SHTT
: Sở hữu trí tuệ.
SHCN
: Sở hữu công nghiệp.
WTO
: Tổ chức thương mại thế giới.
KH&CN
: Nhà Xuất Bản.
TpHCM
: Thành phố Hồ Chí Minh.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề thực thi, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp cho
những nhãn hiệu nổi tiếng toàn cầu có giá trị thương mại cực lớn trên thế giới vẫn
còn là một khái niệm khá mới mẻ và xa lạ với nhiều doanh nghiệp cũng như các cơ
quan có thẩm quyền thực thi như: Quản lý thị trường, Thanh tra Bộ/Sở Khoa học và
công nghệ, Cảnh sát kinh tế, Hải quan. Luận văn hướng đến việc nghiên cứu sâu về
thực tiễn thực thi công tác phòng chống hàng giả và các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh đối với tên thương mại và nhãn hiệu, chỉ ra những bất cập hiện tại,
những ưu điểm và khuyết điểm, những vấn đề cần phải cải thiện nhằm góp phần
giúp Việt Nam có thể hòa nhập, thích nghi với làn sóng đầu tư mạnh mẽ từ các tập
đoàn đa quốc gia đổ vào Việt Nam trong tương lai. Việt Nam sẽ trở thành một thị
trường thực sự hấp dẫn đối với các doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là sau khi các
hiệp định thương mại lớn song phương và đa phương có hiệu lực. Tác giả tiếp cận
vấn đề dưới góc nhìn kinh tế luật để phân tích tại sao các nhãn hiệu rất nổi tiếng
được nhiều người biết đến trên thế giới luôn phải đối mặt với tình trạng bị vị phạm,
cạnh tranh không lành mạnh; đánh giá mức độ hiệu quả trong công tác thực thi của
các cơ quan có thẩm quyền và cung cấp các góc nhìn đa chiều từ các vụ việc, bản án
thực tiễn.
Từ khóa: “thực thi”, “hàng giả”, “cạnh tranh không lành mạnh”, “tên thương
mại”, “nhãn hiệu”.
1
2
Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng, Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực sở hữu công nghiệp …tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, bất
cập tồn tại trong hoạt động thực tiễn, những kẽ hở pháp lý khiến việc thực thi công
tác phòng chống hàng giả gặp nhiều khó khăn, kẻ xấu lợi dụng nhằm thực hiện các
hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra không thể không nói đến sự thiếu
hợp tác trong công tác thực thi giữa các cơ quan chức năng dẫn đến việc thực thi
lâm vào bế tắc. Luật doanh nghiệp 2014, Luật đầu tư 2014 có hiệu lực vào ngày
01/07/2015 đã đánh dấu thời điểm làn sóng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài sẽ ồ ạt xâm nhập thị trường Việt Nam. Kể từ nay vấn đề thực thi công tác
phòng chống hàng giả và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với tên
thương mại và nhãn hiệu tại Việt Nam sẽ luôn là một đề tài nóng bỏng cần được
nghiên cứu cấp bách để hỗ trợ, phục vụ cho các hoạt động tự do thương mại ngày
càng phát triển, mở rộng.
2 - Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu nguyên nhân những vướng mắc, khó khăn trong cơ chế thực thi quyền
sở hữu công nghiệp nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả công tác phòng chống hàng
giả, hàng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, công tác giám sát hải quan, xử lý
những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xử lý những vi phạm liên quan đến tên
thương mại và nhãn hiệu. Sau đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện các qui định pháp
luật điều chỉnh, rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn thực thi phòng
chống hàng giả và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với tên thương mại và
nhãn hiệu, thúc đẩy sự hợp tác giữa các cơ quan có thẩm quyền thực thi.
3 - Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu học thuyết pháp lý với phương pháp
phân tích và tổng kết kinh nghiệm thông qua các vụ việc điển hình để làm rõ vấn đề
thực thi phòng chống hàng giả và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với
không lành mạnh đối với tên thương mại và nhãn hiệu. Do đó rất cần một công trình
nghiên cứu có khả năng ứng dụng thực tiễn cao, thể hiện rõ hiện trạng hiện nay
trong công tác thực thi phòng chống hàng giả và các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh đối với tên thương mại và nhãn hiệu.
4
Dựa trên những nghiên cứu và kinh nghiệm hành nghề thực tiễn trong các tập
đoàn đa quốc gia, người viết chọn đề tài “Thực tiễn thực thi công tác phòng chống
hàng giả và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với tên thương mại và
nhãn hiệu” với mong muốn có cơ hội tìm hiểu sâu hơn nữa hai khía cạnh này cũng
như đóng góp, bổ sung vào nguồn dữ liệu nghiên cứu về sở hữu trí tuệ và qua đó nâng
cao nhận thức về bảo hộ giá trị nhãn hiệu cho các doanh nghiệp Việt Nam.
4.1.1- Câu hỏi nghiên cứu
1 - Vì sao những quy định pháp luật hiện hành liên quan khó có thể được
thực hiện trong thực tế?
2 - Vì sao việc áp dụng quy định pháp luật trong các tổ chức thực hiện công
tác thực thi phòng chống hàng giả và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
đối với tên thương mại và nhãn hiệu chưa được tiến hành hiệu quả?
4.2- Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: nhằm phân tích, đánh giá thực trạng công tác thực thi
phòng chống hàng giả và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với tên
thương mại và nhãn hiệu, qua đó đề xuất các giải pháp áp dụng pháp luật để công
tác thực thi được tiến hành hiệu quả hơn.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: nghiên cứu những quy định của pháp luật, bản án liên
quan đến công tác thực thi và phòng chống hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu
công nghiệp, giám sát hải quan, cạnh tranh không lành mạnh, thực trạng xử lý
những vi phạm liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với tên
thương mại và nhãn hiệu.
4.3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Quy định pháp luật về chống hàng giả và cạnh tranh không lành
mạnh trên thế giới
1.1.1. Các khái niệm
Theo từ điển Black’s Law Dictionary, cạnh tranh lành mạnh được định nghĩa
“là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng giữa các đối thủ cạnh
tranh trong kinh doanh”1. Khái niệm này đơn thuần chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết
vì cho đến nay, khoa học pháp lý vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào về
cạnh tranh lành mạnh. Ngược lại, cạnh tranh không lành mạnh lại được định nghĩa
trong nhiều hệ thống pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế. Công ước Paris
về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp quy định: “bất cứ hành vi cạnh tranh nào trái
với các hoạt động thực tiễn, không trung thực trong lĩnh vực công nghiệp và thương
mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”2. Ngoài ra, pháp luật cạnh
tranh các quốc gia khác cũng đưa ra những quan điểm không giống nhau về vấn đề
này. Tại Đức “Các hành vi thương mại không lành mạnh bi cấm nếu như nó gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của các đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng
hoặc các bên khác” (§ 3 (1) German Act against UC). Tại Hướng dẫn cạnh tranh
không lành mạnh của Liên minh châu Âu có nêu rõ “Các hành vi thương mại không
lành mạnh bi cấm” (Điều 5 (1) EC Unfair Commercial Practices Directive). Cùng
một vấn đề có người cho rằng lành mạnh, những người khác lại cho rằng không
lành mạnh, thật sự khó khăn khi xây dựng ranh giới rõ ràng và hợp lý giữa lành
mạnh và không lành mạnh (L‘Oréal v Bellure, [2007] EWCA Civ 968 at paras 139,
140 per Jacob LJ). Ở một góc cạnh khác, “Cạnh tranh không lành mạnh không được
biết như là một điều sai trái trong luật” (Swedac v. Magnet & Southerns [1989]
F.S.R. 243 at 249 per Harman J).
1
2
Bryan A. Garner (2004), Black’s Law Dictionary, Eight Edition, NXB. Thomson West, tr.279.
Điều 10 Bis, Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
tranh chấp thương mại, NXB. Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.73.
4
State v. 11c- Kenzie, 42 Me. 302; U. S. v. Barrett (D. C.) Ill Fed. 309; State v. Calvin, It. M. Charlt (Ga.)
159; Mattison v. State, 3 Mo. 421.
5
Khoản 1 Điều 72; khoản 16, Điều 4, Luật SHTT sửa đổi 2009.
6
Điều 129, Luật SHTT sửa đổi 2009.
3
8
Member States relating to trade marks) và Điều 4 Quy định 40/944 của châu Âu
(Council Regulation (EC) No 40/94 of 20 December 1993 on the Community trade
mark) quy định : “một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được
trình bày một cách rõ ràng và chi tiết, đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác
họa hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hóa hoặc của bao bì sản phẩm,
với điều kiện là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch
vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh
khác”. Tại Mỹ, hệ thống pháp luật bảo hộ nhãn hiệu Liên Bang cơ bản được điều
chỉnh bởi đạo luật Lanham (The Lanham Act) do quốc hội Mỹ thông qua ngày
05/07/1946. Trong đó, nhãn hiệu hàng hóa được định nghĩa tại Mục 45, đoạn 1127
Đạo luật Lanham như sau : “Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa bao gồm bất kỳ từ, tên,
biểu tượng, hoặc hình ảnh, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của chúng được sử dụng bởi
một người hoặc có ý định sử dụng trong thương mại và tiến hành nộp đơn đăng
ký nhằm xác định và phân biệt hàng hoá của mình từ những hàng hóa được sản xuất
hoặc được bán bởi người khác và nhằm để chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa, ngay
cả khi nguồn gốc của chúng chưa được biết đến”.
Khả năng phân biệt của nhãn hiệu được quy định tại Điều 74 Luật SHTT:
“Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một
cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70%
trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký,
công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa9.
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa
chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm
hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì
hàng hóa của thương nhân khác.
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn
gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa.
Cục QLTT Bộ Công Thương – Dự án hổ trợ thương mại đa biên (EU – Viet Nam MUTRAP III), 2011. “Sổ
tay Chống hàng giả và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam”, NXB Thông Tin và Truyền Thông, trang
15.
8
Khoản 8, Điều 3, Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương
mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hang cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
9
Khoản 3 Điều 1 Nghị định 124/2015/NĐ-CP
7
10
- Hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật sở hữu trí tuệ
năm 2005 : Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này
bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý và hàng hoá
sao chép lậu.
- Tem, nhãn, bao bì giả.
Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh
doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác
trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh10. Tên thương mại được coi là có khả
Hàng hoá có yếu tố xâm phạm quyền sở hữu đối với tên thương mại là sản
phẩm, hàng hoá hoặc trên bao bì sản phẩm, hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại
trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với phần phân biệt (tên riêng) của tên
thương mại được bảo hộ. Nhãn hiệu, nhãn hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại,
khẩu hiệu kinh doanh (slogan), biểu tượng kinh doanh (logo), kiểu dáng bao bì sản
phẩm, hàng hóa được gọi chung là chỉ dẫn thương mại14.
1.1.2. Quy định pháp luật về chống hàng giả trên thế giới
Khi đề cập đến những quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề chống hàng
giả hay hàng hóa giả mạo nhãn hiệu thì không thể không nhắc đến Công Ước Paris
về bảo hộ SHCN. Công Ước Paris là một văn kiện cực kì quan trọng, đóng vai trò
chủ chốt trong việc xây dựng pháp luật quốc gia về bảo hộ SHCN của các quốc gia
thành viên. Các quốc gia gia nhập và áp dụng Công Ước Paris sẽ hợp thành một
Liên Minh bảo hộ SHCN15.
Ở tất cả các nước thành viên của Liên Minh, tên thương mại được bảo hộ một
cách tự động mà không bị bắt buộc phải nộp đơn hoặc đăng ký, bất kể tên thương
mại đó có hay không là một phần của một nhãn hiệu hàng hoá16. Tại khoản 1, điều 9
Công Ước Paris có quy định “Thu giữ khi nhập khẩu hàng hoá có gắn trái phép
nhãn hiệu hàng hoá hay tên thương mại”. Theo đó quy định này chỉ ra rằng tất cả
hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hoá hoặc tên thương mại một cách bất hợp pháp hay
còn được hiểu là giả mạo nhãn hiệu hay tên thương mại đều bị thu giữ khi nhập
khẩu vào những nước thành viên của Liên Minh nơi nhãn hiệu hàng hoá hoặc tên
thương mại đó được bảo hộ pháp lý. Bên cạnh đó việc thu giữ hàng hóa được thực
hiện tại quốc gia nơi xảy ra việc gắn nhãn hiệu hàng hoá hoặc tên thương mại một
cách trái phép hoặc tại nước nơi hàng hoá đã được nhập khẩu vào cũng được đề cập
tại khoản 2, Điều 9 Công Ước Paris.
Cục QLTT Bộ Công Thương – Dự án hổ trợ thương mại đa biên (EU – Viet Nam MUTRAP III), 2011.
“Sổ tay Chống hàng giả và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam”, NXB Thông Tin và Truyền Thông,
trang 17
15
- Tội phạm sao chép công cụ giả.
- Tội phạm sử dụng công cụ giả.
- Tội phạm sử dụng bản sao chép của công cụ giả.
- Tội phạm liên quan đến chuyển tiền, cổ phiếu, hộ chiếu.
17
http://www.chambersandpartners.com/224/34/editorial/2/1
13
Khung hình phạt cho năm loại tội phạm này là phạt tiền nhưng không quá mức luật
quy định (theo hướng dẫn của Đạo luật Tòa Án 1980 là 1000 bảng18), hình phạt tù
nhưng không quá mười năm.
Chương II quy định sáu loại tội phạm về tiền giả như sau:
- Tội phạm sản xuất tiền/tiền xu giả.
- Tội phạm lưu thông, sử dụng tiền/tiền xu giả.
- Tội phạm liên quan đến lưu thông, sử dụng tiền/tiền xu giả.
- Tội phạm liên quan đến sản xuất, thiết kế tiền/tiền xu giả, sao chép tiền thật.
- Tội phạm tái sản xuất các loại ngoại tệ của Vương Quốc Anh.
- Tội phạm mô phỏng đồng tiền Anh.
Đạo luật cũng quy định cấm nhập khẩu, xuất khẩu tiền/tiền xu giả19. Khung
hình phạt cho sáu loại tội phạm ở trên là phạt tiền nhưng không quá mức luật quy
định (theo hướng dẫn của Đạo luật Tòa Án 1980 là 1000 bảng20), hình phạt tù
nhưng không quá mười năm.
1.1.3. Quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trên thế giới
Điều 10bis Công ước Paris cũng ghi nhận các trường hợp sử dụng nhãn hiệu
nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh, trong đó khẳng định rằng bất cứ hành
động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là
hành động cạnh tranh không lành mạnh. Cụ thể, các hành vi sau đây sẽ bị coi là
cận đến hoặc đối với thành viên trung bình của một nhóm khách hàng đặc thù mà
hành vi cạnh tranh nhắm đến. Đặc biệt tại Điều 5 (4) của chỉ dẫn có quy định các
hành vi cạnh tranh cố ý gây hiểu nhầm hoặc mang tính công kích được xem là
không lành mạnh. Có thể hiểu rằng một hành vi được xem là gây hiểu nhầm nếu
như nó chứa đựng thông tin không chính xác hoặc không đáng tin cậy, lừa dối hoặc
có khả năng lừa dối người tiêu dùng ở mức độ trung bình23; một hành vi được xem
là mang tính công kích nếu nội dung của nó có chứa các đặc trưng, hoàn cảnh gây
nên sự quấy rối, cưỡng ép, ảnh hưởng quá mức, điều đó ảnh hưởng một cách đáng
kể hoặc có khả năng ảnh hưởng một cách đáng kể đến sự tự do lựa chọn của người
tiêu dùng ở mức độ trung bình24.
Hiệp định TRIPS chỉ nhắc đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với
chỉ dẫn địa lý25 và bảo hộ thông tin bí mật26, viện dẫn theo Điều 10bis Công ước
Paris.
1.2. Qui định pháp luật hiện hành về chống hàng giả và cạnh tranh không
lành mạnh đối với tên thương mại và nhãn hiệu tại Việt Nam
Về khía cạnh các quy định pháp lý, Việt Nam đã có một hệ thống bảo hộ
quyền SHTT tương đối ổn, trong đó khung pháp lý bao gồm Luật SHTT và hệ
Điều 5 (1) EC Unfair Commercial Practices Directive
Điều 6 (1) EC Unfair Commercial Practices Directive.
24
Điều 8 EC Unfair Commercial Practices Directive.
25
Điểm b, Khoản 2, Điều 22 TRIPS.
26
Khoản 1 Điều 39 TRIPS.
22
23
15
Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004.
16
cận hoàn toàn khác. Cụ thể, các hành vi sau đây bị coi là hành vi cạnh tranh không
lành mạnh:
a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt
động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;
b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính
năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện
cung cấp hàng hoá, dịch vụ;
c) Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc
tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn
hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử
dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không
được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;
d) Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương
tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc
chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền,
lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại,
chỉ dẫn địa lý tương ứng.
Trong đó Chỉ dẫn thương mại được hiểu là các dấu hiệu, thông tin nhằm
hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu
tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng
hoá, nhãn hàng hoá28. Một điều tiến bộ của Luật SHTT rất đáng được ghi nhận đó là
tại khoản 3 Điều này hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại được giải thích, hiểu theo
phạm vi khá rộng bao gồm các hành vi gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá,
bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện
quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ
dẫn thương mại đó. Với việc được hiểu theo nghĩa rộng như thế sẽ giúp các cơ quan