Tiểu luận môn luật cạnh tranh đề tài hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ và thực tiễn tại VN - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT


TIỂU LUẬN MÔN LUẬT CẠNH TRANH
TÊN ĐỀ TÀI :
HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN
QUAN ĐẾN LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUẾ VÀ THỰC
TIỄN TẠI VN

GVHD : TS. TRẦN THĂNG LONG
SVTH

: DƯƠNG VĂN CĂN-MSSV: 33141021265
HOÀNG MINH TIẾN-MSSV: 33141021441
PHAN VIỆT TUẤN-MSSV: 33141021162

1


Tp.Hồ Chí Minh tháng 09 năm 2015

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................



MỤC LỤC
CẠNH TRANH LIÊN QUAN ĐẾN SỠ HỮU TRÍ TUỆ
Lời nói đầu...................................................................................................4
1. Khái quát chung về cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ................4
2. Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
..............................................................................................................................7
2.1 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh.............................................................7
2.1.1.Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn..................................................................8
2.1.2.Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh...................................................10
2.1.3.Hành vi sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước thành viên là thành
viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở
hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó.............................................................11
2.1.4.Hành vi đăng ký, chiếm giữ, sử dụng tên miền bất hợp pháp..............12
2.2.Hành vi hạn chế cạnh tranh..........................................................................13
3.Giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ..................15
3.1. Khái quát chung.......................................................................................15
3.2. Các biện pháp giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí
tuệ...................................................................................................................15
3.2.1. Biện pháp tự bảo vệ..........................................................................15
3.2.2.Biện pháp hành chính........................................................................16
3.2.3.Biện pháp hình sự..............................................................................18
3.2.4.Biện pháp dân sự................................................................................19
3.3. Những vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến
quyền sở hữu trí tuệ........................................................................................20
3.3.1.Pháp luật............................................................................................21
3.3.2.Áp dụng pháp luật..............................................................................22
4.Một số lưu ý đối với Toà án trong giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến
quyền sở hữu trí tuệ...............................................................................................24

Tài liệu này tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản sau đây:
Cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ;
Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu
trí tuệ;
Những quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết vụ việc cạnh tranh liên
quan đến quyền sở hữu trí tuệ; những vướng mắc trong qúa trình giải quyết
loại vụ việc này và một số giải pháp cụ thể cho những vướng mắc được nêu
ra;
Những lưu ý đối với Toà án trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh
liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.

1. Khái quát chung về cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

Cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trước hết là việc cạnh tranh,
bên cạnh đó còn có đặc điểm riêng biệt gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ. Đó là, đối
4


với cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, việc cạnh tranh liên quan đến
các đối tượng sở hữu trí tuệ, đến chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ. Hành vi cạnh
tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ vi phạm cả pháp luật
cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.
Ví dụ: Công ty dược phẩm X có chức năng sản xuất thuốc chữa bệnh cho người, là
công ty có vị trí thống lĩnh thị trường và nắm giữ bằng độc quyền sáng chế một
loại thuốc chữa bệnh cho người. Với những ưu thế này, công ty đã ấn định giá bán
thuốc quá cao và gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Với mục tiêu khuyến khích sáng tạo, pháp luật sở hữu trí tuệ trao cho các
chủ thể quyền sở hữu trí tuệ độc quyền. Cụ thể, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công
nghiệp có quyền: sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công
nghiệp; ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp; định đoạt đối

“Bất kỳ hành vi nào trái với các thông lệ trung thực trong lĩnh vực công nghiệp
và thương mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh” (Khoản 2
Điều 10bis). Công ước Paris cũng quy định những hành vi cạnh tranh không
lành mạnh bị cấm, bao gồm: hành vi có khả năng gây nhầm lẫn về nơi sản xuất
hàng hoá của đối thủ cạnh tranh, làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh, lừa dối
công chúng (Khoản 3 Điều 10bis).
• Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ-TRIPs năm
1994 (Điều 8.2 và Điều 40)
- Pháp luật Cộng đồng Châu Âu
• Quy định của Uỷ ban Châu Âu số 240/96/EEC về việc áp dụng Điều 81(1)
của Hiệp ước chung cộng đồng Châu Âu đối với một số thoả thuận về
chuyển giao công nghệ
• Hướng dẫn của Ủy ban Châu Âu về việc áp dụng Điều 81 của Hiệp ước
chung cộng đồng Châu Âu đối với các thỏa thuận chuyển giao công nghệ
năm 2004
- Pháp luật Mỹ
• Hướng dẫn về chống độc quyền đối với các thỏa thuận chuyển giao quyền sở
hữu trí tuệ năm 1995
- Pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ lần đầu tiên được
quy định tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối
với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh
tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp.
Hiện nay, vấn đề này được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác nhau. Cụ thể
là:
6


Luật cạnh tranh năm 2004
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005

và hành vi hạn chế cạnh tranh.
2.1 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là hành vi
có những đặc điểm sau đây:
• Do doanh nghiệp tiến hành trong quá trình kinh doanh;
• Trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh;
7


Liên quan đến các đối tượng sở hữu trí tuệ hoặc chuyển giao quyền sở hữu
trí tuệ (chủ yếu liên quan đến các đối tượng sở hữu trí tuệ):
• Gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của doanh
nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.


Theo quy định của Luật cạnh tranh năm 2004 (sau đây gọi là Luật cạnh
tranh) và Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sau đây gọi là Luật sở hữu trí tuệ), hành vi
cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: (i)
hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn; (ii) hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh; (iii) hành
vi sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế
có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn
hiệu đó; (iv) hành vi đăng ký, chiếm giữ, sử dụng tên miền bất hợp pháp. Trong đó,
Luật cạnh tranh quy định hành vi (i) và (ii) là những hành vi cạnh tranh không lành
mạnh; Luật sở hữu trí tuệ quy định hành vi (i), (iii), (iv) là những hành vi cạnh
tranh không lành mạnh, còn hành vi (ii) quy định trong Luật sở hữu trí tuệ là hành
vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh.
2.1.1. Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn

Luật cạnh tranh quy định về hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn tại Điều 39 và
Điều 40 và Luật sở hữu trí tuệ quy định về hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây

Như vậy, Luật cạnh tranh quy định về ”hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn”, còn
Luật sở hữu trí tuệ quy định về ”hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn.
Quy định của Điều 40 Luật cạnh tranh cho thấy: thực chất ”chỉ dẫn” được đề cập
đến trong Điều 39 và Điều 40 Luật cạnh tranh là ”chỉ dẫn thương mại”.
Quy định trong Luật sở hữu trí tuệ về hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại
gây nhầm lẫn cụ thể hơn rất nhiều so với quy định về hành vi sử dụng chỉ dẫn gây
nhầm lẫn trong Luật cạnh tranh.
Ví dụ về hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn: sử dụng biển
hiệu ”Trung nguyên”:
Xí nghiệp Trung Nguyên hoạt động kinh doanh với ngành nghề chế biến cà
phê bột (đăng ký kinh doanh năm 1996). Xí nghiệp này sử dụng rộng rãi biển hiệu:
”Trung Nguyên – cho bạn nguồn cảm hứng sáng tạo mới” trong hoạt động kinh
doanh. Biển hiệu này được sử dụng tại các quán cà phê tại những địa điểm cung
ứng cà phê của Trung Nguyên. Biển hiệu của Xí nghiệp Trung Nguyên có những
đặc điểm chính như sau (theo bố cục của biển hiệu từ trên xuống):
• Dòng chữ ”cà phê hàng đầu Buôn Mê Thuột” màu vàng;
• Dòng chữ ”Trung Nguyên” ở giữa màu trắng;
• Dòng chữ ”mang lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới” được thể hiện theo
đường uốn khúc (chữ đỏ trên nền vàng)
• Góc bên phải có hình mũi tên viền trắng hướng lên trên;
• Góc bên trái là hình tách cà phê trên nền các hạt cà phê.

9


Cơ sở cà phê Mê Hy Cô hoạt động kinh doanh từ năm 1999 có cùng ngành
nghề chế biến cà phê với xí nghiệp Trung Nguyên và hoạt động tại địa bàn tỉnh
Đắc Lắc. Cơ sở Mê Hy Cô sử dụng biển hiệu ”Mê Hy Cô – Cho bạn cảm giác sáng
tạo mới” tại một số địa điểm kinh doanh của cơ sở và tại những địa điểm đã đặt
biển hiệu của xí nghiệp Trung Nguyên. Biển hiệu của cơ sở Mê Hy Cô có những



Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh được quy định tại Điều 39 và Điều 41
Luật cạnh tranh, theo đó, doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hành vi sau đây:
• Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các
biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;
• Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của
chủ sở hữu bí mật kinh doanh;
• Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có
nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật
kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;
• Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi
người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh,
làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng chống lại các biện pháp bảo mật
của cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh
doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm.
Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh không được liệt kê trong các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh quy định tại Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên,
quy định tại Điều 41 về các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong Luật cạnh
tranh lại tương tự với (thậm chí giống như) quy định về hành vi xâm phạm quyền
đối với bí mật kinh doanh tại Điều 127 Luật sở hữu trí tuệ. Bên cạnh bốn hành vi
được quy định trong Luật cạnh tranh, Luật sở hữu trí tuệ quy định thêm hai hành vi
tại điểm đ, e khoản 1 Điều 127. Từ những quy định nêu trên của Luật cạnh tranh
và Luật sở hữu trí tuệ, một số vấn đề sau đây phát sinh cần phải giải quyết:
Thứ nhất, theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ thì hành vi xâm phạm bí mật
kinh doanh có phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh không?
Thứ hai, khi có hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh được đồng thời quy
định tại Điều 41 Luật cạnh tranh và điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 127 thì coi là hành
hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh đơn thuần và được xử lý theo
pháp luật sở hữu trí tuệ hay là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến

lý do chính đáng.
2.1.4.

Hành vi đăng ký, chiếm giữ, sử dụng tên miền bất hợp pháp
Theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ, hành vi ” ăn
cắp” tên miền bị coi là một trong những hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Cụ
thể, đó là hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng
hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người
khác hoặc chỉ dẫn địa lý của mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm
giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên
thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.
Cần phải lưu ý rằng: tên miền không phải là một đối tượng sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều doanh nghiệp đăng ký, sử dụng tên miền
trùng với tên thương mại, nhãn hiệu được bảo hộ mà họ là chủ sở hữu, hoặc trùng
với chỉ dẫn địa lý mà họ có quyền sử dụng hợp pháp. Trong những trường hợp này,
12


chủ thể nào có hành vi sử dụng tên miền theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều
130 Luật sở hữu trí tuệ bị coi là thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên
quan đến quyền sở hữu trí tuệ.
Nhằm mục đích chống lại cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến đăng
ký tên miền trùng với nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ, ngày 26/5/2003 Bộ trưởng
Bộ bưu chính viễn thông đã ban hành Quyết định số 92/2003/QĐ-BBCVT Quy
định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet.
2.2.

Hành vi hạn chế cạnh tranh
Hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là hành vi có
những đặc điểm sau đây:

thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên (khoản 4
Điều 8, khoản 2 Điều 9 Luật cạnh tranh).
• Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện
hành vi cản trở sự phát triển kĩ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách
hàng (khoản 3 Điều 13 Luật cạnh tranh).
Theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính Phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh, các hành vi nêu trên được
giải thích là việc mua sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu
huỷ hoặc không sử dụng (xem khoản 1 Điều 17 và điểm a khoản 3 Điều 28).
• Ghi nhận những điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng sử dụng đối
tượng sở hữu công nghiệp.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 144 Luật sở hữu trí tuệ, hợp đồng sử dụng
đối tượng sở hữu công nghiệp không được có các điều khoản hạn chế bất hợp lí
quyền của bên được chuyển quyền, đặc biệt là các điều khoản không xuất phát từ
quyền của bên chuyển quyền, bao gồm:
(i) Cấm bên được chuyển quyền cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp, trừ nhãn
hiệu; buộc bên được chuyển quyền phải chuyển giao miễn phí cho bên chuyển
quyền các cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp do bên được chuyển quyền tạo ra
hoặc quyền đăng ký sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu công nghiệp đối với các cải
tiến đó;
(ii) Trực tiếp hoặc gián tiếp hạn chế bên được chuyển quyền xuất khẩu hàng hoá,
dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu
công nghiệp sang các vùng lãnh thổ không phải là nơi mà bên chuyển quyền nắm
giữ quyền sở hữu công nghiệp tương ứng hoặc có độc quyền nhập khẩu hàng hoá
đó;
(iii) Buộc bên được chuyển quyền phải mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định các
nguyên liệu, linh kiện hoặc thiết bị của bên chuyển quyền hoặc của người thứ ba
do bên chuyển quyền chỉ định mà không nhằm mục đích bảo đảm chất lượng hàng
hó, dịch vụ do bên được chuyển quyền sản xuất hoặc cung cấp.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 144 Luật sở hữu trí tuệ, các điều khoản nêu

không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Hơn nữa, quy định nhiều biện
pháp còn nhằm xử lý hiệu qủa hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến
quyền sở hữu trí tuệ; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, chủ thể
quyền sở hữu trí tuệ và các chủ thể quyền liên quan khác.
Các biện pháp giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí
tuệ được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: văn bản pháp luật
15


cạnh tranh, văn bản pháp luật sở hữu trí tuệ, văn bản pháp luật dân sự, văn bản
pháp luật hành chính, văn bản pháp luật hình sự.
3. 2. Các biện pháp giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu
trí tuệ
3.2.1. Biện pháp tự bảo vệ
Biện pháp tự bảo vệ xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự
của pháp luật Việt nam, được ghi nhận tại Điều 9-Bộ luât dân sự năm 2005 và
được cụ thể hoá tại khoản 3 Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ. ”Tổ chức, cá nhân bị
thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có
quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự (...)
và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh”. Ở đây,
quyền yêu cầu của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại đối với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ khác nhau được hiểu là quyền tự bảo vệ đã
được liệt kê tại điểm c, d khoản 1 Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ.
Trong thực tế, khi hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền
sở hữu trí tuệ phát sinh, biện pháp bảo vệ quyền đầu tiên được áp dụng là tự bảo
vệ. Trước hết, biện pháp này tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể. Hơn nữa,
mặc dù không có sự can thiệp của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng
trong chừng mực nhất định, biện pháp này cũng giúp nhanh chóng ngăn chặn,
chấm dứt hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
3.2.2. Biện pháp hành chính


Từ những quy định trên đây cho thấy, có một số lưu ý sau đây khi áp dụng
biện pháp hành chính để giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu
trí tụê:
• Nguyên tắc, hình thức và mức độ xử lý hành chính đối với các vụ việc cạnh
tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được áp dụng theo quy định của
Luật cạnh tranh và Nghị định 120/2005/NĐ-CP.
• Thẩm quyền và thủ tục xử lý hành chính đối với các vụ việc cạnh tranh liên
quan đến quyền sở hữu công nghiệp được áp dụng theo quy định của Nghị
định 106/2006/NĐ-CP. Nghị định 106/2006/NĐ-CP không có quy định
riêng về thẩm quyền và thủ tục xử lý hành chính đối với các vụ việc cạnh
tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, bởi vậy, về nguyên tắc thẩm quyền
và thủ tục đối với loại việc này được áp dụng như đối với các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp nói chung. Đối với vụ việc cạnh tranh
thông thường, thẩm quyền xử lý hành chính thuộc về Cục quản lý cạnh tranh
(Bộ Công Thương) và Hội đồng cạnh tranh; còn thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
thuộc về các cơ quan: thanh tra khoa học công nghệ, quản lý thị trường, hải
quan, công an và uỷ ban nhân dân (Điều 17 Nghị định 106/2006/NĐ-CP).
Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ:
17


Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn bị phạt tiền từ năm triệu đến hai mươi triệu
đồng, bên cạnh đó, tuỳ từng trường hợp, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị
áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục
như: tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi
phạm; buộc cải chính công khai (Điều 30 Nghị định 120/2005/NĐ-CP).
• Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh cũng bị áp dụng mức phạt tiền tương

18


Khi hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh liên
quan đến quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể hành vi nguy hiểm cho xã hội cấu thành
tội phạm thì chủ thể đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc áp dụng biện pháp
hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án.
Áp dụng biện pháp hình sự là “một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu
để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm...bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân, tổ chức...”. Trên cơ sở định hướng này, Bộ luật hình sự năm 1985, sau
đó đến Bộ luật hình sự năm 1999 đều quy định các tội danh và hình phạt tương
ứng nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Để bảo vệ quyền tác giả, Bộ luật hình sự
năm 1999 quy định hai tội: tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) và tội vi phạm
các quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa
hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác (Điều 271). Để bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định các tội: 1. Tội sản xuất, buôn bán hàng
giả (Điều 156); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc
chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức
ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây
trồng vật nuôi (Điều 158); Tội lừa dối khách hàng (Điều 162); Tội xâm phạm quy
định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170); Tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171).
Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1999 không có bất có bất kỳ quy định nào
vê hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ cấu thành tội phạm. Điểm đ khoản 1 Điều 3 Nghị định 120/2005/NĐCP cũng quy định rõ Nghị định này không áp dụng đối với những hành vi có dấu
hiệu tội phạm.
Vấn đề đặt ra là: Vậy khi có hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi
hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đến mức phải truy cứu trách
nhiệm hình sự thì Toà án áp dụng điều luật nào, truy cứu theo tội danh nào?
Biện pháp dân sự

3.3.1. Pháp luật
Thứ nhất, hiện nay, pháp luật Việt Nam thiếu quy định cụ thể cạnh tranh
không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.
Sau đây là một số ví dụ:
3.3.

- Không có quy định cụ thể tội phạm liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành
mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
- Không có quy định về thoả thuận nhằm ngăn chặn nhập khẩu song song.
Nhập khẩu song song (parallel import) là hoạt động thương mại mà trong đó
hàng hoá, dịch vụ mang đối tượng sở hữu trí tuệ (đã được bảo hộ) đã được lưu
thông trên thị trường của một nước, nhưng hàng hoá, dịch vụ này lại được nhập
khẩu từ nước khác vào chính nước này mà không được sự cho phép của chủ sở hữu
đối tượng sở hữu trí tuệ. Ví dụ: Nhà sản xuất A sản xuất sản phẩm X, sản phẩm đã
được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở nước C1 và được bán trên thị trường
nước C1 với giá P1. Sản phẩm này của nhà sản xuất A cũng lại được bán ở nước
20


C2 với giá P2. Nhà nhập khẩu của nước C1 có thể nhập khẩu sản phẩm X từ nước
C2 về bán ở nước C1 với giá P3, điều kiện là P3 thấp hơn P1.
Pháp luật nước ta không cấm nhập khẩu song song. Điều này thể hiện ở hai
cơ sở pháp lý sau đây: (1) Điểm b, khoản 2 Điều 125 Luật sở hữu trí tuệ 1; (2)
khoản 2 Điều 190 Luật sở hữu trí tuệ; (3) Quyết định 1906/2004/QĐ-BYT ngày
28/5/2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quy định về nhập khẩu song song
thuốc phòng, chữa bệnh cho người.
Doanh nghiệp Trung Quốc X là chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá Z, doanh
nghiệp X giao kết hợp đồng cho phép doanh nghiệp Việt Nam Y được sử dụng
nhãn hiệu này gắn lên hàng hoá sản xuất ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong hợp đồng
sử dụng nhãn hiệu Z giữa doanh nghiệp X và doanh nghiệp Y có điều khoản: cấm

- Quy định về hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh
Theo quy định tại khoản 2 Điều 39 Luật cạnh tranh, hành vi xâm phạm bí
mật kinh doanh là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Còn Luật sở hữu trí tuệ lại
không liệt kê hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh vào trong các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh tại Điều 130. Điều 16 Nghị định 106/2006/NĐ-CP tách
hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh ra khỏi hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Hơn nữa, khoản 2 Điều 5 Luật sở hữu trí tuệ lại quy định rằng: “Trong trường hợp
có sự khác nhau giữa quy định về sở hữu trí tuệ của Luật này với quy định của luật
khác thì áp dụng quy định của Luật này”. Vậy xâm phạm bí mật kinh doanh có
phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ hay
không? Theo quan điểm của Cục quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương), theo quy
định tại Điều 16 Nghị định 106/2006/NĐ-CP thì xâm phạm bí mật kinh doanh là
hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và được
giải quyết theo pháp luật cạnh tranh.
Phân tích trên đây cho thấy: pháp luật nước ta chưa phân định sự khác biệt
rõ ràng giữa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với hành vi cạnh tranh không
lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tụê. Điều này dẫn đến khó khăn cho việc
áp dụng điều luật để giải quyết trong từng trường hợp cụ thể. Ngay cả những cơ
quan chuyên môn như Cục Sở hữu Trí tuệ và Cục quản lý cạnh tranh cũng gặp rất
nhiều vướng mắc khi xem xét, giải quyết những vụ việc cạnh tranh không lành
mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Có một số người cho rằng: hành vi cạnh
tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là hành vi xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ nhưng có yếu tố cạnh tranh không lành mạnh. Một số người
lại cho rằng: cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là
hành vi cạnh tranh liên quan đến đối tượng sở hữu trí tuệ.
3.3.2. Áp dụng pháp luật
Trong thực tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ, đặc biệt là quyền sở hữu công nghiệp xảy ra nhiều. Tuy nhiên, những
hành vi này lại ít được xử lý tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cho đến
22

sản vô hình, trong khi đó tài sản vô hình là loại tài sản đặc thù, đặc biệt là tài sản
sở hữu trí tuệ. Cán cán bộ hiện đang thực hiện việc thẩm định gía trị tài sản hữu
hình không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ.
Nói chung, nhận thức của các doanh nghiệp, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ về
mối quan hệ giữa cạnh tranh và quyền sở hữu trí tuệ không cao. Cho nên, họ không
23


tự bảo vệ được mình, dễ thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến quyền sở hữu trí tuệ. Hơn nữa, nhận thức ở mức độ thấp của những chủ thể
này cũng gây khó khăn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đó có Toà án
trong việc giải quyết loại việc này.
4. Một số lưu ý đối với Toà án trong giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan
đến quyền sở hữu trí tuệ
4. 1. Một số yêu cầu
Thứ nhất, cán bộ Toà án cần hiểu được tính phức tạp của vụ việc cạnh tranh
liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và những vướng mắc cụ thể trong quá trình giải
quyết loại việc này.
Thứ hai, khi xét xử cần áp dụng hài hoà pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở
hữu trí tuệ, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh trên thị trường và bảo vệ lợi ích của các
chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ ba, khi xét xử cần phải xem xét những trường hợp cạnh tranh liên quan
đến quyền sở hữu trí tuệ nào được miễn trừ theo quy định của pháp luật (ví dụ quy
định tại Điều 10 Luật cạnh tranh).
Thứ tư, cán bộ giải loại vụ việc này cần có kiến thức chuyên sâu về pháp
luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.
Thứ năm, Toà án cần phối hợp chặt chẽ với Cục quản lý cạnh tranh (Bộ
Công Thương) và Cục Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) khi giải quyết
loại việc này.
4.2. Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở

(liên quan chủ yếu đến chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ).
• Thể hiện ở ba dạng: thoả thuận hạn chế cạnh tranh; lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền; và tập trung kinh tế.
- Mặc dù có pháp luật hiện hành quy định không rõ ràng về hành vi xâm phạm bí
mật kinh doanh. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng: hành vi xâm phạm bí mật kinh
doanh là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và
áp dụng pháp luật cạnh tranh để giải quyết.
- Phải coi những thoả thuận nhằm ngăn chặn nhập khẩu song song là hạn chế cạnh
tranh và giải quyết như hành vi hạn chế cạnh tranh trong Luật cạnh tranh.
Thứ hai, khi giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí
tuệ, cần phải chú ý các yếu tố thể hiện mức độ vi phạm pháp luật cạnh tranh quy
định tại Điều 7 Nghị định 120/2005/NĐ-CP và tính chất, mức độ xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 15 Nghị định 105/2006/NĐ-CP.
Hơn nữa, trong thời điểm hiện nay, nếu phát sinh những hành vi cạnh tranh
không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đến mức phải truy cứu trách
nhiệm hình sự, có thể áp dụng Điều 171 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp) và Điều 156 (Tội làm hàng giả) Bộ luật hình sự năm 1999 để giải quyết.
4. 3. Kinh nghiệm của một số nước
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status