Không tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Gò Quao, tỉnh Kiên Giang năm 2016 - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

DANH THIÊN PHÚC

KHÔNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

Hà Nội - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

DANH THIÊN PHÚC

KHÔNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

Giáo viên hướng dẫn:
PGS.TS. Trần Hữu Bích

Hà Nội - 2016

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU...................................................................4
1.1.

Một số khái niệm cơ bản về tang huyết áp....................................................... 4

1.1.1. Khái niệm về tăng huyết áp:..............................................................................4
1.1.2. Tuân thủ điều trị tăng huyết áp:........................................................................ 4
1.1.3. Các phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị tăng huyết áp.............................. 5
1.2.

Cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp........................................................................ 7

1.3.

Các yếu tố nguy cơ của bệnh cao huyết áp....................................................... 7

1.3.1. Tuổi và giới........................................................................................................7
1.3.2. Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình.................................................................. 8
1.3.3. Địa lý, thói quen và lối sống............................................................................. 8
1.4.

Điều trị THA bằng thuốc tại tuyến cơ sở..........................................................8

1.4.1. Vai trò của điều trị THA....................................................................................8
1.4.2. Phòng bệnh........................................................................................................ 8
1.4.3. Các đo lường tuân thủ điều trị...........................................................................9
1.5.

Thực trạng THA và điều trị THA trên thế giới và ở Việt Nam........................9



2.5.1. Kỹ thuật thu thập số liệu................................................................................. 20
2.5.2. Công cụ thu thập số liệu.................................................................................. 20
2.6.

Phương pháp phân tích số liệu........................................................................ 21

2.7.

Các biến số nghiên cứu: (xem phụ lục 2)....................................................... 22

2.7.1. Tiêu chuẩn đánh giá: (xem phụ lục 5).............................................................22
2.8.

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu...................................................................... 24

2.9.

Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục sai số.................................24

2.9.1. Hạn chế của nghiên cứu:................................................................................. 24
2.9.2. Biện pháp khắc phục:...................................................................................... 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................................26
3.1.

Thông tin chung về ĐTNC..............................................................................26


iv
3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học................................................................................. 26

4.2.1. Không tuân thủ thuốc điều trị..........................................................................47
4.2.2. Không tuân thủ chế độ ăn................................................................................47
4.2.3. Không tuân thủ hạn chế rượu/bia....................................................................48


v
4.2.4. Tuân thủ không hút thuốc lá/thuốc lào........................................................... 48
4.2.5. Không tuân thủ chế độ sinh hoạt, luyện tập thể lực........................................49
4.2.6. Tuân thủ đo huyết áp hằng ngày, ghi lại huyết áp và tái khám định kỳ.........49
4.3.

Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị THA........................................ 50

4.3.1. Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ thuốc điều trị............................ 50
4.3.2. Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ chế độ ăn............................................. 51
KẾT LUẬN................................................................................................................52
KHUYẾN NGHỊ....................................................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................... 55
PHỤ LỤC.................................................................................................................. 60


vi
3. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BMI

Chỉ số cơ thể

BN


TBMMN

Tai biến mạch máu não

THA

Tăng huyết áp

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

TTĐT

Tuân thủ điều trị

WHO

Tổ chức y tế thế giới


vii
4. DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng đánh giá tuân thủ chế độ ăn..............................................................23
Bảng 2.2: Bảng đánh giá tuân thủ điều trị thuốc....................................................... 23
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (n=236)...................26
Bảng 3.2: Đặc điểm liên quan đến điều trị (n=236).................................................. 27
Bảng 3.3: Chi tiết kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA (n=236)..................... 28
Bảng 3.4: Thông tin về hỗ trợ điều trị THA ngoại trú...............................................30
Bảng 3.5: Chi tiết không tuân thủ điều trị thuốc (n=236)..........................................32

độ điều trị THA và xác định một số yếu tố liên quan đến các loại không tuân thủ
điều trị của những bệnh nhân (BN) này.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên 236 BN THA
đến khám và điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh, BVĐK huyện Gò Quao, số liệu
được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp BN THA. Số liệu được nhập vào phần mềm
Epidata 3.0 và xử lý bằng SPSS 16.0.
Kết quả được: Không có kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA 82,7%.
Không tuân thủ điều trị chung 68,6%. Trong đó, không tuân thủ điều trị bằng thuốc
65,7%, không tuân thủ chế độ ăn 32,2%, không tuân thủ không hút thuốc lá/thuốc
lào 25,4%, không tuân thủ đo huyết áp (HA) và tái khám định kỳ đạt 89,4%, không
tuân thủ chế độ sinh hoạt - luyện tập 84,3%, không tuân thủ hạn chế uống rượu/bia
6,4%. Nghiên cứu tìm thấy các yếu tố liên quan tới tuân thủ điều trị THA là: nhóm
tuổi (nhóm tuổi dưới 60 không tuân thủ điều trị thấp hơn nhóm tuổi trên 60), nhóm
được CBYT giải thích chế độ điều trị (nhóm không được giải thích tuân thủ điều trị
thấp hơn nhóm được giải thích) và kiến thức (nhóm chưa đạt kiến thức tuân thủ điều
trị thấp hơn nhóm đạt kiến thức).
Nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị cụ thể đối bệnh nhân THA và nhân viên
y tế: Người bệnh cần chú trọng tới thay đổi hành vi tuân thủ trong điều trị, cần nâng


ix
cao hiểu biết về bệnh và tuân thủ điều trị bệnh. Nhân viên y tế nên tư vấn đầy đủ và
cụ thể cho mỗi bệnh nhân đến khám bệnh, không nên chỉ chú trọng đến việc khám
và kê đơn, thân thiện với bệnh nhân để họ cảm thấy thoải mái, không ngại khi chia
sẻ bệnh tật và khi phải đi khám bệnh. Tăng cường các hoạt động giáo dục sức khỏe
giúp bệnh nhân hiểu biết về bệnh và tuân thủ điều trị bệnh, các biện pháp nhằm thay
đổi các thói quen không tốt, giúp cho người bệnh tuân thủ điều trị tốt.


1


2
Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 5.012 người từ 25 tuổi trở lên ở 4 tỉnh miền Bắc
Việt Nam (Nghệ An, Hà Nội, Thái Bình và Thái Nguyên) kết quả 8 trong 818 người
được phát hiện có THA, chỉ có 94 người là dùng thuốc và tỷ lệ HA được khống chế
tốt là 19,1% [18]. Cũng theo nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự năm 2002
cho thấy THA ở người trẻ ít được chú ý hơn ở người có độ tuổi
Không tuân thủ điều trị THA là BN không tuân thủ thực hiện chế độ ăn,
luyện tập, sinh hoạt, thực hiện uống thuốc và đi khám, kiểm tra huyết áp theo đúng
chỉ định của bác sỹ. Nếu bệnh nhân bị bệnh THA không được phát hiện và điều trị
tốt sẽ có thể bị tàn phế hoặc tử vong. Mặt khác nếu bệnh nhân được phát hiện bị
bệnh này thì phải được theo dõi và điều trị suốt đời để phòng tránh các biến chứng
của bệnh gây ra, như vậy sẽ rất tốn kém về tiền của cũng như thời gian và công sức
của bệnh nhân, gia đình và xã hội [18]. Nghiên cứu cho thấy tuân thủ điều trị
(TTĐT) làm giảm khoảng 40% nguy cơ đột qụy và khoảng 15% nguy cơ nhồi máu
cơ tim. Do vậy, việc TTĐT là điều rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều
trị [13]. Mặc dù có rất nhiều lợi ích do điều trị mang lại nhưng trên thực tế việc tuân
thủ chế độ điều trị là một thách thức rất lớn không những với bản thân người bệnh
mà với cả hệ thống y tế [5].
Xuất phát từ thực tế nói trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “không tuân
thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân ngoại trú tại
Bệnh viện Đa khoa Gò Quao, tỉnh Kiên Giang năm 2016”. Nghiên cứu được tiến
hành nhằm đánh giá sự không tuân thủ thuốc, chế độ ăn, tập thể dục, hạn chế uống
bia rượu, không hút thuốc, đo huyết áp định kỳ và tìm ra một số yếu tố liên quan với
từng loại không tuân thủ để từ đó đưa ra những khuyến cáo để có thể làm tăng mức
độ TTĐT của những bệnh nhân này. Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu sẽ cung
cấp các thông tin để góp phần mở rộng và cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc và
điều trị THA cho các bệnh nhân THA, đồng thời đưa ra được các bằng chứng giúp
cho các nhà hoạch định chính sách phát triển các tài liệu đào tạo, các hướng dẫn
chuyên môn về chăm sóc, điều trị THA cho các đối tượng khác nhau.

1.1.2.1. Thực hiện chế độ ăn, hạn chế rượu/bia, bỏ hút thuốc lá/thuốc lào, luyện tập,
sinh hoạt:
Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng: giảm ăn mặn, tăng
cường rau xanh và hoa quả tươi.
Hạn chế uống rượu, bia: Số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2
cốc chuẩn/ngày (nữ), và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc
chuẩn/tuần (nữ). 1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc
120ml rượu vang hoặc 30ml rượu mạnh


5
Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: Tập thể dục, đi bộ hoặc vận
động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 – 60 phút mỗi ngày.
Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh: cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi
hợp lý.
1.1.2.2. Uống thuốc điều trị THA:
Bệnh nhân THA cần thực hiện như sau: phải uống thuốc theo đơn của bác sỹ,
không tự ý thay đổi thuốc và liều lượng, uống thuốc thường xuyên và lâu dài liên
tục kể cả khi huyết áp bình thường.
1.1.2.3. Khám bệnh và kiểm tra huyết áp
Điều trị đạt kết quả tốt là khi đạt được “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa
“nguy cơ tim mạch” cũng như tổn thương các cơ quan. Vì vậy ngoài việc theo dõi
thường xuyên chỉ số HA, theo dõi HA theo chỉ dẫn của bác sỹ, tái khám đúng hẹn,
đi khám ngay nếu uống thuốc không hiệu quả, người bệnh cần định kỳ kiểm tra, làm
một số xét nghiệm nhằm phát hiện tổn thương cơ quan đích, đánh giá các yếu tố
nguy cơ tim mạch khác.
1.1.3. Các phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Trên thế giới có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá tuân thủ điều trị
nhưng nói chung có thể chia các phương pháp đánh giá thành 3 nhóm dưới đây.
Nhóm 1: Nhóm các phương pháp dược lý, đây là phương pháp đánh giá tuân

điểm Hill – Bone có 4 mức điểm 1, 2, 3, 4. Tổng số điểm thấp nhất là 9 và cao nhất
là 36. Điểm càng cao, tuân thủ điều trị càng kém.
Thang điểm Morisky: thang điểm này đánh giá tuân thủ dùng thuốc của
người bệnh dựa vào 4 câu hỏi sau: 1. Ông/bà đã từng quên uống thuốc bao giờ chưa?
2. Ông/bà có chú ý tới thời điểm uống thuốc của từng loại thuốc HA không? 3. Khi
cảm thấy bệnh tốt hơn Ông/bà có dừng thuốc không? 4. Đôi khi uống thuốc mà cảm
thấy bệnh xấu đi hay gặp tác dụng phụ của thuốc ông/bà có dừng thuốc hay không?
Mỗi câu trả lời “có” và “không” được 0 điểm, sau 4 câu hỏi nếu người bệnh có tổng
điểm nhỏ hơn 2 thì được đánh giá là tuân thủ dùng thuốc.
Về cơ bản nội dung của 2 thang điểm Hill – Bone và Morisky là tương tự
nhau nhưng cách tính điểm trong các câu hỏi ở thang điểm của Morisky đơn giản


7
hơn. Do vậy trong nghiên cứu này cũng dựa vào thang điểm của Morisky để xây
dựng các câu hỏi đánh giá tuân thủ điều trị.
Tại Việt Nam các nghiên cứu đánh giá tuân thủ điều trị THA thường đánh
giá các nội, lào, tuân thủ chế độ sinh hoạt – tập luyện, đo huyết áp và tái khám định
kỳ, kiểm tra HA theo chỉ dẫn của bác sỹ. Trong nghiêng cứu này người bệnh được
đánh giá là TTĐT tăng HA khi đạt 4/6 nội dung trên. Cách đánh giá TTĐT tăng HA
trên giống cách đánh giá TTĐT trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương năm
2011 [20], nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Yến năm 2012 [21].
1.2. Cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp
Huyết áp động mạch được điều hòa bởi hai cơ chế. Đó là cơ chế thần kinh và
cơ chế thể dịch [10].
Tăng hoạt động thần kinh giao cảm: Khi tăng hoạt tính hệ thần kinh giao cảm sẽ
làm tăng hoạt động của cơ tim, tăng thể tích tim trong 1 phút. Gây ra phản ứng co
thắt toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi mà cuối cùng là THA động mạch ổn định.
Giảm chất điều hòa HA: Đó là hai chất prostaglandin E2 và kaliklein có ở thận,
chức năng sinh lý chủ yếu là điều hòa HA, hạ calci máu, tăng calci niệu. Khi các

quan đích và gây các biến chứng nguy hiểm như tai biến mạch máu não, nhồi máu
cơ tim, phình tách thành động mạch chủ, suy tim, suy thận… thậm chí dẫn đến tử
vong.
1.4.2. Phòng bệnh
Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống là những biện pháp để phòng ngừa
THA ở người trưởng thành, phối hợp với việc giáo dục truyền thông nâng cao nhận
thức và hiểu biết về bệnh THA cũng như các biến chứng của THA và các yếu tố
nguy cơ tim mạch khác.


9
1.4.3. Các đo lường tuân thủ điều trị
Theo định nghĩa của WHO dựa trên định nghĩa về tuân thủ điều trị của
Haynes và Rand có sửa đổi, TTĐT là trong phạm vi hành vi của một người như
dùng thuốc, thay đổi chế độ ăn và/hoặc thay đổi lối sống đúng với những khuyến
cáo phù hợp của cán bộ y tế. Sự khác biệt chính của định nghĩa này so với định
nghĩa trước là tuân thủ cần sự đồng tình của người bệnh với những khuyến cáo mà
cán bộ y tế đưa ra, người bệnh nên là đối tác tích cực với cán bộ y tế trong việc
chăm sóc sức khỏe của mình.
Cách đo lường:
Đánh giá chính sách hành vi TTĐT là vô cùng quan trọng và cần thiết cho
việc theo dõi kết quả điều trị và giúp các bác sĩ đưa ra những phác đồ điều trị phù
hợp cho bệnh nhân. Điều này cũng đặc biệt quan trọng với các nhà quản lý Chương
trình THA để đưa ra quyết định đúng nhằm tăng cường sự TTĐT của bệnh nhân.
Phương pháp để đo lường TTĐT đòi hỏi phải: đảm bảo chi phí thấp, có giá
trị, đáng tin cậy, khách quan và dễ sử dụng. TTĐT có thể được đánh giá bằng
phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp.
1.5. Thực trạng THA và điều trị THA trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1. Thực trạng trên thế giới
THA là một bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới. THA không chỉ có

năm 1970 - 1994, nhờ các chương trình can thiệp và quản lý các yếu tố nguy cơ và
THA nên tỷ lệ tử vong do tai biến mạch não đã giảm được 50 - 60% và tỷ lệ tử vong
do các bệnh động mạch vành cũng giảm khoảng 40 - 50%.
Tại Trung Quốc, kết quả của điều tra sức khoẻ năm 2001 cho thấy tỷ lệ phát
hiện sớm THA tăng từ 26,3% lên 44,7%; tỷ lệ người dân bị THA được điều trị tăng
từ 12,1% lên 28,2% và tỷ lệ kiểm soát được huyết áp về bình thường tăng từ 2,8%
lên 8,1%. Các biến chứng do THA gây ra cũng giảm đáng kể trong chương trình
này: tỷ lệ mới mắc tai biến mạch máu não giảm được 52% ở nam giới và 53% ở nữ
giới; tỷ lệ tử vong chung do đột quỵ cũng giảm được 54%. Năm 1995, Chính phủ
Trung Quốc phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới và Ngân hàng Thế giới tiến hành


11
chương trình Tuyên truyền giáo dục và dự phòng bệnh không lây nhiễm giai đoạn
1996 - 2002 tại 7 thành phố lớn nhất của Trung Quốc bao gồm khoảng 90 triệu dân.
Kết quả cho thấy chương trình này đã giúp làm giảm tỷ lệ người lớn hút thuốc lá từ
29% xuống còn 13%; tăng tỷ lệ người dân có thói quen tập luyện thể dục thường
xuyên từ 41% lên 84%; tăng tỷ lệ phát hiện sớm THA thêm 15%; giảm được 50%
tỷ lệ bị các biến chứng về tim mạch và đột quỵ ở người dân có THA[39].
Năm 1980, tỷ lệ THA của người dân ≥20 tuổi ở Israel là khoảng 28,6%. Và
từ những năm 80 này, Chính phủ Israel đã tiến hành các chương trình phát hiện sớm
và kiểm soát THA trên phạm vi toàn quốc. Kết quả sau 20 năm cho thấy tỷ lệ kiểm
soát được huyết áp về mức bình thường tăng từ 29% lên 46,7%; tỷ lệ nhồi máu cơ
tim cấp và đau thắt ngực không ổn định do THA giảm được16%; tỷ lệ tai biến mạch
máu não do THA giảm được 41,2%; tỷ lệ suy thận giai đoạn cuối do THA giảm
50%. Chương trình đã cứu sống được 2.242 người (trung bình 110 người/năm).
Cũng qua các chương trình quản lý THA này, ngành y tế đã tiết kiệm được cho
Chính phủ Israel 185 triệu USD, tức là khoảng 9,25 triệu USD/năm [19].
Những nghiên cứu kinh điển đã cho thấy, việc tôn trọng điều trị giảm được
huyết áp đã ngăn chặn được đáng kể tử vong và tàn phế do các biến chứng của THA

thuốc một đợt – rồi ngưng thuốc theo toa khám bệnh lần trước về nhà uống. Bên
cạnh đó nhiều người bị THA cũng ý thức được sự nguy hiểm của THA ngây ra nên
cũng biết tuân thủ điều trị theo khuyến cáo của Bộ Y tế dành cho người THA như
ăn nhạt, hạn chế chất béo, kiêng các chất kích thích, giảm cân khi quá cân, hạn chế
uống bia rượu, tránh các sang chấn tâm lý, nghỉ ngơi sinh hoạt hợp lý, uống thốc
theo đơn, đo và ghi chỉ số HA hàng ngày… Nhưng do một số người bệnh ăn uống
chung với gia đình, thói quen ăn mặn nên việc hạn chế ăn mặn – giảm chất béo khó
thực hiện được. Hoặc có một số người bệnh do quan hệ xã giao đã không từ chối
khi đối tác mời hút thuốc. Và đặc biệt do tâm lý chủ quan của người bệnh dẫn tới
phần lớn bệnh nhân THA không tuân thủ được chế độ điều trị THA hoặc thự hành
tuân thủ điều trị THA không đạt [1].
Tại Việt Nam, thống kê mới nhất năm 2008 cho thấy tỷ lệ THA ở người lớn
là 25,1%. Theo Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), ước tính hiện nay Việt Nam có gần 13
triệu người mắc bệnh THA. Tuy nhiên, chỉ hơn 50% số người mắc bệnh được phát
hiện và cũng chỉ có một nữa trong số người phát hiện được điều trị, quản lý [1], [9]


13
Tỷ lệ THA tại Việt Nam đang ngày càng gia tăng. Theo thống kê của GS.
Đặng Văn Chung năm 1960, tần suất THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam chỉ là
1% và hơn 30 năm sau (1992), theo điều tra trên toàn quốc của Trần Đỗ Trinh và
cộng sự thì tỷ lệ này đã là 11,7%, tăng lên hơn 11 lần và mỗi năm tăng trung bình
0,33%. Và 10 năm sau (2002), theo điều tra dịch tễ học THA và các yếu tố nguy cơ
tại 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam ở người dân lớn hơn hoặc bằng 25 tuổi thì tần suất
THA đã tăng đến 16,3%, trung bình mỗi năm tăng 0, 46%. Tỷ lệ THA ở vùng thành
thị là 22,7%, cao hơn vùng nông thôn (12,3%). Với dân số hiện nay khoảng 84 triệu
người (2007), Việt Nam ước tính có khoảng 6,85 triệu người bị THA, nếu không có
các biện pháp dự phòng và quản lý hữu hiệu thì đến năm 2025 sẽ có khoảng 10 triệu
người Việt Nam bị THA.
Theo điều tra dịch tễ năm 2002 của Viện Tim mạch Việt Nam, 77% người

trị bệnh (trên 50%). Có 93,9% người mắc bệnh THA uống thuốc điều trị theo đơn
của bác sĩ. Đa số người mắc bệnh THA theo dõi huyết áp hàng tuần (30,5%), hàng
tháng (28%). Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức về
bệnh THA, giới tính, chỉ số BMI, chỉ số WHR, hút thuốc lá, lười vận động và tỷ lệ
mắc THA ở người trưởng thành tại hai xã nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu của Đào Duy Khánh và cs về tình hình mắc bệnh THA
và mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với bệnh THA của cán bộ trung cao tại 8
huyện, tỉnh Kon Tum cho thấy tỷ lệ THA trong nghiên cứu là 42,9%. Theo nhóm
tuổi từ 60 tuổi trở lên có tỷ lệ THA là 60% và nhóm dưới 60 tuổi là 40% trong số
bệnh nhân THA. Bệnh nhân ngoài THA ở thời điểm hiện tại thì còn mắc một số
bệnh khác (29,7%). Thói quen ăn mặn, uống rượu có nguy cơ mắc bệnh THA hơn
nhóm không có thói quen ăn mặn, uống rượu [5].
Nghiên cứu “Thực trạng THA và một số yếu tố liên quan của người dân trên
25 tuổi sinh sống tại phường Trang Hạ thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” của Nguyễn
Hữu Tước năm 2011với 1.833 người dân trên 25 tuổi sinh sống tại phường Trang
Hạ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Kết quả cho thấy tỷ lệ THA chung là 11, 8%,
trong đó THA độ 1 là 6,7%, THA độ 2 là 3%, THA độ 3 là 2,1%. Tỷ lệ tiền THA là
5,6%. Nghiên cứu cũng cho thấy 41,2% người mắc THA chưa biết mình bị THA,
14,2% ĐTNC có hút thuốc lá, 14,1% uống nhiều rượu, 7,2% ăn mặn, 10,2% béo
bụng và 4,7% béo phì. Tỷ lệ THA tăng dần theo nhóm tuổi và liên quan đến các yếu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status