ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TIẾN HƯỞNG
HO¹T §éNG THÈM TRA C¸C Dù ¸N LUËT, PH¸P
LÖNH
CñA ñY BAN PH¸P LUËT QUèC HéI
N¦íC CéNG HßA X· HéI CHñ NGHÜA VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TIẾN HƯỞNG
HO¹T §éNG THÈM TRA C¸C Dù ¸N LUËT, PH¸P
LÖNH
CñA ñY BAN PH¸P LUËT QUèC HéI
N¦íC CéNG HßA X· HéI CHñ NGHÜA VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 8380101.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS. PHAN TRUNG LÝ
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động thẩm tra dự
án luật, pháp lệnh...............................................................................8
1.1.1. Khái niệm thẩm tra dự án luật, pháp lệnh.......................................8
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động thẩm tra dự án luật, pháp lệnh................9
1.1.3. Vai trò của thẩm tra dự án luật, pháp lệnh....................................11
1.2.
Thẩm quyền và nguyên tắc thẩm tra dự án luật, pháp lệnh
............................................................................................................17
1.2.1. Thẩm quyền thẩm tra dự án luật, pháp lệnh.................................17
1.2.2. Các nguyên tắc trong thẩm tra dự án luật, pháp lệnh..................19
1.3.
Nội dung, phương thức và trình tự, thủ tục thẩm tra dự án
luật, pháp lệnh...................................................................................21
1.3.1. Nội dung thẩm tra dự án luật, pháp lệnh.......................................21
1.3.2. Phương thức thẩm tra dự án luật, pháp lệnh.................................24
1.3.3. Trình tự, thủ tục thẩm tra dự án luật, pháp lệnh..........................25
1.4.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm tra dự án luật,
pháp lệnh...........................................................................................30
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT,
PHÁP LỆNH CỦA ỦY BAN PHÁP LUẬT.........................................34
2.1.
Quan điểm nâng cao chất lượng hoạt động thẩm tra dự án
luật, pháp lệnh của Ủy ban Pháp luật.............................................65
3.2.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thẩm tra dự
án luật, pháp lệnh của Ủy ban Pháp luật........................................67
3.2.1. Hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Pháp luật..........67
3.2.2. Đề cao vai trò của hoạt động thẩm tra và phát huy vai trò
của Ủy ban Pháp luật trong các khâu của quy trình lập pháp
............................................................................................................72
3.2.3. Nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đại biểu trình
dự án luật, pháp lệnh........................................................................73
3.2.4. Các giải pháp về phối hợp, hỗ trợ.......................................................75
3.3.
Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật có liên quan
đến hoạt động thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của Ủy ban
Pháp luật...........................................................................................77
3.3.1. Hoàn thiện quy định về tổ chức và hoạt động của Ủy ban
Pháp luật có liên quan đến hoạt động thẩm tra dự án luật,
pháp lệnh...........................................................................................77
3.3.2. Hoàn thiện quy định về quy trình, thủ tục xây dựng luật, pháp
lệnh.....................................................................................................80
3.3.3. Hoàn thiện một số quy định, quy chế, quy trình nội bộ................83
luật đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động thẩm tra dự án
1
luật, pháp lệnh, như số lượng dự án nhiều, nhiều dự án quan trọng, nhiều ý kiến
thẩm tra có chất lượng cao được ghi nhận và chỉnh lý trong dự thảo luật, pháp
lệnh... Hoạt động thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của Ủy ban Pháp luật đã thể
hiện được vai trò là trung tâm trong hoạt động lập pháp tại Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội. Ở đó, Ủy ban Pháp luật đã có nhiều đánh giá chuyên sâu
cả về các chính sách, quy trình và kỹ thuật lập pháp của dự án luật, pháp lệnh.
Qua đó, nâng cao chất lượng của các dự án luật, pháp lênh; góp phần quan
trọng vào sự thành công của công tác lập pháp của Quốc hội.
Bên cạnh đó, công tác thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của Ủy ban Pháp
luật cũng còn không ít những tồn tại, hạn chế dẫn đến chất lượng báo cáo
thẩm tra đối với một số dự án còn chưa cao, “một số ý kiến thẩm tra còn
chung chung, nặng về chủ trương”, “một số dự án ý kiến thẩm tra mới chỉ tập
trung phân tích, đánh giá về những chính sách lơn mà chưa đi sâu phân tích
đầy đủ các nội dung, chưa thảo luận chi tiết về nội dung của từng điều khoản
cụ thể” [23, tr.213]. Tuy rằng không nhiều, nhưng những tồn tại, hạn chế
trong công tác thẩm tra của Ủy ban Pháp luật có góp phần làm nên những tồn
tại, hạn chế của công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội. Vì thế, để góp
phần nâng cao chất lượng các dự án luật, pháp lệnh thì một yêu cầu bắt buộc
và cấp thiết là phải nâng cao chất lượng của công tác thẩm tra, nhất là công
tác thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của Ủy ban Pháp luật.
Hiện đang công tác tại đơn vị trực tiếp tham mưu, giúp việc Ủy ban
Pháp luật trong việc thẩm tra dự án luật, pháp lệnh và đồng thời là học viên
cao học khóa 22, chuyên ngành Luật Hành chính và luật Hiến pháp, khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, khi lựa chọn đề tài luận văn “Hoạt động
thẩm tra dự các án luật, pháp lệnh của Ủy ban Pháp luật Quốc hội nước
của một ủy ban như Ủy ban Pháp luật.
Một số cuốn sách đã được công bố, như: sách “Đổi mới và hoàn
3
thiện quy trình lập pháp của Quốc hội” của GS.TS. Trần Ngọc Đường và
TS. Ngô Đức Mạnh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2004; sách “Văn
bản quy phạm pháp luật và quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp
luật” của PGS.TS Phan Trung Lý, NXB Thời đại, Hà Nội – 2009; sách
“Quy trình lập pháp ở một số nước trên thế giới”, của TS. Ngô Đức Mạnh,
TS. Lương Minh Tuân, ThS. Hoàng Minh Hiếu, NXB Tư pháp, Hà Nội –
2006 là những cuốn sách chuyên khảo nghiên cứu về quy trình lập pháp của
các nước, quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam, trong
đó có quy trình xây dựng luật, pháp lệnh. Tuy có đưa ra những giải pháp
nhất định để đổi mới, nâng cao hiệu quả trong công tác lập pháp nhưng các
giải pháp được đề cập trong các cuốn sách này đa số không còn phù hợp với
hiện tại; các giải pháp đưa ra là chung cho cả quy trình xây dựng luật, pháp
lệnh nên chưa thực sự cụ thể cho hoạt động thẩm tra. Sách “Điều kiện hoạt
động của đại biểu Quốc hội”, của TS. Bùi Ngọc Thanh, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội – 2012 đã chỉ ra các quy định của pháp luật về điều kiện
hoạt động của đại biểu Quốc hội, đưa ra một số kiến nghị có liên quan đến
điều kiện hoạt động của Quốc hội.
Một số bài viết đã được đăng hoặc được công bố như: bài viết “Nâng
cao chất lượng dự án luật, pháp lệnh” của TS Phạm Tuấn Khải, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 3/2004; bài viết “Thực trạng và giải pháp nâng cao
chất lượng công tác thẩm tra dự án luật, pháp lệnh” của TS. Vũ Đức Khiển;
bài viết “Thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh của Hội đồng Dân tộc và các
Ủy ban của Quốc hội - Thực trạng và giải pháp” của GS. TS. Trần Ngọc
Đường; bài viết “Hoạt động tham vấn xã hội của cơ quan thẩm tra dự án luật
Với mục tiêu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn là:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thẩm tra
dự án luật, pháp lệnh, như khái niệm, vai trò của hoạt động thẩm tra; nguyên
tắc, nội dung, quy trình, phương thức thẩm tra; các yếu tố có ảnh hưởng đến
5
chất lượng hoạt động thẩm tra.
- Phân tích quy định của pháp luật về hoạt động thẩm tra dự án luật,
pháp lệnh của Ủy ban Pháp luật; phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động
thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của Ủy ban Pháp luật.
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động
thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của Ủy ban Pháp luật. Trên cơ sở đó, kiến nghị sửa
đổi, bổ sung một số nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
5. Phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Để thực hiện được những mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, ngoài
phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, Luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, diễn giải, quy nạp, so
sánh, thống kê...
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình đầu tiên đi sâu vào phân tích một cách toàn
diện, đầy đủ và có hệ thống về hoạt động thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của
Ủy ban Pháp luật. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận về hoạt động thẩm tra dự án luật, pháp lệnh; đánh giá được những kết
quả, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trong công
tác thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của Ủy ban Pháp luật; kinh nghiệm của một
số nước về hoạt động thẩm tra các dự án luật. Trên cơ sở đó, đề xuất phương
hướng, giải pháp khắc phục hạn chế, bất cập hiện nay trong công tác thẩm tra
dự án luật, pháp lệnh của các cơ quan của Quốc hội nói chung và của Ủy ban
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT, PHÁP LỆNH
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động thẩm tra dự án
luật, pháp lệnh
1.1.1. Khái niệm thẩm tra dự án luật, pháp lệnh
Các cơ quan của Quốc hội gồm Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban, do
Quốc hội thành lập. Theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội và các văn bản
pháp luật hiện hành, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Dân tộc và các Ủy
ban của Quốc hội được phân định thành ba lĩnh vực chính gồm có thẩm tra,
giám sát và kiến nghị. Trong hoạt động thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội thì hoạt động thẩm tra dự án luật, pháp lệnh vẫn là chủ yếu
và thường xuyên.
Theo Từ điển tiếng Việt, “thẩm” là xem xét; “tra” là tra khảo, tra
cứu, tra hỏi. “Thẩm tra” là điều tra, xem xét lại xem có đúng, có chính xác
không [35, tr.175]. Thuật ngữ này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau
như việc thẩm tra hồ sơ, thẩm tra năng lực, điều kiện của tổ chức, cá nhân hành
nghề xây dựng, thẩm tra tư cách đại biểu… Trong luật học, “thẩm tra” được hiểu
là việc “kiểm tra, xem xét các nội dung cơ bản của một vấn đề nào đó để đi đến
kết luận về tính đúng đắn, tính hợp pháp và tính khả thi” [32, tr.720].
Trong hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh thì thẩm tra là hoạt động bắt
buộc, là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình xem xét dự án luật, pháp
lệnh tại Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Theo Từ điển Luật học năm
1999 đã cắt nghĩa hoạt động thẩm tra dự án luật, pháp lệnh như sau:
Thẩm tra là việc xem xét lại kĩ lưỡng dự án luật, pháp lệnh
do Hội đồng dân tộc, Ủy ban Pháp luật hoặc một Ủy ban hữu
quan của Quốc hội hay một Ủy ban lâm thời được Quốc hội chỉ
là một tài liệu bắt buộc trong hồ sơ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc
hội; để giúp, hỗ trợ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý
kiến về dự án luật, pháp lệnh hiệu quả hơn.
9
Thứ hai, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh phải do cơ quan của Quốc hội
thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ và sự phân công của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội. Một dự án luật, pháp lệnh được phân công cho một cơ quan của
Quốc hội chủ trì thẩm tra nhưng có thể có nhiều cơ quan khác của Quốc hội
được phân công tham gia thẩm tra. Trong việc tham gia thẩm tra, Ủy ban
Pháp luật của Quốc hội có trách nhiệm tham gia thẩm tra để bảo đảm tính hợp
hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với tất cả
các dự án luật, pháp lệnh. Trong một số trường hợp, Quốc hội cũng có thể
thành lập cơ quan lâm thời để thẩm tra một dự án luật.
Thứ ba, dự án luật, dự án pháp lệnh có thể được thẩm tra một lần hoặc
nhiều lần. Pháp luật hiện hành không khống chế số lần thẩm tra đối với một
dự án luật, pháp lệnh. Thông thường đối với một dự án luật, Hội đồng Dân
tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra hoặc Thường trực Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội thẩm tra sơ bộ trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội
cho ý kiến và được Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra trước
khi trình Quốc hội xem xét; đối với dự án pháp lệnh, Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội thẩm tra một lần trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc
hội xem xét. Tuy nhiên, có trường hợp dự án luật được Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội thẩm tra nhiều lần hơn. Số lần thẩm tra đối với một dự án
luật thường phụ thuộc vào nội dung dự án có thay đổi hay không sau lần thẩm
tra đầu tiên hoặc nội dung của dự án luật có thể được Quốc hội xem xét từng
phần, chẳng hạn như Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội xem xét thành
02 phần thì Ủy ban Pháp luật thẩm tra đối với từng phần tương ứng.
thông qua dự án luật, pháp lệnh; (6) công bố luật, pháp lệnh. Như vậy, tại
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy trình xem xét, thông qua một dự
án luật, pháp lệnh cũng có thể chia làm 3 bước tương tự như quy trình lập
pháp của Nghị viện các nước, cụ thể là (1) lập chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh; (2) xem xét, cho ý kiến về dự án luật, pháp lệnh và (3) tiếp thu,
chỉnh lý, thông qua dự án luật. Cho dù theo quy trình nào thì việc thẩm tra
11
đều có vai trò hết sức quan trọng trong quy trình lập pháp. Thông qua hoạt
động thẩm tra, cơ quan thẩm tra đại diện cho người dân kiểm tra lại các chính
sách thể hiện trong dự án luật, pháp lệnh, chỉ ra những chính sách chưa đúng,
chưa phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, chưa phù hợp với thực tiễn
cuộc sống, góp phần làm cho dự án luật, pháp lệnh sau khi được thông qua có
nội dung phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, với điều kiện kinh tế - xã
hội, có khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội. Điều này thể hiện vai trò của
Ủy ban mà trung tâm của nó chính là hoạt động thẩm tra. Trong quy trình lập
pháp của Nghị viện ở các quốc gia trên thế giới, vai trò của Ủy ban là khác
nhau, tùy thuộc vào việc Ủy ban thẩm tra ở giai đoạn nào trong quy trình lập
pháp và mức độ độc lập trong việc xem xét dự án luật của Ủy ban, cụ thể như:
Ở một số nước như Đức, Italia, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ..., Ủy ban thẩm
tra trước phiên họp toàn thể (lần đọc thứ hai của Nghị viện). Theo quy trình
này, Ủy ban có toàn quyền quyết định việc đưa hoặc không đưa một dự án
luật ra xem xét trước Nghị viện. Điều này có nghĩa là, phải có chính kiến của
Ủy ban thẩm tra thì dự án luật mới được đưa ra xem xét tại phiên họp toàn thể
của Nghị viện, nếu không ủng hộ một dự án luật nào đó thì Ủy ban có thể
viện đủ mọi lý do để trì hoãn việc báo cáo về dự án luật trước Nghị viện. Như
vậy, Ủy ban có vai trò quyết định số phận của dự án luật đó [9]; có tác giả
nhận xét, các Ủy ban ở Hoa Kỳ “là chỗ để chôn vùi hoặc làm luật trước khi
kiến của mình mà phải viết lại các điều luật theo ý kiến của đại biểu để trình
ra Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhưng với ưu thế là cơ quan đã
trình báo cáo thẩm tra, tham mưu cho Quốc hội thì hầu hết các ý kiến của cơ
quan đã thẩm tra đều được thể hiện trong dự thảo luật, pháp lệnh để trình ra
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nói như vậy để thấy được vai trò của
cơ quan thẩm tra trong quy trình làm luật, pháp lệnh ở nước ta tương tự như
những nước này.
Ở một số nước như Italia, Tây Ban Nha,... các Ủy ban của Nghị viện
13
còn có vai trò đặc biệt trong hoạt động lập pháp, dự luật có thể được thông
qua ngay trong giai đoạn Ủy ban nếu được Nghị viện cho phép. Ở các nước
này, số lượng thành viên của các Ủy ban được tính toán tỷ lệ với số đại biểu
của các đảng chính trị trong Nghị viện. Vì vậy, đối với một số vấn đề, tỷ lệ
biểu quyết ở các Ủy ban thường tương đương với tỷ lệ biểu quyết ở phiên
họp toàn thể của Nghị viện. Điều này có nghĩa là quyết định của các Ủy ban
cũng tương tự như quyết định của toàn thể Nghị viện. Tuy nhiên, một số
nước có quy định một số vấn đề không được giao cho các Ủy ban quyết
định. Chẳng hạn, theo khoản 3 Điều 75 Hiến pháp Tây Ban Nha thì các vấn
đề về sửa đổi hiến pháp, quan hệ đối ngoại, ngân sách nhà nước và các vấn
đề liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước không được giao cho các Ủy ban
của Nghị viện quyết định [9].
Ở một số nước như Anh, Canada, Australia,.. Ủy ban xem xét, thẩm tra
dự án được đặt giữa lần đọc thứ hai và lần đọc thứ ba với mục đích xem xét
chi tiết về dự án luật và chỉnh lý dự án luật theo những nguyên tắc đã được
phiên họp toàn thể của Nghị viện quyết định tại lần đọc thứ hai. Theo quy
trình này, thông thường Ủy ban không có quyền bác bỏ dự án luật do Chính
phủ trình mà chỉ nghiên cứu để trình ra Nghị viện xem xét. Điều này có nghĩa
Ủy ban tạo ra những khoảng không gian và thời gian cần thiết để
phân tích và thảo luận về dự luật một cách hiệu quả hơn so với các
phiên họp toàn thể của Nghị viện [9].
Ở nước ta, trong điều kiện phần lớn đại biểu Quốc hội hoạt động không
chuyên trách, số lượng các dự án luật, pháp lệnh đưa ra xem xét, thông qua
ngày một nhiều, nội dung ngày càng mang tính chuyên môn sâu, phức tạp và
chất lượng đòi hỏi ngày càng cao, trong khi thời gian mỗi kỳ họp Quốc hội,
phiên họp Uỷ ban Thường vụ Quốc hội rất hạn chế, thì việc thẩm tra của cơ
quan phụ trách lĩnh vực đó là rất quan trọng và cần thiết. Các đại biểu Quốc
hội, thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cảm thấy an tâm hơn khi nhận
được những thông tin đầy đủ và có tính thuyết phục từ các báo cáo thẩm tra.
Việc trình báo cáo thẩm tra có chất lượng tốt ra trước Quốc hội, Ủy ban
15
Thường vụ Quốc hội sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thảo luận, thông qua
dự án luật, pháp lệnh. Báo cáo thẩm tra giúp cho các đại biểu Quốc hội có cơ
sở lý luận và thực tiễn để thảo luận một cách có hiệu quả về dự án luật, pháp
lệnh; đồng thời qua những lập luận nêu trong báo cáo thẩm tra, đại biểu Quốc
hội có thêm căn cứ để tỏ thái độ của mình đối với các vấn đề còn có ý kiến
khác nhau, giảm bớt được thời gian tranh luận và bảo đảm được tiến độ xem
xét, thông qua luật, pháp lệnh.
Thứ ba, hoạt động thẩm tra góp phần hoàn thiện dự án luật, pháp lệnh:
Như phân tích ở trên, ở một số quốc gia, thông qua hoạt động thẩm tra
các Ủy ban có thể kiến nghị cơ quan trình chỉnh sửa dự án luật, pháp lệnh,
thậm chí ở một số nước Ủy ban có thể viết lại dự án luật theo ý kiến của Ủy
ban dựa trên cơ sở dự án luật do các chủ thể khác đệ trình. Thực tế hoạt động
ở Việt Nam, trong giai đoạn thẩm tra, cơ quan thẩm tra thường đưa ra chính
kiến của mình về các vấn đề của dự án luật, pháp lệnh; đồng thời kiến nghị,
Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội không có thành viên làm việc
chuyên trách và không có bộ phận thường trực nên hầu hết các dự án luật,
pháp lệnh được giao cho Ủy ban Pháp luật thẩm tra.
Với sự ra đời của Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức Quốc hội năm
1992, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 thì nhiệm vụ
thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội đã được quy định cụ thể
hơn và cơ bản được kế thừa cho đến nay. Theo đó, thẩm quyền thẩm tra của
Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội được xác định theo phạm vi, lĩnh vực
hoạt động của Hội đồng Dân tộc, từng Ủy ban của Quốc hội. Trong trường
hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình dự án luật thì Quốc hội quyết định cơ
quan thẩm tra hoặc thành lập Ủy ban lâm thời để thẩm tra dự án luật đó; đối
với các dự án luật, pháp lệnh do Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
trình thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra; đối với
những dự án luật, pháp lệnh có nội dung liên quan đến lĩnh vực phụ trách của
17
Hội đồng Dân tộc và nhiều Ủy ban của Quốc hội thì Quốc hội cũng có thể
thành lập Ủy ban lâm thời để thẩm tra hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội phân
công cơ quan chủ trì thẩm tra. Việc phân định phạm vi, lĩnh vực phụ trách
của các cơ quan của Quốc hội là một bước tiến bộ, là cơ sở để Ủy ban
Thường vụ Quốc hội phân công thẩm tra và tạo điều kiện để các cơ quan có
cơ hội nghiên cứu sâu hơn về trong lĩnh vực mà mình phụ trách để từ đó có
thể đưa ra các ý kiến thẩm tra sâu hơn, kỹ hơn đối với các dự án luật, pháp
lệnh; nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động thẩm tra. Hiện nay, việc
thẩm tra dự án luật, pháp lệnh được giao cho các cơ quan của Quốc hội, bao
gồm Hội đồng Dân tộc và 9 Ủy ban của Quốc hội, cụ thể là gồm Ủy ban
Pháp luật; Ủy ban Tư pháp; Ủy ban Kinh tế; Ủy ban Tài chính, Ngân sách;
Ủy ban Quốc phòng và An ninh; Ủy ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên,