Nghiên cứu cơ sở địa lý cho sử dụng hợp lý đất ngập nước khu vực long biên – gia lâm, thành phố hà nội - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------------

Phạm Huyền Trang

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ ĐỊA LÝ CHO SỬ DỤNG HỢP LÝ
ĐẤT NGẬP NƢỚC KHU VỰC LONG BIÊN - GIA LÂM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------------

Phạm Huyền Trang

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ ĐỊA LÝ CHO SỬ DỤNG HỢP LÝ
ĐẤT NGẬP NƢỚC KHU VỰC LONG BIÊN - GIA LÂM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên môi trƣờng
Mã số:

60850101

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Liên đoàn quy hoạch và điều tra tài nguyên nước
miền Bắc, UBND quận Long Biên và UBND huyện Gia Lâm đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi và cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, tư liệu bản đồ trong quá trình
nghiên cứu luận văn này.
Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn các bạn học viên cùng lớp, những người
thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Trân trọng cảm ơn./.

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ....................................................................................... v
DANH MỤC HÌNH VẼ ........................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................... vii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI .......................................................................... 1
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU........................................................ 2
3. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ............................................................. 3
4. Ý NGHĨA LUẬN VĂN .......................................................................................... 4
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN ....................................................................................... 4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU .......................................................................................................... 5
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu .................................................................. 5
1.1.1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới ....................................................... 5
1.1.2. Tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam ....................................................... 8

3.2.1. Vấn đề môi trường vùng đất ngập nước khu vực ........................................ 64
3.2.2. Đặc điểm khai thác và sử dụng vùng đất ngập nước .................................. 72
3.3. Định hướng sử dụng bền vững vùng đất ngập nước tại khu vực ....................... 75
3.3.1. Phân tích bản đồ quy hoạch tại khu vực ..................................................... 75
3.3.2. Thực trạng công tác quản lý vùng đất ngập nước ...................................... 78
3.3.3. Định hướng sử dụng bền vững vùng đất ngập nước tại khu vực ................ 81
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 92
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 97

iv


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1. Các giá trị kinh tế của đất ngập nước ............................................................... 16
Bảng 2. Các loại đất ngập nước tại Hà Nội ................................................................... 16
Bảng 3. Hiện trạng và quy hoạch sử dụng đất năm 2020 tại khu vực nghiên cứu ........ 46
Bảng 4. Các tiêu chí xác định cấp phân vị cảnh quan khu vực ..................................... 48
Bảng 5. Khối lượng cát khai thác khu vực Hà Nội - Thượng Cát ................................. 70
Bảng 6. Một số giá trị, chức năng, dịch vụ chính của ĐNN Hà Nội ............................. 82
Bảng 7. Tổng hợp các ao, hồ tại khu vực ...................................................................... 99
Bảng 8. Kết quả phân tích chất lượng nước mặt các hồ: Thạch Bàn, Thạch Bàn 1,
Sài Đồng ...................................................................................................................... 101
Bảng 9. Tổng hợp hiện trạng bờ, hành lang bờ khu vực nghiên cứu ........................... 102
Bảng 10. Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt sông Hồng năm 2015 .................... 107
Bảng 11. Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt sông Đuống năm 2015 .................. 108
Bảng 12. Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt sông Cầu Bây năm 2015 ............... 109

v



vi


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐDSH

Đa dạng sinh học

ĐNN

Đất ngập nước

HST

Hệ sinh thái

TTCN

Tiểu thủ công nghiệp

UBND

Ủy ban nhân dân

GIS

Geographic Information System

CNTT

người sử dụng nước ngầm là nguồn nước uống, việc khai thác quá mức và ngày
càng gia tăng vượt quá khả năng tích tụ nước ngầm từ vùng đất ngập nước bề mặt.
Các loài sinh vật nước ngọt và ven biển đang suy thoái nhanh hơn so với các loài
trong các hệ sinh thái khác. Sự suy thoái chủ yếu là do chuyển đổi mục đích sử
dụng đất và xây dựng cơ sở hạ tầng, phú dưỡng, ô nhiễm môi trường và khai thác
quá mức. Quá trình này có xu hướng diễn ra nhanh hơn ở những khu vực có tốc độ
gia tăng dân số cao và nhu cầu phát triển kinh tế mạnh. Trong bối cảnh đó, bảo tồn
và sử dụng hợp lý các hệ sinh thái đất ngập nước là trọng tâm được nhiều nhà
nghiên cứu và hoạch định chính sách hướng tới giải quyết.
Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, một trong những đồng bằng
châu thổ lớn nhất của Việt Nam. Theo thống kê chưa đầy đủ, toàn thành phố có
khoảng 111 hồ nước tự nhiên và nhân tạo, với tổng diện tích 1.165ha. Trong quá
trình đô thị hoá, một số sông như Kim Ngưu và Tô Lịch trở thành các mương tiêu
nước cho nội đô, nhiều ao, hồ đầm lầy đã bị san lấp. Qua quá trình phát triển, Hà
Nội đã thay đổi và phát triển thành trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của cả
nước, song song với sự phát triển là việc các vùng đất ngập nước bị san lấp,
chuyển đổi thành các khu vực đô thị.... Kết quả của sự phát triển là các hệ sinh
1


thái tự nhiên các vùng đất ngập nước của Hà Nội đã bị thay đổi và bị suy thoái cả
về số lượng cũng như chất lượng. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Trung tâm Hà
Nội sẽ là đầu não và được phát triển mở rộng từ khu vực nội đô về 4 phía: trong
đó, phía Đông đến Gia Lâm và Long Biên. Như vậy, trong tương lai, khu vực
Long Biên - Gia Lâm sẽ có tốc độ phát triển vượt bậc cả về kinh tế, xã hội, hạ tầng
đô thị và môi trường. Tuy nhiên, sức ép dân số cùng với quá trình đô thị hóa
nhanh chóng sẽ tạo áp lực to lớn đối với hệ sinh thái vùng đất ngập nước tại khu
vực. Hà Nội mở rộng, hiện đại hơn nhưng sông hồ ngày càng bị san lấp, thu hẹp
và ô nhiễm hơn.

- Phân tích tồn tại trong công tác quản lý hiện nay. Từ đó, đề xuất định
hướng các giải pháp quản lý nhằm sử dụng bền vững, bảo tồn và phát triển tài
nguyên đất ngập nước tại khu vực.
3. PHẠM VI, ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Về đối tượng
Luận văn tập trung vào hệ thống đất ngập nước tại khu vực Long Biên - Gia
Lâm (bao gồm chủ yếu là: hệ thống ao, hồ; hệ thống song, mương thoát nước).
- Khu vực nằm giữa hệ thống sông Hồng và chi lưu của nó là sông Đuống,
tạo một hệ thống kênh, mương khá đồ sộ.
- Khu vực có nhiều đầm, hồ tự nhiên nhưng do quá trình đô thị hoá, một số
ao, hồ đã bị san lấp. Qua khảo sát, khu vực có khoảng hơn 300 hồ, ao, đầm bao gồm
cả tự nhiên và nhân tạo.
- Hiện nay, các hồ tại khu vực gần như là bắt buộc phải tiếp nhận và xử lý
nước thải chảy tràn, sinh hoạt và công nghiệp. Trong những năm gần đây, sự ô
nhiễm của các hồ ngày một nghiêm trọng. Từ nhận thức đó cùng với những nỗ lực
nhất định mà hiện nay một vài hồ đã được hạn chế sử dụng chức năng này, thay
vào đó là chức năng sinh thái. Một số hồ đã được cải tạo, kè, tạo hành lang bờ, áp
dụng một số phương pháp để xử lý ô nhiễm để tạo thành hồ trong các công viên,
vườn hoa.
3.2. Về không gian
Không gian nghiên cứu của luận văn là khu vực Long Biên - Gia Lâm, thành
phố Hà Nội.
3


Vị trí địa lý: Phía Đông, Nam giáp với tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên; phía Bắc
giáp huyện Đông Anh, Hà Nội; Phía Tây giáp với sông Hồng, giáp với các quận
huyện Tây Hồ, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh Trì, Thường Tín.
4. Ý NGHĨA LUẬN VĂN
- Đánh giá được một cách toàn diện, tổng hợp nhất về vùng đất ngập nước tại

môi trường do các vùng đất ngập nước là một khái niệm tương đối mới. ở Mỹ,
những nỗ lực bảo vệ đầm lầy thực sự bắt đầu với tổ chức Đạo luật Nước sạch vào
năm 1972 và Cơ quan quản lý Catter. Còn ở Trung Quốc, thiết lập các chính sách
bảo vệ và khôi phục đất ngập nước năm 2005, tuy nhiên các quốc gia khác như
Ethiopia gần như không có quy định (Adebe, Y.D. 2003).
Để định hướng khai thác, sử dụng bền vững hệ thống hồ nước và sông ngòi,
đã có nhiều công trình nghiên cứu cả về lý thuyết và thực tiễn. Cũng nhận thấy rằng
các công trình nghiên cứu về thường mang tính đơn ngành, trong đó các nghiên cứu
về điều kiện thuỷ văn, tài nguyên nước; về tài nguyên sinh vật, về địa lý tự nhiên
của các hồ nước, sông ngòi là khá đầy đủ.
Hồ được xem là thuỷ vực tiếp nhận và lưu trữ vật liệu từ lưu vực xung quanh
cũng như từ khí quyển, khi đó chúng là mối quan tâm của các nhà địa chất, địa mạo,
thuỷ văn học vì trầm tích tích tụ có thể phản ánh sự thay đổi của khu vực theo thời
gian. Tỷ lệ xói mòn lưu vực liên quan đến việc thay đổi sử dụng đất, truy tìm nguồn
trầm tích, biến đổi khí hậu, các chất ô nhiễm đã được chuyển đến, hồ sơ lũ và mẫu
thực vật có thể được phát hiện bằng cách đánh giá các đặc điểm khác nhau của các
lớp trầm tích tích luỹ trong hồ. Hồ cổ học (Paleolimnology) là ngành khoa học sử
dụng các kết quả phân tích trầm tích hồ để tái tạo các sự kiện trong quá khứ - đòi
5


hỏi phải có một số phương tiện phù hợp với các vật liệu tích luỹ và một loạt các
phương pháp xác định sự tồn tại (ví dụ như 210Pb, 14C, 137Cs, nhiệt huỳnh
quang,…), nhưng độ chính xác của mỗi phương pháp lại hạn chế trong khoảng thời
gian cụ thể. Trên cơ sở này và thực tế rằng các trầm tích hồ có thể biến đổi theo thời
gian và không gian, việc gây dựng nên bộ sưu tập các lõi mẫu vật và phương pháp
phân tích phù hợp với những câu hỏi nghiên cứu rất quan trọng. Dearing và Foster
(1993) đã đưa ra những thảo luận hữu ích về những vấn đề, các sai sót và những tác
động của việc sử dụng các lõi trầm tích trong nghiên cứu địa mạo. Một văn bản
trước đó của Hakanson và Jansson (1983) đã giới thiệu các chủ đề của trầm tích hồ

năng bị lầy hoá, trục và hướng dòng chảy trong lũ và một số các tai biến kèm theo
như xói lở bờ sông, hiện tượng bồi lấp…[7, 20]
Bên cạnh đó, các nghiên cứu về biến đổi lòng dẫn dưới ảnh hưởng của sự
biến đổi về môi trường, xây dựng cơ sở hạ tầng cũng rất được quan tâm. Dữ liệu
ảnh, địa hình được ghi nhận trong một khoảng thời gian dài giúp ích rất lớn cho
những nghiên cứu biến đổi lòng sông qua nhiều thế hệ. Có thể kể đến một số nghiên
cứu như Wallick và nnk phân tích dữ liệu dòng chảy từ năm 1853, 1855 tới nay tại
khu vực sông Umpqua, Oregon; Caroline và nnk nghiên cứu tại Missouri, phía nam
Dakota và Nebraska.
Ngày nay, mặc dù sự đô thị hóa đang ngày càng gia tăng - với hơn 60% dân số
toàn cầu ước tính sẽ sống ở đô thị vào năm 2030 (UN, 2010) - song cuộc sống của
chúng ta vẫn sẽ phụ thuộc vào thiên nhiên, vào các hệ sinh thái xung quanh như
trước đây, trong đó có hệ sinh thái đất ngập nước. Vì lẽ đó, mối quan hệ giữa đất
ngập nước và sự đô thị hóa, hay vai trò của đất ngập nước đô thị đối với sự phát
triển bền vững của các thành phố đang ngày càng được cộng đồng quốc tế quan tâm
nghiên cứu. Đặc biệt, từ năm 2008, sau khi COP 10 ra Nghị quyết số X.27 về “Đất
ngập nước và Sự đô thị hóa” thì không những Ban thư ký Công ước Ramsar và các
ủy ban kỹ thuật thuộc Công ước mà nhiều tổ chức bảo tồn và các quốc gia trên thế
giới đã tập trung nghiên cứu về hệ sinh thái đất ngập nước đô thị.
Ở cấp độ quốc gia, nghiên cứu về đất ngập nước đô thị phổ biến ở các quốc
gia phát triển như Anh, Mỹ, Canada, Australia, Nhật Bản và được tiến hành từ khá
sớm. Điều này cũng dễ lý giải vì đây là các nước có tỷ lệ đô thị hóa cao, trình độ
khoa học tiên tiến và cũng là những đất nước có nhiều sông, hồ, đầm trong thành
phố. Các khía cạnh được nghiên cứu khá đa dạng, từ các khía cạnh sinh thái học
7


(Moss, 1999), chất lượng môi trường (Charlesworth and Foster, 1991) kinh tế học
(O’Riordan, 1999) đến tìm hiểu các giá trị văn hóa (Manuel, 2003), khía cạnh thể
chế chính sách (Born and Rumery, 1989) và cách tiếp cận sử dụng đa mục tiêu

ra liên tục cướp đi nhiều hoa màu, đe doạ trực tiếp đến sự ổn định của nhiều công
trình công cộng, kho tàng trên bờ sông, thậm chí là cả tính mạng của nhiều người
dân. Trong đó, hai yếu tố ảnh hưởng quyết định đến độ ổn định tuyến bờ sông Hồng
khu vực Hà Nội là đặc điểm hình thái lòng dẫn và cấu trúc địa chất bờ sông, đặc
điểm địa hình địa mạo. Đặc điểm trầm tích và biến động lòng sông Hồng khu vực
Hà Nội cũng được Nguyễn Bảo (2014) nghiên cứu ngay sau đó. Bản chất quá trình
thành tạo và phát triển lòng dẫn sông Hồng là sự kéo dài và phân nhánh lòng sông
theo phương thức san bằng tích tụ thành tạo đồng bằng châu thổ. Quá trình phát
triển lòng dẫn hiện nay rất phức tạp đó là quá trình xói lở - tích tụ theo quy luật phát
triển của sông vùng đồng bằng delta và quá trình kéo dài lòng dẫn, uốn cong. Quy
luật dao động bùn, cát phân bố của trầm tích bề mặt liên quan chặt chẽ với chế độ
dòng chảy, tới quá trình bồi lắng và hình thái của lòng dẫn sông. Bởi vậy, theo tác
giả các hoạt động khai thác cát hợp lý ngoài mục đích phát triển kinh tế xã hội còn
giúp khơi thông luồng lạch, tránh các tai nạn giao thông thuỷ xảy ra. Cùng chung
hướng nghiên cứu trên, Lê Văn Hùng và Phạm Tất Thắng đưa ra đánh giá dựa trên
tài liệu thực đo diễn biến mặt cắt địa hình lòng dẫn kết hợp với các tài liệu thuỷ văn
dòng chảy, đồng thời đánh giá những ảnh hưởng của nó tới dòng chảy mùa kiệt.
Lòng sông cổ và các hồ nước thường là các sản phẩm đặc biệt của quá trình
tiến hoá địa mạo. Tìm hiểu về sự biến động lòng sông, hồ nước gắn liền với các quá
trình tiến hoá địa mạo trên đồng bằng châu thổ có ý nghĩa lớn cả về lý luận và thực
tiễn. Tại Hà Nội, hệ thống lòng sông và hồ nước còn bị tác động mạnh bởi các hoạt
động của con người do tốc độ đô thị hoá ở đây rất nhanh. Những dấu vết của hệ thống
sông ngòi, hồ, đầm lầy cổ bị san lấp bởi các công trình xây dựng. Biến động lòng
sông trong quá khứ để lại dấu ấn khá rõ nét trong trầm tích cũng như hình thái địa
hình. Thông qua các hoạt động của con người (chủ yếu là sử dụng đất) mà hoạt động
này có sự phân dị khá rõ theo những thực thể tự nhiên và chính chúng tạo nên một
dấu hiệu hay một lớp thông tin đáng tin cậy trong quy trình sử lý GIS để nhận biết sự
biến động lòng sông. Đặng Kinh Bắc và nnk (2010), phân tích những thông tin về các
thành tạo địa hình âm dạng tuyến, đôi nơi còn sót ao hồ cùng thông tin về thành phần
vật chất (được xác định khá tốt trên ảnh viễn thám) và các dấu hiệu gián tiếp (nhờ lớp

chưa chú ý đến sự lồng ghép giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nên kết quả
chỉ phục cho từng ngành, mang nhiều tính cục bộ, thiếu những giải pháp phù hợp
với mục đích quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững.
10


1.2. Cơ sở lý luận trong việc sử dụng hợp lý đất ngập nƣớc
1.2.1. Khái niệm chung về đất ngập nước
a. Khái niệm
Trong nhiều thập kỷ qua, các chuyên gia về môi trường và tài nguyên nước
trên thế giới đã tìm cách định nghĩa, mô tả đặc điểm và phân loại “đất ngập nước”
(ĐNN). Theo thời gian và khái niệm, từ “đất ngập nước” (wetland) được dùng để
chỉ các vùng đầm lầy, rừng sát, rừng ngập mặn, vùng đất trũng chứa nước như ao
hồ, đầm phá, bãi đầm lún, vùng đồng lũ, vùng đất chứa than bùn, bãi đất ngập ven
sông, vùng đất ven biển chịu ảnh hưởng thủy triều,… Tính chất ngập nước, bất kể
từ nguồn nước nào, làm cho đất trở nên bão hòa hoặc cận bão hòa theo thường kỳ
hoặc định kỳ là đặc điểm chính để định dạng đất ngập nước.
Theo điều 1.1 của Công ước Ramsar về Đất ngập nước (the Ramsar
Convention on Wetlands), công bố năm 1971 tại thành phố Ramsar (Iran), đã định
nghĩa từ “đất ngập nước” như sau:
“Đất ngập nước là vùng đất của đầm lầy, miền ngập lầy, bãi than bùn hoặc
vùng nước, bất kể là tự nhiên hoặc nhân tạo, thường kỳ hoặc tạm thời, nước đứng
hoặc đang chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc mặn, bao gồm cả vùng biển nơi độ sâu
dưới mức thủy triều thấp không quá 6m”.[27]
Theo hai nhà khoa học nổi tiếng chuyên về đất ngập nước, Kadlec và
Knight (1996), đất ngập nước là vùng nằm giữa vùng đất cao và vùng nước. Vùng
đất cao là vùng đất được hiểu là vùng đất có cao độ cao hơn điểm thoát ra ngoài
mặt đất của mức thủy cấp mùa lũ. Vùng nước là vùng đất thấp hơn mực nước thấp
nhất, hoặc nói cách khác đó chính là điểm thoát nước ra ngoài của mực thủy cấp
trong mùa khô.

yếu tố chính của dòng năng lượng trong toàn hệ thống đất ngập nước (Cronk và
Siobhan, 2001). Sự hiện diện các loài thực vật khác nhau trong vùng đất ngập nước
rất phong phú.
Các loại thực vật sống trong vùng đất ngập nước còn được các nhà thực vật học
gọi bằng tên là cây ưa nước (Hydrophytes, hoặc water loving plants), chúng thích
nghi trong điều kiện ẩm ướt, yếm khí.
* Đất
Đất được định nghĩa như là một vật liệu tự nhiên không bền vững hiện diện
trên mặt đất, cây trồng phần lớn tồn tại trên đất. Đất ở vùng đất ngập nước (wetland
soil) thường được gọi là “đất có chứa nước” (hydric soil). Đặc điểm của đất nền là
một chỉ định quan trọng trong mô tả thủy văn đất ngập nước. Phần lớn đất ngập
13


nước tồn tại ở những nơi đất ở trạng thái bão hòa hoặc cận bão hòa do ngập nước.
Các vùng đất này thường là những nơi đất trũng, đất thấp hoặc những nơi có dòng
chảy đi qua hoặc là nơi mà nước ngầm có thể dâng trào, phún xuất làm cho đất bị
sũng ướt, ngậm nước hoặc ứ nước. Do đất bị ngâm trong nước một thời gian khá
dài, trong điều kiện yếm khí nên đất nguyên thủy thành đất ngập nước mà ở đó chỉ
một số loài thực vật đặc biệt có thể sống được.

Hình 3. Sự thay đổi tính chất đất từ vùng tiêu nước tốt đến vùng khó tiêu nước [27]
Khi đánh giá đất ngập nước cần lưu ý mô tả đặc điểm địa hình, địa mạo, độ
dốc, tính chất thổ nhưỡng, màu sắc của nền đất như ví dụ trên hình 3.
b. Phân loại
Có nhiều hệ thống phân loại đất ngập nước đã được giới thiệu trên toàn thế
giới. Sự phân loại này thường được xây dựng trên cơ sở mô tả đặc điểm nguồn
nước, cây trồng và đất hiện diện trên đó. Theo Bảng thông tin của Công ước Ramsar
(The Information Sheet for Ramsar Wetlands - RIS), phiên bản 2006 - 2008 hướng
dẫn, việc phân loại đất ngập nước theo 3 nhóm: nhóm đất ngập nước ven biển/ vùng

Trên thế giới có khoảng 3 tỷ người ăn lúa gạo, sống phụ thuộc vào đất ngập
nước. Khoảng 2/3 lượng thủy sản đánh bắt được cũng từ đất ngập nước. Barbier
(1993) cho rằng giá trị kinh tế của đất ngập nước bao gồm những giá trị sử dụng và
những giá trị không sử dụng, tham khảo ở Bảng 1.

15


Bảng 1. Các giá trị kinh tế của đất ngập nước [20]
Giá trị sử dụng
Giá trị không sử dụng
Giá trị trực tiếp

Giá trị gián tiếp

Giá trị lựa chọn

 Thu hoạch cá

 Giữ dinh dưỡng

 Làm nông ngiệp

 Kiểm soát lũ

dụng trong

 Bảo tồn văn hoá

 Lấy củi



 Than bùn

 Đa dạng sinh học

tương lai

 Ổn định bờ

1.2.2. Khát quát đất ngập nước Thành phố Hà Nội
Trên cơ sở phân hạng của Công ước RAMSAR về đất ngập nước (IUCN,
1997) thì đất ngập nước Hà Nội có thể chia thành 9 loại hình chính dưới đây:
Bảng 2. Các loại đất ngập nước tại Hà Nội [20]
Đất ngập nước nội địa
M)

Sông, suối có nước chảy thường xuyên

O)

Hồ nước ngọt ngập thường xuyên (Trên 8ha)

Tp)

Ao, hồ nước ngọt ngập thường xuyên (Dưới 8ha)

Đất ngập nước nhân tạo
1)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status