ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------***------------
TRẦN THANH LÂM
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC
ĐỘNG VẬT KHÔNG XƢƠNG SỐNG Ở NƢỚC TẠI SÔNG
THU BỒN, (ĐOẠN TỪ CẦU CÂU LÂU ĐẾN CỬA ĐẠI),
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------***------------
TRẦN THANH LÂM
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC
ĐỘNG VẬT KHÔNG XƢƠNG SỐNG Ở NƢỚC TẠI SÔNG
THU BỒN, (ĐOẠN TỪ CẦU CÂU LÂU ĐẾN CỬA ĐẠI),
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Thủy sinh vật học
Mã số: 60420108
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN: TS. NGÔ XUÂN NAM
PGS.TS. NGUYỄN XUÂN QUÝNH
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên
Trần Thanh Lâm
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................. 3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ...................................................................................... 6
DANH MỤC BẢNG ...................................................................................................... 7
DANH MỤC HÌNH........................................................................................................ 7
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN .......................................................................................... 3
1.1. Những nghiên cứu về động vật không xƣơng sống vùng cửa sông, ven biển trên
thế giới ......................................................................................................................... 3
1.2. Những nghiên cứu về động vật không xƣơng sống vùng cửa sông, ven biển Việt
Nam ............................................................................................................................. 6
1.2.1. Tình hình nghiên cứu động vật không xƣơng sống ở vùng cửa sông, ven
biển Việt Nam .......................................................................................................... 6
1.2.2. Tình hình nghiên cứu động vật không xƣơng sống ở nƣớc tại khu vực
nghiên cứu .............................................................................................................. 12
CHƢƠNG 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......... 22
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ...................................................................... 22
2.1.1. Thời gian nghiên cứu ................................................................................... 22
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu .................................................................................... 22
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................................... 23
2.2.1. Phƣơng pháp thu thập vật mẫu ngoài tự nhiên ............................................ 23
2.2.1.1. Phƣơng pháp thu mẫu động vật nổi (Zooplankton) .............................. 23
2.2.1.2. Phƣơng pháp thu mẫu động vật đáy (Zoobenthos) ............................... 23
2.2.2. Phƣơng pháp phân tích vật mẫu trong phòng thí nghiệm ............................ 24
BĐKH
Biến đổi khí hậu
ĐDSH
Đa dạng sinh học
ĐVĐ
Động vật đáy
ĐVKXS
Động vật không xƣơng sống
ĐVN
Động vật nổi
HST
Hệ sinh thái
IUCN
Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế
KT-XH
TVN
Thực vật nổi
UBND
Ủy ban nhân dân
UNEP
Chƣơng trình Môi trƣờng Liên hiệp quốc
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
WB
Ngân hàng Thế giới
WWF
Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã Thế giới
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Đặc điểm sinh cảnh các điểm thu mẫu......................................................... 26
Bảng 3.2. Tổng hợp kết quả đo một số chỉ tiêu thủy lý, hóa học theo mùa ở thủy vực
nghiên cứu .................................................................................................................... 31
Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Đại Lộc, Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) và
huyện Hoà Vang (TP. Đà Nẵng). Sông đƣợc tạo thành bởi nhiều nhánh sông nhƣ:
Sông Đăk Mi (sông Cái), sông Bung, sông A Vƣơng và sông Côn [41].
Sông Thu Bồn có chiều dài 198 km, bắt nguồn từ sƣờn đông nam dãy
Ngọc Linh với độ cao trên 2.000m, đoạn đầu gọi là sông Tranh hay sông Tỉnh
Gia. Sông chảy theo hƣớng Bắc Nam qua các huyện Trà My, Tiên Phƣớc, Hiệp
Đức, Quế Sơn và Đại Lộc, sau đó chảy qua vùng đồng bằng của các huyện Duy
Xuyên, Điện Bàn và TP. Hội An [41].
Hạ lƣu sông Thu Bồn là vùng đất ngập nƣớc rộng lớn, nhất là khu vực xã
Cẩm Thanh, Cẩm Kim và vùng phụ cận với hơn 500ha diện tích mặt nƣớc. Các
nhánh sông là: sông Ba Chƣơm, sông Cổ Cò, sông Đình, sông Đò nối với sông
Thu Bồn tạo thành nhiều cồn, gò nhƣ cồn Thuận Tình, cồn Tiến, gò Hí, gò
Già…, với các HST điển hình vùng nhiệt đới nhƣ RNM và cỏ biển [41]. Trong
đó, đáng chú ý là rừng dừa nƣớc dọc bờ các kênh rạch tạo cho vùng đất ngập
nƣớc hạ lƣu sông Thu Bồn một HST vùng cửa sông đa dạng và phong phú.
Hàng năm, phần hạ lƣu sông này đã và đang cung cấp một lƣợng nƣớc lớn phục
vụ các hoạt động KT-XH của tỉnh Quảng Nam nói chung và vùng phụ cận nói
riêng, trong đó quan trọng là khu phố cổ Hội An đƣợc UNESCO công nhận là
Di sản văn hóa thế giới vào năm 1999.
ĐVKXS ở nƣớc là nhóm sinh vật rất phong phú và đóng vai trò rất quan
trọng trong các HST và trong đời sống của con ngƣời. Tại các thủy vực,
ĐVKXS tham gia vào các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lƣợng, là mắt
1
xích quan trọng trong mạng lƣới thức ăn của thủy vực và tạo sự cân bằng cho
các thủy vực. Ngoài ra, nhiều loài còn là sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lƣợng
nƣớc ở các thủy vực. Trong đời sống sinh hoạt, từ xa xƣa, con ngƣời đã biết sử
dụng ĐVKXS để làm thực phẩm, làm đồ trang trí... Ngày nay, nhờ có các
nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm của mình, con ngƣời đã thuần hoá và nuôi
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Những nghiên cứu về động vật không xƣơng sống vùng cửa sông, ven
biển trên thế giới
Các nghiên cứu đầu tiên về khu hệ thuỷ sinh vật biển phát triển mạnh với
việc sử dụng lƣới vớt sinh vật nổi và lƣới kéo sinh vật đáy (1750). Các tác giả
đầu tiên của giai đoạn này là Audonin và Edwards (1832), Sars (1835), Forbes
(1844) đã công bố những dẫn liệu đầu tiên. Tiếp đến là thời kỳ nghiên cứu sinh
thái học, tiêu biểu là Loren (1863), Walther (1893 - 1984), Zernov (1912),…
Giai đoạn nghiên cứu định lƣợng nhƣ nghiên cứu định lƣợng sinh vật nổi của
Hensen (1877) và gầu định lƣợng sinh vật đáy của Petersen (1908) (Theo Đặng
Ngọc Thanh, 1974) [32].
Ở các hệ sinh thái trên cạn, số lƣợng các loài nhiều hơn ở biển, do đó tính
ĐDSH cũng cao hơn nhƣng các loài sinh vật biển lại có khuynh hƣớng tăng khả
năng biến dị hơn nên tính đa dạng về di truyền cũng lớn hơn. Trong các HST
cửa sông, số lƣợng các loài lại không nhiều so với các vùng biển lân cận nhƣng
do tính không đồng nhất về các điều kiện sống, những biến dị của các cá thể của
loài càng trở nên phong phú nhờ đó chúng có thể tồn tại và thích ứng đƣợc với
những thay đổi của các điều kiện môi trƣờng. Ngay trong một HST cửa sông,
nơi sống của các loài và các quần thể của loài, cũng phân hoá mạnh, tạo nên các
ổ sinh thái khác nhau nhất là khu vực RNM. Ví dụ nhƣ trong các HST RNM có
thể bắt gặp 2-4 loài còng thuộc giống Uca, tuy nhiên mỗi loài này xuất hiện
thƣờng phụ thuộc vào cấu tạo của nền đáy. Ngoài ra, các cửa sông phân bố ở các
vị trí địa lý khác nhau cũng có sự cách ly tƣơng đối, vì vậy ngoài những loài
chung, mỗi nơi còn có các loài sinh vật đáy đại diện cho mỗi sinh cảnh của mình
nhƣ Polychaeta, Mollusca,... (Theo Nguyễn Huy Chiến, 2007) [4].
Về ĐVN, Thompson (1830) và Muler (1845) là những ngƣời đầu tiên
nghiên cứu về ĐVN trong khi dùng lƣới mắt nhỏ để vớt ấu trùng sao biển đã
tình cờ phát hiện ra sự đa dạng phong phú của các loài sinh vật bé nhỏ trong
nƣớc biển (Theo Nguyễn Huy Chiến, 2007) [4].
trong vùng cửa sông và biển. Chẳng hạn, loài Giáp xác bơi nghiêng (Gammarus
zaddachi oceanicus) liên quan chặt chẽ với Gammarus zaddachi zaddachi cửa
sông. Trong các giống Hydrobia, Sphaeroma, Corophilum, Balanus... có những
4
loài rất gần nhau, song loài thì sống ở cửa sông, loài thì sống ở nƣớc mặn [61,
71, 72].
Chỉ tính đến thập kỷ 80 thì theo Phạm Đình Trọng (1996) trên thế giới, số
tài liệu đề cập về HST RNM đã vƣợt quá 7000 đầu sách, trong đó có hàng trăm
công trình đề cập đến các quần xã động vật. Xét riêng về ĐVKXS đáy cỡ lớn
(Macrobenthos) đã có 110 công trình công bố [39]. Theo Vũ Trung Tạng (1994)
cho thấy trong RNM ở Đông Nam Á, đã thống kê đƣợc gần 230 loài Giáp xác,
211 loài Thân mềm, 11 loài Giun nhiều tơ và 13 loài giun ít tơ (IUCN, 1983)
[29].
Nghiên cứu về khu hệ, phân bố, sinh thái đã có nhiều công trình công bố
về Macrobenthos ở vùng nƣớc lợ, nhƣ Aksornkoae (1995) nghiên cứu về tôm
[48]; Li Ya-Fang và cs (2012) nghiên cứu về nhuyễn thể [68]; Edward (2014)
nghiên cứu về thân mềm [58],…
Nghiên cứu về ĐDSH ĐVĐ trên thế giới tiêu biểu nhƣ nhƣ Evink (1973)
[59], Hutching và Saenger (1987) [63], Mathes và Kapetsky (1988) [69],
Macintosh và Aksomkoae (1991) [70], Othman và Arshad. (1992) [73],
Aksomkoae (1983) [47], Chaudhuri và Choudhury (1984) [53]. Các tác giả đã
tập trung hƣớng nghiên cứu đi sâu vào xác định thành phần loài, biến động số
lƣợng, sự phân bố của ĐVĐ và đã áp dụng các chỉ số H’, chỉ số D, chỉ số
Simpson... để đánh giá tính ĐDSH, đồng thời nghiên cứu ảnh hƣởng của các yếu
tố sinh thái đối với các nhóm ĐVĐ vùng triều và RNM.
Mathes và Kapetsky (1988) [69] đã thống kê đƣợc khoảng 630 loài Thân
mềm và 240 loài Giáp xác có giá trị kinh tế trên toàn thế giới phân bố ở RNM và
vùng cửa sông ven biển. Ngoài ra, Snedaker (1984) cũng đã đánh giá đƣợc vai
Vùng cửa sông ven biển Việt Nam bao gồm vùng cửa sông, bãi lầy ven
biển, RNM, đầm phá, bãi cát biển, bãi triều đá, rạn đá ngầm, thảm cỏ biển, vùng
biển ven bờ (có độ sâu 0-6m)... Ngoài ra, các cửa sông nói chung, đƣợc hình
thành do sự sụt lún của các thung lũng sông hay một bộ phận ngập nƣớc của
vùng bờ biển, hoặc do sự nâng lên của mực nƣớc đại dƣơng mà độ cao tƣơng
đối của mặt đất so với mực nƣớc biển thay đổi liên tục với tốc độ có thể đo đƣợc
bằng centimet trong một thế kỷ. Một số khác đƣợc tạo thành do sự hình thành
6
các bờ cát chắn, ôm lấy một vùng biển nông với cửa riêng, qua đó các dòng sông
đổ nƣớc ra biển một cách an toàn [30].
Theo Vũ Trung Tạng (1994), vùng cửa sông là đơn vị cấu thành của biển
nằm trong dải ven bờ (coastal zone) với khu hệ sinh vật có nguồn gốc biển đồng
thời là bãi đẻ, nơi dinh dƣỡng của các loài sinh vật biển… nên trở thành vùng có
vai trò quan trọng trong việc duy trì tính ĐDSH của các loài sinh vật biển và làm
giàu cho biển bằng tiềm năng nguồn lợi của mình [29].
Về ĐVĐ, có thể kể đến nghiên cứu của Trần Hữu Doanh và Nguyễn Nhƣ
Tùng (1964 - 1968) ở khu vực vùng triều ven biển phía Bắc Việt Nam, đã xác
định đƣợc 133 loài Thân mềm (Theo Gurjanova, 1976) [6].
Đáng chú ý là kết quả điều tra hợp tác giữa Tổng cục Thủy sản và Sở
nghiên cứu nghề cá biển Thái Bình Dƣơng của Liên Xô (cũ) đƣợc Gurjanova
báo cáo năm 1972 nhận xét là: Sinh vật vùng triều vịnh Bắc Bộ đặc trƣng cho hệ
nhiệt đới Ấn Độ - Tây Thái Bình Dƣơng, nhƣng rất nghèo nàn không những chỉ
so với vùng Mã - Lai mà còn nghèo nàn so với vùng triều Hải Nam. Điều đó phù
hợp với tình hình chung của khu hệ động vật toàn Vịnh Bắc Bộ. Nơi có sự sai
lệch rất lớn của chế độ thủy văn vùng nhiệt đới và chịu ảnh hƣởng rất lớn của
dòng nƣớc lục địa chảy ra, đặc biệt là bờ biển miền Bắc Việt Nam so với các
khu vực khác của vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dƣơng [6].
Vào những năm 1970 - 1971, Viện Nghiên cứu Biển tiến hành điều tra
2000, tác giả và cộng sự cũng đã xác định đƣợc 102 loài ĐVĐ, trong đó có 14
loài phổ biến và có giá trị kinh tế cao ở vùng cửa sông và RNM huyện Thái
Thụy tỉnh Thái Bình [19]. Tại khu vực HST RNM GiaoThủy, Nam Định tác giả
và cộng sự đã có những công trình nghiên cứu về các nhóm ĐVĐ, qua đó tác giả
đã thống kê và xác định đƣợc gần 200 loài thân mềm, chân bụng, giáp xác và hai
mảnh vỏ ở khu vực này [20, 21, 22, 23, 24].
Vũ Trung Tạng (2000) đã thống kê ở vùng biển Việt Nam nhóm giáp xác
trong vùng cửa sông là Decapoda khá đa dạng, có 101 loài thuộc 11 họ, trong đó
Penaeidae có 75 loài thuộc 16 giống; 7 loài tôm hùm thuộc họ Panuliridae, nhiều
loài cua, ghẹ (Portunidae), còng (Ocypodidae), rạm (Grapsidae),… sống trên các
bãi triều và RNM cửa sông [31].
Nguyễn Văn Thƣờng (2002) đã thu mẫu và phân tích thành phần loài tôm,
8
mẫu chủ yếu thu ở cửa sông và vùng sông Tiền, sông Hậu. Kết quả tác giả đã
xác định đƣợc 18 loài thuộc 6 giống, 3 họ trong nhóm tôm Caridea và 32 loài, 8
giống, 4 họ thuộc nhóm tôm Pennaeidea. Ngoài ra còn xác định đƣợc phân bố
địa lý của các loài tôm cũng nhƣ các loài tôm có giá trị kinh tế quan trọng [38].
Hoàng Ngọc Khắc (2005) nghiên cứu về khu hệ ĐVĐ ở RNM cửa sông
Lạch Vạn (Diễn Châu, Nghệ An). Kết quả nghiên cứu tác giả đã xác định đƣợc
39 loài Giáp xác cỡ lớn [8]. Cũng tại Nghệ An (vùng cửa sông Cả và một số
đầm nuôi tôm phụ cận), Nguyễn Huy Chiến (2007) đã phát hiện 328 loài thuộc
211 giống, 126 họ, 46 bộ. Trong đó, ĐVĐ có 199 loài và ĐVN là 129 loài. Ở
vùng cửa sông Cả đã phát hiện 262 loài thuộc 177 giống, 110 họ, 43 bộ gồm
ĐVĐ là 154 loài và ĐVN là 108 loài. Tác giả đã nhận định, nhìn chung, vào
mùa khô, số loài ít hơn mùa mƣa [4].
Trong dự án Imola Huế GCP/VIE/029/ITA, nghiên cứu về “Tài nguyên
môi trƣờng phá Tam Giang - Cầu Hai” đã xác định đƣợc trên 100 loài có giá trị
và trữ lƣợng các nhóm ĐVĐ do Viện Tài nguyên và Môi trƣờng Biển nghiên
tỷ lệ Giáp xác chân chèo trong thành phần thức ăn lên tới 72,7% ở cá thu vạch
và 58% ở cá ngừ chấm; trong thức ăn của cá trích, cá nục sò ở vịnh Bắc Bộ có tỷ
lệ Chân chèo chiếm 65 - 91%. Vì vậy, sự biến động số lƣợng của chân chèo sẽ
có ảnh hƣởng đến việc hình thành môi trƣờng và bãi cá đẻ trong đó vùng cửa
sông đƣợc xem nhờ bãi đẻ của nhiều loài cá [2].
Nghiên cứu nguồn lợi sinh vật vùng triều cửa sông ven biển Hoằng Hoá Thanh Hoá, Hồ Thanh Hải (1999) đã xác định đƣợc 56 loài ĐVN (ĐVN), trong
đó nhóm Giáp xác chân chèo phong phú nhất về thành phần loài (chiếm 53,3%)
[7]. Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Xuân Quýnh (1999) về ĐVN
ở vùng cửa sông Ba Lạt đã xác định đƣợc 112 loài, trong đó Giáp xác chân chèo
(Copepoda) chiếm ƣu thế và sử dụng ĐVN để đánh giá tính ĐDSH vùng cửa
sông [28].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu (2000) về biến động theo mùa của thành
phần loài và số lƣợng ĐVN ở đầm Cầu Hai cho thấy trong mùa mƣa số lƣợng cá
thể cao hơn mùa khô 2 - 5 lần và tăng dần từ Tam Giang đến Cầu Hai [37]. Theo
Nguyễn Trọng Nho và cộng sự (1982), ĐVN vùng vịnh Quy Nhơn bao gồm 58
loài và 6 dạng ấu trùng ĐVKXS khác, trong đó chủ yếu là Giáp xác chân chèo
10
(Copepoda 71,9% số lƣợng loài) và mang tính chất của khu hệ động vật biển
vùng bờ nhiệt đới với những đại diện điển hình của các giống Paracalanus,
Acrocalanus, Acartia, Oithona, Lucifer, Sagitta, Oikopleura. Số lƣợng ĐVN ở
đây đƣợc quyết định bởi sự phát triển của nhóm chân chèo (Copepoda), với giá
trị trung bình 76.356 cá thể/m3; cao nhất vào cuối mùa mƣa (tháng 12) và thấp
nhất vào đầu mùa mƣa (tháng 9) với sự chênh lệch của hai cực trị này đến 14 lần
[16].
Khi nghiên cứu đặc điểm tài nguyên môi trƣờng ĐVN cửa sông Quảng
Trị, Nguyễn Trƣờng Khoa (2002) đã công bố tại vùng cửa sông Thạch Hãn có
35 loài ĐVN, trong đó Trùng bánh xe (Rotatoria) có tỷ lệ cao nhất (10 loài).
Đồng thời tác giả cũng xác định số lƣợng ĐVN ở các thuỷ vực nƣớc ngọt cửa
[15].
Lê Trình và cộng sự (2005) đã xác định đƣợc 54 loài TVN, 21 loài ĐVN,
24 loài ĐVĐ trong báo cáo về đời sống thủy sinh vật ở sông Bung. Kết quả khảo
sát về HST thủy sinh trong “Báo cáo đánh giá tác động môi trƣờng thủy điện
sông Bung 4, năm 2007” Hồ Thanh Hải và cộng sự đã xác định đƣợc 78 loài
thực vật nổi thuộc 26 họ, 40 loài ĐVN thuộc 15 họ và 48 nhóm ĐVĐ [15].
Năm 2015, trong nghiên cứu về biến động thành phần loài và mật độ của
lớp Giáp xác (Crustacea) ở sông Tiên, huyện Tiên Phƣớc, tỉnh Quảng Nam, tác
giả Hoàng Văn Mỹ đã xác định đƣợc 29 loài thuộc 9 giống của 4 họ Giáp xác cỡ
lớn. Các điểm thu mẫu có số lƣợng loài cao tập trung chủ yếu ở những nơi ít bị
tác động của con ngƣời. Các điểm thu mẫu có số lƣợng loài thấp thuộc khu vực
bị tác động mạnh do hoạt động của con ngƣời. Số lƣợng loài thu đƣợc mùa khô
cao hơn mùa mƣa. Sự biến động về thành phần loài giữa các điểm thu mẫu với
nhau mùa nắng cao hơn mùa mƣa. Tại các điểm thu mẫu số lƣợng loài của họ
Palaemonidae luôn chiếm ƣu thế [12]. Cùng năm này, Phan Thị Mỹ Thanh đã
xác định đƣợc 8 loài thuộc lớp Bivalvia gồm 4 họ: Corbiculidae (5 loài),
Amblemidae (1 loài), Unionidae (1 loài), Mytilidae (1 loài) trong luận văn thạc
sĩ “Nghiên cứu ảnh hƣởng các điều kiện môi trƣờng đến thành phần loài lớp Hai
mảnh vỏ (Bivalvia) tại sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam [36].
12
Gần đây, khi nghiên cứu về sông Trƣờng Giang, Ngô Xuân Nam và cộng
sự (2017) đã xác định đƣợc 73 loài ĐVĐ thuộc 40 giống, 25 họ, 14 bộ, 4 lớp
(Insecta, Crustacea, Gastropoda, Bivalvia), 2 ngành (Arthropoda, Mollusca). Tại
khu vực nghiên cứu, các loài có mật độ cao, xuất hiện tại nhiều điểm phân bố
chủ yếu là các loài thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda),và Hai mảnh vỏ
(Bivalvia), nhƣ Melanoides tuberculata, Tarebia granifera, Paracrostoma
solemiana, Clithon sp., Corbicula sp., Marcia hiantina [14]. Ngoài ra, qua kết
quả khảo sát, điều tra ĐDSH tại khu vực cửa An Hòa, huyện Núi Thành, tỉnh
chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa tạo điều kiện thuận lợi cho sinh trƣởng và
phát triển các cây trồng nông nghiệp nhƣ lúa màu, cây thực phẩm và cây công
nghiệp ngắn ngày. Khí hậu có 02 mùa rõ rệt trong năm:
- Mùa khô: Từ tháng 01 đến tháng 8, có lƣợng mƣa chiếm 20% ÷ 25%
lƣợng mƣa trung bình năm, thƣờng xảy ra hạn hán, nắng nóng, giông tố, lốc
xoáy và xâm nhập mặn;
- Mùa mƣa: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12, lƣợng mƣa chiếm khoảng
75% ÷ 70% lƣợng mƣa trung bình cả năm và thƣờng gây ra lũ, lụt.
Tuy nhiên do chế độ mƣa phân hoá theo mùa trong năm không đồng đều
gây khô hạn, nhiễm mặn trong mùa khô và bão thƣờng xảy ra vào các tháng 9,
10, 11 kết hợp với các trận mƣa lớn gây lũ lụt, xói lở khu vực ven sông làm ảnh
hƣởng đến sản xuất và sinh hoạt đời sống của nhân dân [44].
b. Kinh tế - xã hội
Về kinh tế
Tốc độ tăng trƣởng giá trị sản xuất toàn nền kinh tế của huyện tăng bình
quân giai đoạn 2010 - 2012 là 18,89%/năm (tỉnh Quảng Nam là 15,16%). Năm
2013 do ảnh hƣởng bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu và cả nƣớc nên tốc độ tăng
chậm lại đạt 13,63%. Mức thu nhập bình quân đầu ngƣời năm 2013 đạt 26,58
triệu, tăng 12,39% và bằng 0,82 lần so với mức bình quân chung cả nƣớc. Cơ
cấu kinh tế huyện đã có những chuyển dịch đáng kể, từ cơ cấu Nông nghiệp:
17,2%; Công nghiệp - Xây dựng: 61,5% và Dịch vụ: 21,3% vào năm 2005 đã
dịch chuyển mạnh sang cơ cấu Công nghiệp - Xây dựng, Dịch vụ, Nông nghiệp
tƣơng ứng là 75,24% ; 19,37% và 5,39% năm 2012. Điều này cho thấy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện theo hƣớng tích cực, tăng dần tỷ trọng của
14
ngành dịch vụ, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và giảm dần tỷ trọng giá trị
ngành nông nghiệp [44].
Về xã hội
chia thành ba vùng:
- Vùng cồn cát tập trung ở phía Tây Bắc, trải dài từ địa bàn xã Duy
Phƣớc, sang xã Duy Vinh, qua Duy Nghĩa, chạy dọc biển xuống xã Duy Hải, kết
nối với vùng cát phía Đông TP. Hội An (giáp xã Cẩm Kim).
- Vùng núi cao gồm các xã Duy Sơn, Duy Phú.
- Vùng đồng bằng gồm phần lớn diện tích 3 xã Duy Trung, Duy Trinh và
thị trấn Nam Phƣớc.
Khí hậu, thủy văn
Do phía Bắc đƣợc ngăn bởi dải Hoành Sơn, phía Tây đƣợc che bởi khối
núi Bắc tỉnh Kon Tum nên cũng nhƣ các địa phƣơng khác của Quảng Nam và
các tỉnh, thành phố lân cận. Nhiệt độ không khí ở Duy Xuyên lệ thuộc nhiều vào
khí hậu nhiệt đới gió mùa: gió mùa đông bắc, gió mùa tây nam, gió mùa đông đông nam và chế độ mƣa. Nhiệt độ trung bình trong năm là 25,6oC, cao nhất là
39,8oC, thấp nhất là 22,8oC. Bão ở Duy Xuyên thƣờng xuất hiện vào các tháng
9,10,11 hàng năm; các cơn bão thƣờng kéo theo những trận mƣa lớn gây lũ lụt
toàn khu vực.
Chế độ sóng và dòng chảy cũng biến đổi theo chế độ gió mùa. Chế độ
mực nƣớc sông Thu Bồn, Trƣờng Giang phụ thuộc vào chế độ thủy triều lên
xuống ngày hai lần (bán nhật triều); giữa kỳ nƣớc cƣờng và nƣớc kém biên độ
triều chênh lệch không đáng kể (triều max= 1,4m, triều min= 0,00m). Về mùa
khô, do nƣớc sông xuống thấp, nƣớc biển thâm nhập sâu vào lục địa gây nên độ
nhiễm mặn (trung bình 12%) [42].
b. Kinh tế - xã hội
Về kinh tế
- Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có bƣớc phát triển khá, với
những chính sách ƣu đãi của Nhà nƣớc đã thu hút đƣợc nhiều doanh nghiệp đến
đầu tƣ tại các cụm công nghiệp. Các doanh nghiệp đã đi vào hoạt động sản xuất,
nâng khối lƣợng giá trị sản xuất tăng nhanh, giải quyết nhiều lao động tại địa
phƣơng và tạo sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế của huyện.
- Tổng giá trị sản xuất thƣơng mại, dịch vụ, du lịch tăng bình quân hàng
năm 17%. Hạ tầng thƣơng mại, dịch vụ có những chuyển biến tích cực, hạ tầng
Bắc và từ 108o17’ đến 108o23’ kinh độ Đông; cách quốc lộ 1A khoảng 9 km về
phía Đông, cách TP. Đà Nẵng 25 km về phía Đông Nam, cách TP. Tam Kỳ
khoảng 50 km về phía Đông Bắc.
Phần đất liền của thành phố có diện tích 46,22 km2 (chiếm 74,9% tổng
diện tích tự nhiên toàn thành phố), có hình thể gần giống nhƣ một hình thang
cân, đáy là phía Nam giáp huyện Duy Xuyên với ranh giới chung là sông Thu
17
Bồn, phía Tây và phía Bắc giáp huyện Điện Bàn, phía Đông giáp biển với bờ
biển dài 7 km. Hạt nhân trung tâm đô thị Hội An là các phƣờng Minh An, Sơn
Phong, Cẩm Phô; trong đó có Khu phố cổ rộng chừng 5km2 đã đƣợc UNESCO
công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới (ngày 04/12/1999).
Cách đất liền 18 km là cụm đảo Cù Lao Chàm với diện tích 15,49 km 2
(chiếm 25,1% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố). Cù Lao Chàm bao gồm
nhiều hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Ông, Hòn Tai, Hòn
Lá, Hòn Khô (Khô Mẹ, Khô Con), Hòn Nồm. Các hòn đảo này quần tụ thành
hình cánh cung hƣớng mặt ra Biển Đông, nhƣ bức bình phong che chắn cho đất
liền. Cù Lao Chàm - Hội An đã đƣợc UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh
quyển thế giới (ngày 26/5/2009).
Vị trí tiếp giáp biển Đông và cụm đảo Cù Lao Chàm - Khu dự trữ sinh
quyển thế giới đã tạo cho Hội An có thêm lợi thế về khai thác du lịch biển đảo.
Các bãi biển An Bàng, Cửa Đại cách trung tâm phố cổ Hội An khoảng 3 km về
phía Đông đƣợc bình chọn xếp hạng trong danh sách 50 bãi biển đẹp nhất trên
thế giới.
Ngoài ra, Hội An còn nằm trong chuỗi đô thị ven biển dài hơn 500 km
vùng duyên hải miền Trung, là cơ sở quan trọng để thiết lập và mở rộng các liên
kết kinh tế giữa các địa phƣơng trong vùng. Với vị trí địa lý và quan hệ liên
vùng, TP. Hội An là trọng tâm của cụm động lực phía Bắc vùng Đông của tỉnh
Quảng Nam [43].