ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU THỦY
ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ Ở ĐỊA PHƢƠNG
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU THỦY
ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ Ở ĐỊA PHƢƠNG
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS. TS. Lê Văn Thịnh
nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai
đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện
Luận văn.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới tập thể Ban giám hiệu, giáo viên
trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn đã tạo điều kiện cho tôi hoàn
thành quá trình học tập của mình.
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Thu Thuỷ
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 4
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 6
3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn .............................................................. 12
3.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................ 12
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 13
4.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................. 13
4.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 13
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................. 14
5.1. Nguồn tư liệu ............................................................................................ 14
5.2. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 15
6. Đóng góp về khoa học của đề tài ................................................................ 15
7. Kết cấu của Luận văn .................................................................................. 16
2.2.3. Chỉ đạo công tác tuyên truyền, xây dựng cơ sở hạ tầng phát huy giá trị
các di tích lịch sử ............................................................................................ 73
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 82
CHƢƠNG 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM .................... 84
3.1. Một vài nhận xét....................................................................................... 84
3.1.1. Ưu điểm ................................................................................................. 84
3.1.2. Hạn chế ................................................................................................. 91
Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................ 101
KẾT LUẬN .................................................................................................. 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 105
PHỤ LỤC .................................................................................................... 128
2
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH
: Ban Chấp hành
BVHTTDL
: Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch
DSVH
: Di sản Văn hoá
GDP
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo luật Di sản Văn hóa của Việt Nam, di tích lịch sử - văn hóa được
quy định: “Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”
[61, tr.1].
Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh
chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. “Di tích giúp
con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử,
đặc trưng văn hoá của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc
hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại” [46, tr. 27].
Sau khi giành được độc lập, dù trong hoàn cảnh đất nước đang “nghìn
cân treo sợi tóc” với thù trong, giặc ngoài, ngày 23 tháng 11 năm 1945, chủ
tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 65 về việc bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt
Nam. Nội dung Sắc lệnh chỉ vẻn vẹn 256 chữ nhưng đã khẳng định quan
điểm, đường lối, chính sách và những biện pháp cấp bách của Đảng và nhà
nước Việt Nam đối với di sản văn hoá của dân tộc; thể hiện sự vận dụng sáng
tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về việc kế thừa tinh hoa văn hoá
dân tộc trong xây dựng và phát triển văn hoá đất nước. Sắc lệnh đã khẳng
định “…. Việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần thiết trong công cuôc kiến thiết
nước Việt Nam” [153, tr. 21].
Di tích là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa. Mà di sản văn hóa
dân tộc là một trong những cội nguồn sức mạnh to lớn của dân tộc, được tạo ra
trong quá khứ, cần được bảo vệ, duy trì và phát huy trong xã hội hiện đại. Do
đó, việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, trong đó có các di tích lịch sử là
quy luật tất yếu của văn hóa. Đặc biệt, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện
4
5
được, đồng thời tổng kết, đúc rút các bài học kinh nghiệm để tiếp tục áp dụng,
triển khai vào thực tiễn địa phương để công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di
tích đạt hiệu quả cao hơn nữa trong thời gian tới.
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường phổ thông, tôi luôn
quan tâm đến việc tìm hiểu các di tích lịch sử, văn hóa. Đặc biệt, thông qua
các phương tiện thông tin đại chúng, tôi được biết Lào Cai là địa phương có
hệ thống các di tích lịch sử khá phong phú và là một tỉnh miền núi có thành
tựu lớn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử. Điều này, thôi
thúc tôi muốn tìm hiểu về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch
sử của tỉnh Lào Cai.
Với những lý do trên tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo
bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương từ năm 2000
đến năm 2015” để làm làm văn tốt nghiệp Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành
Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến chủ đề bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử đã
có một số công trình nghiên cứu, có thể chia làm hai nhóm:
Một là, những nghiên cứu về di sản văn hoá, di tích lịch sử nói chung
Cuốn sách ”Tìm hiểu về đường lối văn hóa của Đảng cộng sản Việt
Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội (2008) của tác giả Nguyễn Đình
Hãng đã cung cấp những kiến thức đầy đủ, chi tiết về chủ trương, đường
lối của Đảng cộng sản Việt Nam về lĩnh vực văn hóa, bảo tồn và phát huy
di sản văn hoá.
Trong cuốn ”Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc”, Nxb Văn hoá Thông tin (2002) do tác giả Nguyễn Khoa Điềm là
chủ biên, các tác giả đã đi từ cách tiếp cận văn hóa, những yếu tố cấu thành
Đạo Kính.
7
Cuốn giáo trình ”Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa”, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội (2008) của tác giả Trịnh Minh Đức đã đưa ra những
kiến thức tổng quan, đầy đủ về các lĩnh vực trong công tác bảo tồn di
tích lịch sử văn hóa.
Cuốn sách “Giáo trình quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch”,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2010) do nhóm tác giả Lê Hồng Lý, Dương
Văn Sáu, Đặng Hoài Thu thực hiện đã giới thiệu những kiến thức cơ bản về
một số vấn đề liên quan đến văn hóa, di sản văn hóa, du lịch văn hóa và
những sản phẩm du lịch văn hóa , những quan điểm quản lí và khai thác di
sản văn hoá. Từ đó chỉ ra những nội dụng và nguyên tắc quản lí các di sản
văn hóa nhằm phục vụ việc phát triển du lịch. Cuốn sách cũng trình bày
một cách cơ bản quy trình tổ chức và quản lí nhằm tạo ra những sản phẩm
du lịch văn hóa.
Giáo sư, tiến sĩ khoa học Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch Hội Di sản Việt
Nam, Chủ tịch Hội đồng Di sản Quốc gia là nhà nghiên cứu chuyên về công
tác di sản văn hóa. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác di sản
nói chung và di tích nói riêng. Những nghiên cứu của ông được công bố trên
Tạp chí Di sản Văn hóa về lĩnh vực di sản văn hóa có: ”Mấy vấn đề về nguồn
nhân lực trong hoạt động bảo tồn di sản văn hoá” (Tạp chí Di sản Văn hoá,
số 3 (40), năm 2012), “Mấy vấn đề về hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch
sử - văn hoá” (Tạp chí Di sản Văn hoá, số 3 (36), năm 2011),..... Những
nghiên cứu này đã đưa ra những gợi mở quan trọng về công tác bảo tồn và
phát huy di tích.
Tiến sĩ Đặng Văn Bài, Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng là nhà nghiên cứu,
đồng thời là nhà quản lý với nhiều năm giữ trọng trách Cục Trưởng tại Cục di
Nhân văn năm 2015. Những công trình trên nghiên cứu về công tác bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử tại một địa phương cụ thể là những gợi
mở quan trọng để tôi tiếp thu trong luận văn của mình.
9
Hai là, những nghiên cứu về di tích lịch sử và bảo tôn phát huy giá trị
các di tích lịch sử ở Lào Cai
Cuốn sách ”Du lịch Lào Cai”, Nxb Văn hoá Dân tộc (2000) của nhóm
tác giả Trần Hữu Sơn, Nguyễn Quang Đức, Mã A Lềnh, Đức Đảm, Đoàn Hữu
Nam và Đình Dũng, do Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Lào Cai xuất bản. Đây
là công trình giới thiệu khái quát về bản sắc văn hoá các dân tộc ở Lào Cai và
các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh.
Cuốn sách ”Lào Cai vận hội mới”, Nxb Công ty Cổ phần Hợp tác
Truyền thông Việt Nam (2005), với sự tham gia của nhiều tổ chức, ban
ngành, đoàn thể, doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Cuốn
sách tổng hợp những thông tin tổng quan về lịch sử phát triển cũng như tiềm
năng, lợi thế của vùng đất Lào Cai. Cuốn sách gồm 5 phần trong đó phần II
với tựa để “Sản phẩm văn hóa – Du lịch” từ trang 148 đến đến 198. Phần này
đã giới thiệu những di tích lịch sử, truyền thống văn hoá đặc sắc của Lào Cai
được khai thác trở thành điểm du lịch hấp dẫn.
Cuốn sách ”20 năm tái lập tỉnh Lào Cai (01/10/1991 – 01/10/2011)”,
Nxb Công ty cổ phần In và Thương mại Lào Cai (2011) của nhóm nhiều tác
giả là lãnh đạo và nguyên lãnh đạo tỉnh Lào Cai, những nhà khoa học, nhà
hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu, nhà văn nhà thơ… được Báo Lào Cai
tổng hợp và xuất bản. Đây là một công trình tổng hợp công phu gồm 4 phần
nội dung chính là: Lào Cai – Thành tựu mới, Nỗ lực xây dựng quê hương Lào
Cai, Chặng đường mới, Lào Cai qua tác phẩm. Cuốn sách chính là một nhật
ký về kinh tế, văn hóa, xã hội trong 20 năm xây dựng và phát triển của lãnh
liệu trong các công trình, tài liệu, văn kiện đó là cơ sở để tác giả sử dụng, kế
thừa trong quá trình phân tích, đánh giá, khái quát trong luận văn.
11
Như vậy, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện và đầy đủ về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai đối với công
tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương trong giai
đoạn từ năm 2000 đến năm 2015. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu
trên đã đưa ra những nhận xét, đánh giá, đúc rút ra những định hướng cho
công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử ở Lào Cai để tác giả
luận văn tiếp thu và kế thừa trong quá trình thực hiện Luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai đối với
công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích trên địa bàn tỉnh Lào Cai từ
năm 2000 đến năm 2015.
Từ sự lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử
của Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2000 – 2015), luận văn đưa ra một số nhận xét về
ưu điểm, hạn chế và bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm cung
cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, giải pháp trong công tác
bảo tồn phát huy giá trị các di tích trong giai đoạn tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp, hệ thống hóa nguồn tài liệu liên quan đến đề tài.
- Nêu và phân tích những nhân tố tác động đến chủ trương, giải pháp và
quá trình chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của
Đảng bộ tỉnh Lào Cai đối với các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh.
- Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di
tích lịch sử ở địa phương của Đảng bộ tỉnh Lào Cai.
Mặt khác, bắt đầu từ năm 2000, Lào Cai triển khai thực hiện đồng bộ
và quyết liệt Nghị quyết Trung ương V khóa VIII (1998) với nhiều giải pháp
sáng tạo và hiệu quả.
Hơn thế nữa, từ năm 2001, Luật di sản văn hóa bắt đầu có hiệu lực thực
hiện với những quy định mới về công tác quản lý di tích.
Ngày 24/7/2001, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch) đã ban hành Quyết định số 1760/2000/QĐ-BVHTT “Phê duyệt
quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và
danh lam thắng cảnh đến năm 2020”. Quyết định này đã làm rõ các quan điểm
bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh. Đồng
thời đây là kim chỉ nam cho các địa phương xây dựng quy hoạch và tổ chức
thực hiện các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch.
Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Lào Cai
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu mà Luận văn sử dụng là:
Các Văn kiện của Đảng; văn kiện các hội nghị Trung ương Đảng, các
Văn bản của Chính phủ, của Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch về bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử.
- Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Lào Cai, Các văn bản của UBND tỉnh
Lào Cai, Các văn bản của Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao, Sở Văn hóa
Thông tin, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai.
- Các sách, báo, các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác bảo
tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử nói chung và công tác bảo tồn và
phát huy giá trị các di tích lịch tại Lào Cai nói riêng.
14
bộ tỉnh Lào Cai thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị
các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Lào Cai từ năm 2000 đến năm 2005
Chương 2: Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của
Đảng bộ tỉnh Lào Cai từ năm 2006 đến năm 2015
Chương 3: Một vài nhận xét và kinh nghiệm
16
Chƣơng 1
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT
HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO
CAI TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Những nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá
trị các di tích lịch sử ở tỉnh Lào Cai
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng công tác bảo
tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử ở tỉnh Lào Cai trước năm 2000
1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội và truyền thống lịch sử
Về điều kiện tự nhiên, Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính
giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 km
theo đường sắt và 345 km theo đường bộ. Tỉnh Lào Cai được tái lập tháng
10/1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn. Từ ngày 01/01/2004 (sau
khi tách huyện Than Uyên sang tỉnh Lai Châu), diện tích tự nhiên: 6.383,88
km2 (chiếm 2,44% diện tích cả nước, là tỉnh có diện tích lớn thứ 19/63 tỉnh,
thành phố cả nước).
Tỉnh Lào Cai giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với 182,086
cao. Khoáng sản Lào Cai đa dạng, có trữ lượng lớn với 150 điểm quặng và
trên 30 loại khoáng sản. Tài nguyên nước của Lào Cai tương đối phong phú
với hệ thống sông suối dày đặc, phân bố khá đều với hai con sông lớn chảy
qua là sông Hồng và sông Chảy.
Những tiềm năng trên là điều kiện để Lào Cai khai thác phát triển các
ngành kinh tế nông, lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Sau 25 năm tái lập
tỉnh, kinh tế Lào Cai đã có những bước phát triển vượt bậc. Tốc độ tăng
18
trưởng luôn ở mức 2 chữ số, cao hơn những năm đầu tái lập tỉnh, cao hơn so
với mức tăng của cả nước và nhiều địa phương khác. Tính đến hết năm 2015,
GDP của Lào Cai đạt 18.212.330 triệu đồng [24, tr.15]. Sự tăng trưởng này đã
giúp Lào Cai dần ra khỏi danh sách các tỉnh nghèo, chậm phát triển của khu
vực. Đây là những điều kiện để quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tu
bổ, phục hồi các di tích lịch sử ở địa phương.
Dân cư, dân tộc, Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009,
toàn tỉnh Lào Cai có 614.595 người, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số trong
tỉnh Lào Cai với 212.528 người. Số lượng người Kinh đến từ hơn 40 tỉnh
thành trong cả nước. Dân tộc Hmông có 146.147 người; Dân tộc Tày có
94.243 người; Dân tộc Dao có 88.379; Dân tộc Giáy có 28.606 người; Dân
tộc Nùng có 25.591 người; Dân tộc Phù Lá có 8.926; Dân tộc Hà Nhì có
4.026; Dân tộc Thái có 1.971 người; Dân tộc Bố Y có 1.398; Dân tộc Mường
có 958 người; Dân tộc Hoa có 822 người; Dân tộc La Chí có 619 người [23,
tr.23-24].
Có thể nói, ngay từ thời cổ đại, Lào Cai đã là nơi hội tụ của nhiều tộc
người. Lào Cai là nơi cư trú của 3/4 ngữ hệ lớn của Việt Nam: ngữ hệ Nam Á,
ngữ hệ Hán – Tạng, ngữ hệ Thái, với 6/8 nhóm ngôn ngữ của Việt Nam: Việt
– Mường, Tày – Thái, Ka Đai, Hmông – Dao, Hán, Tạng – Miến. Có 13 dân
Bái, Sơn La, Lai Châu ra nhập khu Tây Bắc.
Sau khi thống nhất đất nước, ngày 27/12/1975, Quốc hội nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà khoá V, kỳ họp thứ 2 ra Quyết nghị hợp nhất 3 tỉnh
Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ (trừ huyện Bắc Yên và Phù Yên) thành tỉnh
Hoàng Liên Sơn.
20
Ngày 12/8/1991, Nghị quyết Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 ban
hành Nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh mới là tỉnh Lào
Cai và tỉnh Yên Bái. Ngày 1/10/1991 tỉnh Lào Cai được tái thành lập. Sự
thay đổi về đơn vị hành chính, gắn liền với đó là sự thay đổi của bộ máy tổ
chức chính quyền đã tác động to lớn đến công tác quản lý di tích trên địa
bàn tỉnh.
Nhân dân các dân tộc Lào Cai rất giàu truyền thống yêu quê hương, đất
nước. Lịch sử dân tộc đã ghi dấu nhiều chiến công hiển hách của nhân dân
biên giới Lào Cai trong việc cản bước quân thù, làm cho kẻ thù phải thất điên
bát đảo ngay khi chúng đặt chân vào lãnh thổ như ta như trong kháng chiến
chống Mông – Nguyên, kháng chiến chống quân Minh, góp phần quan trọng
vào chiến thắng chung của dân tộc. Trong thời cận đại, nhân dân các dân tộc
Lào Cai đã chiến đấu chống lại thực dân Pháp ngay từ khi chúng đặt chân đến
Lào Cai. Những cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Quang Bích, rồi Giàng Chẩn
Dùng, Giàng Chẩn Hùng khởi xướng,… hay những cuộc đấu tranh tự phát
của đồng bào các dân tộc ở Ý Tý, Sa Pa,… đã minh chứng cho lòng yêu nước
của nhân dân Lào Cai. Trong suốt những năm tháng chiến đấu để giải phóng
tỉnh nhà, nhân dân các dân tộc Lào Cai đã anh dũng tham gia vào các trận
tuyến để chống giặc. Sau ngày tỉnh Lào Cai được giải phóng (1/11/1950),
nhân dân Lào Cai lại tích cực tham gia tiễu phỉ và phục vụ chiến dịch Điện
Biên Phủ. Sau năm 1954, nhân dân các dân tộc Lào Cai đoàn kết, thi đua lao