CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP ĐỂ NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC
TẬP MÔN ĐỊA LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT HOÀNG HOA
THÁM , TỈNH QUẢNG BÌNH
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Sâm
Tổ CM: Địa- Sử -GDCD
Trường THPT Hoàng Hoa Thám
Quảng Bình, tháng 01 năm 2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP ĐỂ NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC
TẬP MÔN ĐỊA LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT HOÀNG HOA
THÁM , TỈNH QUẢNG BÌNH
Quảng Bình, tháng 1 năm 2019
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI................................................................................................ 1
2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU..................................................................................... 1
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................................... 2
4. PHẠM VỊ VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU.............................................................. 2
B. NỘI DUNG................................................................................................................. 3
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU................... 3
1.1. Vài nét về phiếu học tập............................................…………………………............
3
1.1.1. Khái niệm ......................…………………………………………..…….…..3
1.1.2. Vai trò ...........................................................................................….………3
1.1.3. Phân loại ................................................................………………..…....…...3
1.1.4. Những chú ý khi xây dựng phiếu học tập.…………………..……...………...3
1.2. Tự học......................................................................................................................3
1.2.1. Khái niệm tự học..................………..…………………………...…………….3
1.2.2. Các hình thức tự học..........................................................................................4
1.2.3. Ý nghĩa của tự học.............................................................................................4
2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHT TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 Ở
TRƯỜNG THPT HOÀNG HOA THÁM , TỈNH QUẢNG BÌNH. ………………5
2.1. Đặc điểm tình hình trường THPT Hoàng Hoa Thám …………………………….5
2.2. Thực trạng sử dụng PHT trong dạy học Địa lí ở trường THPT Hoàng Hoa Thám.6
2.2.1. Đặc điểm tình hình của bộ môn Địa lí:……….………..……………………...6
2.2.2. Thực trạng sử dụng PHT ở trường THPT Hoàng Hoa Thám ...........................6
3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG PHT ĐỂ NÂNG CAO KẾT QUẢ VÀ
KHẢ NĂNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT
HOÀNG HOA THÁM , TỈNH QUẢNG BINH.…................................................…7
học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” có thể
nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là “ hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống
lại thói quen học tập thụ động”. Vì vậy, phương pháp dạy học tích cực ngày càng
được chú trọng và trở nên phổ biến. Tuy nhiên, trong thực tiễn để tổ chức được hoạt
động học tập cho học sinh theo hướng tích cực người dạy cần phải có công cụ,
phương tiện tham gia tổ chức như: câu hỏi, bài tập, bài toán nhận thức, tình huống có
vấn đề, phiếu học tập… Trong đó, phiếu học tập có những ưu điểm rất lớn như dễ sử
dụng, hiệu quả cao, sử dụng được trong nhiều khâu của quá trình dạy học: hình
thành kiến thức mới, củng cố vận dụng, kiểm tra đánh giá… vừa phát huy được hoạt
động độc lập của học sinh, vừa phát huy được hoạt động tập thể. Phiếu học tập không
chỉ là phương tiện truyền tải kiến thức mà còn hướng dẫn cách tự học cho học sinh
đồng thời qua đó rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo và xử lý linh hoạt cho người học.
Phiếu học tập không chỉ tổ chức hoạt động theo cá nhân mà có thể tổ chức hoạt động
theo nhóm một cách có hiệu quả. Vậy sử dụng phiếu học tập như thế nào cho có hiệu
quả? Đặc biệt sử dụng phiếu học tập trong hướng dẫn tự học là vấn đề rất được quan
tâm.
Thực tế, vấn đề sử dụng phiếu học tập trong dạy học ở trường trung học phổ thông
đã được nhiều giáo viên lựa chọn khi dạy học. Tuy nhiên, sử dụng như thế nào cho có
hiệu quả, nhuần nhuyễn là vấn đề đòi hỏi giáo viên dạy Địa lí nói riêng và giáo viên
nói chung cần phải đầu tư. Tại các lớp được phân công giảng dạy có nhiều đối tượng
rất khác nhau, trong đó bản thân rất quan tâm đến đối tượng học sinh yếu. Vì đối
tượng này vấn đề tự học rất kém, khả năng và phương pháp tự học chưa nhiều. Ngoài
ra, trong giờ học tỏ ra rất mệt mỏi, không quan tâm đến môn học nếu không được làm
việc.
Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, bản thân đã sử dụng phiếu học tập để nâng cao
tinh thần học tập của đối tượng này trong nhiều năm và thấy có hiệu quả rõ rệt.
1
4. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
4.1. Phạm vi nghiên cứu:
- Áp dụng cho chương trình Địa lí lớp 10.
- Giới hạn trong việc tạo kỹ năng xây dựng phiếu
pháp hướng dẫn tự học cho học sinh.
4.2. Kế hoạch nghiên cứu:
STT
Hoạt động
Thời gian
1
Lựa chọn đề tài
Tháng 8/2018
Xây dựng công cụ điều Tháng 9/2018
2
tra, nghiên cứu cơ sở lý -10/2018
luận
3
Dạy học thực nghiệm trên Tháng 10/20182
học tập kết hợp với phương
Sản phẩm mong đợi
Tên đề tài SKKN
Hoàn thành công cụ điều
tra, nghiên cứu cơ sở lý
luận
Kết quả thực nghiệm và
4
Như vậy theo nghĩa thứ nhất, phiếu học tập được hiểu là tờ giấy rời cỡ nhỏ, ghi
chép những nội dung kiến thức nhất định, phục vụ cho việc dạy và học của thầy và trò
ở mọi cấp học.
1.1.2. Vai trò
- Cung cấp thông tin và sự kiện: Phiếu học tập chứa đựng thông tin, dữ liệu hoặc
sự kiện hoặc dùng làm cơ sở cho một hoạt động nhận thức nào đó.
- Công cụ hoạt động và giao tiếp: Phiếu học tập chứa đựng các câu hỏi, bài tập,
yêu cầu hoạt động, những vấn đề để yêu cầu HS giải quyết, hoặc thực hiện kèm theo
những hướng dẫn, gợi ý cách làm...
1.1.3. Phân loại
Có thể phân loại theo các dấu hiệu như sau:
- Dựa vào mục đích: Phiếu học bài, phiếu ôn tập, phiếu kiểm tra.
- Dựa vào nội dung:
+ Phiếu thông tin: Nội dung gồm các thông tin bổ sung, mở rộng, minh họa cho
các kiến thức cơ bản.
+ Phiếu bài tập:
Nội dung là các bài tập nhận thức hoặc bài tập củng cố.
+ Phiếu yêu cầu: Nội dung là các vấn đề và tình huống cần phải giải quyết.
+ Phiếu thực hành: Nội dung liên quan đến những nhiệm vụ thực hành, rèn luyện
kĩ năng.
1.1.4. Những chú ý khi xây dựng phiếu học tập
- Khi học sinh chưa quen (lớp10) nên chọn những bài, mục có nội dung rõ ràng,
dễ hiểu, dễ chọn lọc để học sinh hoàn thành đúng thời gian. Sau đó nâng dần mức độ
khó về kiến thức, phức tạp về nội dung.
- Nên cho học sinh làm quen với những loại phiếu học tập khác nhau.
- Cần xác định cơ hội sử dụng phiếu học tập và loại hình phiếu thích hợp ở từng
bài, từng mục, từng chương.
1.2. Tự học
1.2.1. Khái niệm
Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về tự
* Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có sách
và sự hướng dẫn của giáo viên
Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học. Kết quả của quá trình
nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, đây thể hiện
đỉnh cao của hoạt động tự học. Dạng tự học này phải được dựa trên nền tảng một
niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một vốn tri thức
vừa rộng, vừa sâu. Tới trình độ tự học này người học không thầy, không sách mà chỉ
cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình.
* Hình thức 2: Tự học có sách nhưng không có giáo viên bên cạnh.
Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:
Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:
Trường hợp này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách qua
đó sẽ phát triển về tư duy, tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người phải đạt
đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời.
Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn:
Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò
bằng các phương tiện trao đổi thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phản ánh và
giải đáp các thắc mắc, kiểm tra, đánh giá,...
* Hình thức 3: Tự học có sách, có thầy giáp mặt, sau đó học sinh về nhà tự học dưới
sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên
5
Trong quá trình học tập trên lớp, người thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất xúc
tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức. Trò với vai trò là chủ thể
của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá trình học
tập. Mối quan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ giữa Nội lực và Ngoại lực,
Ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất xúc tác thúc đẩy Nội lực phát triển.
1.2.3. Ý nghĩa của tự học
Ở bất kỳ bậc học hay cấp học nào hoạt động tự học cũng có ý nghĩa rất quan trọng
năm 1999. Trường được đóng trên địa bàn TT Lệ Ninh, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng
Bình.
Là một trường nằm ở khu vực miền núi nên khó khăn lớn nhất là chất lượng đầu
vào học sinh quá thấp so với mặt bằng chung của các trường trong huyện, cũng như
trong tỉnh Quảng Bình. Đặc biệt trường không thi tuyển mà xét tuyển đầu vào lớp 10
6
nên chất lượng đầu vào của học sinh là rất hạn chế. Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên trẻ
chiếm tỉ lệ tương đối cao nên còn hạn chế nhiều về mặt kinh nghiệm giảng dạy và
chuyên môn.
Tuy nhiên, đội ngũ giáo viên trẻ chiếm tỉ lệ tương đối cao nên nhiệt tình trong
công tác giảng dạy và khả năng ứng dụng CNTT trong giảng dạy là tương đối thuận
lợi.
Cơ sở vật chất của nhà trường
- Từ năm học 2010 đến nay trường có 23 phòng học, nhìn chung cơ sở vật chất
nhiều thiếu thốn.
- Hiện nay, trường đã có nhà thi đấu, có dãy nhà hiệu bộ và các phòng dành cho
từng bộ môn.
Nhìn chung cơ sở vật chất của Nhà trường vẫn chưa thực sự đáp ứng tốt nhất
cho việc dạy và học.
Về chất lượng giáo dục
Nhìn chung chất lượng học lực của học sinh trường THPT Hoàng Hoa Thám
những năm gần đây là tương đối ổn định
Mặc dù cơ sở vật chất khó khăn tuy nhiên trường luôn đứng trong tốp 15 trường
có chất lượng tốt nhất tỉnh, đặc biệt là chất lượng tốt nghiệp và đại học cao đẵng.
2.2. Thực trạng sử dụng PHT trong dạy học Địa lí ở trường THPT Hoàng Hoa
Thám
2.2.1. Đặc điểm tình hình của bộ môn Địa lí
Hiện nay bộ môn Địa lí gồm có 03 giáo viên, thuộc biên chế của tổ Sử - Địa GDCD, do cô Hoàng Thị Hải Yến làm tổ trưởng.
Do đầu vào của học sinh lớp 10 trên địa bàn còn thấp, hơn nữa khả năng làm quen
với nhiều dạng phiếu học tập ở THCS chưa nhiều nên giáo viên ngại sử dụng phiếu
học tập hay việc sử dụng rất hạn chế.
Để nâng cao hiệu quả việc dạy và học Địa lí, cần phải có phương pháp dạy học
phù hợp với mục đích yêu cầu của bài học là một trong những giải pháp cơ bản, lâu
dài nhằm nâng cao khả năng tự học, phát triển tư duy sáng tạo của học sinh trong thời
kỳ hội nhập của đất nước.
3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG PHT ĐỂ NÂNG CAO KẾT QUẢ VÀ
KHẢ NĂNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT
HOÀNG HOA THÁM , TỈNH QUẢNG BÌNH
3.1. Phương pháp sử dụng phiếu học tập
3.1.1. Sử dụng PHT để hình thành kiến thức mới
Đây là phương pháp GV sử dụngkhá phổ biến khi lên lớp. Cụ thể, GV có thể phát
phiếu học tập hoặc kẻ phiếu học tập lên bảng trong tiết học. Nếu phát phiếu thì mỗi
em nên có một phiếu riêng; nếu kẻ thì yêu cầu tất cả HS phải kẻ vào vở học của mình.
Cuối cùng là GV hướng dẫn học sinh hoàn thành phiếu học tập dựa vào mức độ hiểu
bài, tất nhiên GV phải hướng dẫn rõ ràng và chú ý đến đối tượng học sinh yếu.
Trong việc hình thành kiến thức mới trên lớp, GV có thể sử dụng cho toàn bài
hoặc sử dụng cho một vài mục kiến thức cơ bản. Đặc biệt tránh mỗi mục GV lại sử
dụng một phiếu học tập khác nhau gây ra sự nhàm chán và quá tải cho học sinh.
3.1.2. Sử dụng PHT để chuẩn bị kiến thức ở nhà(tự học ở nhà)
GV hướng dẫn HS cách thiết lập phiếu và trên cơ sở đó GV có thể hướng dẫn HS
chuẩn bị kiến thức ở nhà và đánh giá quá trình chuẩn bị đó vào tiết hôm sau.
Cụ thể, đối với việc chuẩn bị cho việc hình thành kiến thức mới GV nên chọn
những bài học đơn giản, phù hợp với nhiều đối tượng, sau đó định hướng để HS có
thể chuẩn bị một cách tốt nhất. Việc làm này của GV thông thường thực hiện vào cuối
tiết học, trong phần chuẩn bị tiết học sau. Phần này GV nên hướng dẫn kĩ để định
hướng học tập cho học sinh tìm nguồn tài liệu tránh sự nhầm lẫn hoặc gây nên những
áp lực không cần thiết.
3.1.3. Sử dụng PHT để củng cố bài học
Bước 2: 2 học sinh ngồi cùng bàn tiến hành thảo luận. Giáo viên quan sát, theo dõi
tiến trình làm của học sinh.
Bước 3: Đại diện các nhóm trình bày và các nhóm khác bổ sung ý kiến (nếu có)
Bước 4: giáo viên nhận xét bài làm của học sinh và chuẩn kiến thức.
Ngành
a. Thương
mại
b. Nội
thương
c. Ngoại
thương
Khái niệm
Vai trò
- Là hoạt động trao đổi mua - Thống nhất thị trường trong
bán giữa các nước
nước
C
- Thúc đẩy phân công lao động
theo lãnh thổ.
b
- Là khâu nối giữa sản xuất - Điều tiết sản xuất, hướng dẫn
với tiêu dùng
tiêu dùng.
A
a
- Các hoạt động trao đổi mua - Gắn thị trường trong nước với
bán giữa các vùng trong nước. thị trường quốc tế.
- Thị trường tiêu thụ rộng lớn
- Thiếu việc làm
- Nhà nước phải giải quyết
nhiều vấn đề như: giáo dục, y
tế, các tệ nạn xã hội......
Dân số già
- Ổn định phát triển KT và giải
quyết tốt các vấn đề của xã hội.
- Thiếu lực lượng lao động bổ
sung trọng trong tương lai.
- Phúc lợi xã hội cho người già
tăng
3.2.3. Phiếu học tập dùng để giảng bài mới (hình thành kiến thức mới)
Ví dụ 1: Bài 9: “ Tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất”
Giáo viên sử dụng phiếu học tập để học sinh hình thành kiến thức mới. Có thể sử
dụng cả tiết học để học sinh chuẩn bị bài học này. Sau đó đánh giá và cho điểm để
khuyến khích học sinh.
Cụ thể: Giáo viên sử dụng phương án cặp đôi, yêu cầu 2 HS ngồi một bàn làm
việc với nhau để hoàn thành phiếu học tập
Giáo viên phát cho mỗi bàn một phiếu học tập sau đó yêu cầu học sinh cùng thảo
luận
Trong quá trình học sinh làm, giáo viên đến từng cặp học sinh để chỉ dẫn cho các
em.
Sau khi học sinh làm xong, giáo viên chọn một vài cặp học sinh và đưa phiếu học
tập này về nhà chấm
Tiết học tới giáo viên đưa ra các nhận xét cho từng học sinh
Cuối cùng giáo viên tổng kết kiến thức, nhận xét và liên hệ thực tế củng cố bài học
cho học sinh.
học
Khái niệm
phá hủy đá thành
các khối vụn có kích
thước to nhỏ khác
nhau mà không làm
biến đổi về màu sắc,
thành phần khoáng
vật, hóa học của
chúng
Là qt phá hủy và
làm biến đổi thành
phần tính chất hóa
học của đá và
khoáng vật
Các tác nhân chủ
yếu
Kết quả
(các dạng địa hình tạo
ra)
gió, sóng, nước Làm cho đá bị rạn nứt,
chảy, hoạt động vỡ thành tảng và mãnh
sản xuất của con vụn
người
Nước và các chất tạo ra các dạng địa
hòa tan trong hình caxtơ
11
Bồi tụ
tích tụ các vật liệu Qt bồi tụ phụ tạo nên các dạng địa
bị phá hủy
thuộc vào động hình bồi tụ: tam giác
năng của các nhân châu, đồng bằng phù
tố ngoại lực
sa
Ví dụ 2: Bài 32: “Địa lí các ngành công nghiệp”
GV sử dụng phiếu học tập để học sinh hình thành kiến thức mới. Có thể GV sử
dụng cả tiết học để HS chuẩn bị bài học này.
GV sử dụng phương án làm việc cá nhân học sinh.
Mỗi HS kẻ phiếu học tập vào vở và làm theo yêu cầu
Trong quá trình HS làm việc GV có thể định hướng cho HS. Sau khi HS làm xong
GV có thể thu một vài HS để đánh giá rút kinh nghiệm và cho điểm động viên.
Cụ thể phiếu học tập như sau:
Ngành công nghiệp Tên sản phẩm
Vai trò
Phân
bố
Năng lượng
Điện tử - tin học
Sản xuất hàng tiêu
Ti vi, diện
thoại, linh
kiện
điện
tử...
Quần
áo,
sách vở, da
giày, sành
sứ...
Phân bố
Bắc bán cầu(Nga, TQ,
Hoa Kì)
Các nước kinh tế phát
triển
Trung Đông, LB Nga,
Mĩ La Tinh
Kinh tế mũi nhon, thước đo các nước phát triển:
trình độ phát triển kinh tế kĩ Hoa Kì, Nhật Bản, EU
thuật
SX các sản phẩm phục vụ cho rộng khắp trên toàn thế
nhu cầu tiêu dùng của người giới
dân, thúc đẩy các ngành cn
nặng phát triển
Tạo ra việc làm tăng thu nhập
12
tham gia làm việc.
Lớp 10C chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức, tiết học rất nhẹ nhàng, HS
hướng thú, tìm tòi khám phá kiến thức thông qua phiếu học tập. Giáo viên có điều
kiện kiểm tra quá trình tự đọc tài liệu, tham gia trao đổi và cùng giáo viên làm việc.
Từ đó giúp các em nhớ lâu hơn và giáo viên làm việc nhẹ nhàng hơn, hiểu từng đối
tượng học sinh hơn.
Sau khi học xong bài học tôi tiến hành cho kiểm tra 15 phút (Phụ lục 3 ) với 5 câu
hỏi trắc nghiệm và 2 câu hỏi tự luận ở hai lớp trên và cho kết quả trung bình sau 2 lần
kiểm tra như sau:
Lớp
10B
10A
10C
Sĩ
5–6
1 HS
(2,4%)
5 HS
(11,1%)
>9
điểm
6 HS
(13,5%)
0 HS
(0%)
1 HS
(2,2%)
Ngoài ra, tôi tiến hành điều tra học sinh về khả năng hứng thú và khả năng tự học
qua phiếu điều tra trên 2 lớp dạy có sử dụng phiếu học tập, kết quả cho được như sau:
Lớp
Sĩ số
10A
44
10C
45
Khả năng hứng thú
3.4.1. Ưu điểm:
- Định hướng rõ nội dung học tập.
- Học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tự nghiên cứu, tìm tòi kiến
thức.
- Học sinh tự trình bày và đưa ra các quan điểm của bản thân, từ đó giúp các em
mạnh dạn hơn trong học tập và trong cuộc sống
- Tất cả các thành viên trong lớp đều tham gia học tập, tham gia thảo luận và mạnh
dạn tranh luận với các nhóm khác.
- Đặc biệt khả năng tư duy của học sinh tiến bộ rõ rệt. Hầu hết các em không còn
có thói quen chép lại toàn bộ những nội dung trong SGK có liên quan đến nội dung
thảo luận.
- Giáo viên có điều kiện thuận lợi đánh giá thái độ học tập và sự tiến bộ của các
dối tượng học sinh
- Khi làm việc với các lớp có lực học khá giỏi, GV có điều kiện cho học sinh thể
hiện năng lực sáng tạo trong thiết kế và sử dụng phiếu học tập. Đồng thời GV lại có
điều kiện trao đổi và học hỏi từ học sinh giỏi các mẫu phiếu học tập hay, từ đó hoàn
thiện bài dạy của mình một cách tốt nhất có thể.
- Trong quá trình thực nghiệm ở một số lớp, giúp giáo viên thành thạo hơn, nhuần
nhuyễn hơn trong quá trình thiết lập các loại phiếu học tập cũng như phối hợp giữa
các phương pháp giảng dạy.
- Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh.
3.4.2. Nhược điểm:
- Quá trình thực hiện đề tài này, theo tôi quan sát trong quá trình giảng dạy thì còn
hạn chế đối với những học sinh khá giỏi, vì đối với đối tượng này cần sự đa dạng hơn
trong nội dung dạy học, sử dụng quá nhiều phiếu học tập sẽ dẫn đến sự nhàm chán
cho một số em trong quá trình giáo viên truyền thụ kiến thức và sẽ hạn chế khả năng
sáng tạo của học sinh.
- Đề tài chỉ mới thực hiện được trong phạm vi hẹp của phần Địa lí thuộc chương
trình lớp 10 có lựa chọn một số bài cụ thể.
- Quá trình đánh giá cho điểm các phiếu học tập giáo viên thực hiện chưa đồng
- Giáo viên phải đặc biệt chú ý đến đối tượng học sinh yếu kém khi sử dụng phiếu
học tập. Đồng thời khi đánh giá cần nhẹ nhàng, khách quan với các đối tượng này.
Ngoài ra, GV không nên yêu cầu quá cao về nội dung ghi vào phiếu học tập với đối
tượng yếu mà chỉ cần những kiến thức cốt lõi nhất, dễ hiểu và dễ nhớ nhất, từ đó tạo
hiệu quả cao nhất.
- Quá trình kẻ phiếu học tập trên bảng mất thời gian và sẽ gây lãng phí lớn. Vì vậy
giáo viên nên cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà (trong phần chuẩn bị bài học sau của
học sinh).
15
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Có thể nói rằng, đổi mới phương pháp là yêu cầu cấp thiết của một giáo viên đứng
trên bục giảng, nhằm khẳng định vị trí chủ động nhận thức của học sinh. Phiếu học
tập là công cụ quan trọng để đánh giá quá trình học tập và khả năng tự học của học
sinh . Từ lý luận vận dụng vào thực tiễn cho thấy việc sử dụng phiếu học tập có chọn
lọc sẽ mang lại hiệu quả cao trong đổi mới phương pháp dạy học-một trong những
yêu cầu lớn nhất hiện nay của ngành giáo dục trong cả nước.
Với đề tài này, cung với quá trình giảng dạy, khả năng tự học, tự rèn luyện kiến
thức và tự nghiên cứu của học sinh đã tăng lên. Tuy nhiên khả năng sáng tạo của học
sinh vẫn chưa cao. Song đây cũng là một hiệu quả, thành công của đề tài.
Nhìn chung, với xu thế đi lên không ngừng của thời đại phát triển kinh tế nói
chung và của giáo dục nói riêng, thì đổi mới phương kết hợp với phương tiện dạy học
trực quan là điều tất yếu, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh.
Để tài trên tiến hành có kết quả như mong muốn là một việc làm tương đối khó, lý
do khách quan cũng có, chủ quan cũng có, nhưng theo tôi nghĩ là giáo viên ai ai cũng
làm được điều đó với điều kiện phải có nhận thức đúng đắn, phải dành nhiều thời gian
là quá trình sử dụng PHT của các GV khác trong tổ.
+ Nâng cao trình độ sử dụng PHT thông qua các bài dạy tốt, thao giảng hay hội
giảng chuyên đề cấp tổ, cấp trường.
+ Tăng cường sử dụng phiếu học tập ở các môn khác ngoài môn Địa lí lớp 10
như Lịch sử các khối lớp, GDCD các khối lớp...
- Về phía giáo viên:
+ Cần phải có sự đầu tư nghiên cứu, tìm tòi các phương pháp giảng dạy hiệu
quả nhất cho từng bài cụ thể và phù hợp cho từng đối tượng học sinh.
+ Luôn trau dồi và nâng cao trình độ chuyên, nghiệp vụ thông qua việc bồi
dưỡng thường xuyên do trường và Sở Giáo dục tổ chức. Luôn luôn coi việc đổi mới
phương pháp dạy học là nhiệm vụ thường xuyên và cần thiết.
+ Tìm hiểu thêm về các loại PHT và các phương pháp sử dụng phiếu học tập
một cách hiệu quả nhất.
- Về phía học sinh: Cần phải có nhận thức đầy đủ về vai trò của môn Địa lí
trong hệ thống giáo dục phổ thông. Từ đó có thái độ học tập tích cực hơn, đồng thời
phải có sự chuẩn bị bài học trước khi đến lớp nhất là các bài học mà GV yêu cầu sử
dụng PHT để chuẩn bị ở nhà.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và Đào tạo (2007), Sách giáo khoa Địa lí 10 THPT, Nxb GD.
2. Bộ giáo dục và Đào tạo (2007), Sách giáo viên Địa lí 10 THPT, Nxb GD.
3. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong
quá trình học tập, Nxb GD.
4. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên - thực hiện
chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 10 THPT, Nxb GD
6. Nguyễn Dược - Nguyễn Trọng Phúc (2004), Lý luận dạy học Địa lí, Nxb ĐHSP
HN.
Loại gió
Nguồn
gốc
Hướng thổi Tính chất Nơi hoạt
nhiều
Tây
ôn
đới
Mậu dịch
Gió mùa
3. Bài 13: Ngưng đọng hơi nước trong khí quyển (phần II)
Nhân tố
Mưa ít
Mưa nhiều
Khí áp
Gió
Frong
Địa hình
Dòng biển
4. Bài 15: Thủy quyển. Một số nhân tố ảnh hưởng tới chế độ nước sông.
Một số sông lớn trên Trái Đất (phần II)
Nhân tố
Ảnh hưởng Ví dụ ở Việt
Nam
Chế độ mưa
Băng tuyết nước ngầm
Địa hình, địa thế
7. Chương IV: Một số quy luật của lớp vỏ địa lí (cả chương)
Quy luật
Khái niệm Nguyên
nhân
Biểu hiện Ý nghĩa thực tiến
Thống nhất và
hoàn chỉnh
Địa đới
Đai cao
Địa ô
8. Bài 28: Địa lí ngành trồng trọt (cả bài)
Trồng trọt
Cây trồng chủ Vai trò
yếu
Phân bố
Cây lương thực
Cây công nghiệp
Trồng rừng
9. Bài 37: Địa lí các ngành giao thông vận tải (cả bài)
Ngành giao thông
Ưu điểm
Hạn chế
Đường sắt