ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG VĂN QUANG
ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ VIỆC HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH - QUA THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG VĂN QUANG
ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ VIỆC HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH - QUA THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: 8380101.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT
XỬ VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH ............................................ 8
1.1.
Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết đảm bảo quyền của
người chưa thành niên trong hoạt động xét xử vụ việc hôn
nhân và gia đình ................................................................................ 8
1.1.1.
Sự cần thiết đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong hoạt
động xét xử vụ việc hôn nhân và gia đình ........................................... 8
1.1.2.
Khái niệm đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong hoạt
động xét xử vụ việc hôn nhân và gia đình ......................................... 15
1.1.3.
Đặc điểm hoạt động đảm bảo quyền của người chưa thành niên
trong hoạt động xét xử vụ việc hôn nhân và gia đình ....................... 17
1.2.
Nội dung đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong hoạt
động xét xử các vụ việc hôn nhân và gia đình ............................... 18
1.2.1.
Hoạt động của cơ quan xét xử ........................................................... 34
1.3.3.
Yếu tố ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý ...................................... 36
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 39
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ VIỆC HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH QUA THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM ................................................................... 40
2.1.
Thực trạng đảm bảo quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng ....... 42
2.2.
Về đảm bảo quyền được đại diện tham gia tố tụng tại Tòa án ........ 49
2.3.
Đảm bảo quyền biểu đạt, bày tỏ nguyện vọng của người chưa
thành niên ......................................................................................... 50
2.4.
Thực trạng đảm bảo quyền về tài sản của người chưa thành niên ..... 53
2.5.
hoàn chỉnh, đồng bộ về quyền con người.......................................... 66
3.1.4.
Đảo đảm quyền của người chưa thành niên trong hoạt động xét
xử vụ việc hôn nhân và gia đình cần được thực hiện bởi hệ thống
cơ quan tiến hành tố tụng có năng lực chuyên môn và kiến thức
về quyền con người, quyền trẻ em .................................................... 67
3.2.
Giải pháp tăng cường đảm bảo quyền của người chưa thành
niên trong hoạt động xét xử các vụ việc hôn nhân và gia đình ... 68
3.2.1.
Nhóm giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật................. 68
3.2.2.
Nhóm giải pháp đối với gia đình và xã hội ....................................... 78
3.2.3.
Nhóm giải pháp đối với hoạt động xét xử của Tòa án ...................... 79
Kết luận chương 3 ......................................................................................... 84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 87
Vụ việc hôn nhân và gia đình liên quan đến người
chưa thành niên
40
Bảng 2.2
Chất lượng giải quyết
41
Bảng 2.3
Yêu cầu khởi kiện liên quan đến quyền thăm nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng
42
Yêu cầu khởi kiện liên quan đến quyền, lợi ích của
người chưa thành niên
50
Yêu cầu khởi kiện liên quan đến quyền tài sản của
người chưa thành niên
54
Bảng 2.4
1
đảm bảo quyền của NCTN ở Việt Nam là chủ trương của Đảng và Nhà nước
ta đã được khẳng định trong Hiến pháp và pháp luật. Xuất phát từ bản chất
của chế độ ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “của dân, do dân và
vì dân”, quyền lợi của nhân dân, quyền con người của các cá nhân được đặt
lên hàng đầu và được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, nghiên cứu về quyền của
NCTN có ý nghĩa trong việc định hướng, xây dựng hệ thống pháp luật nhằm
bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Thứ hai, Đảo đảm quyền của NCTN
là vấn đề luật học – chính trị có tính quốc tế đã và đang là mục tiêu hành động
của tất cả các Nhà nước ở các quốc gia, các vùng lãnh thổ trên thế giới. Vì
vậy, hoạt động đảm bảo quyền của NCTN ở Việt Nam trên thực tế có ý nghĩa
trong việc hòa nhập và thể hiện trách nhiệm của Việt Nam với cộng đồng
quốc tế. Thứ ba, vấn đề quyền của NCTN trên phương diện nghiên cứu luật
học còn có những quan điểm trái chiều và không thống nhất. Không riêng ở
Việt Nam, các quan niệm về quyền của NCTN còn có nhiều mâu thuẫn,
chung chung. Vì vậy, nghiên cứu về quyền của NCTN có ý nghĩa thực tiễn
nhằm đóng góp những ý kiến khoa học trong lý luận về quyền con người. Qua
đó nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền con người trên thực tế.
Tuy nhiên, đảm bảo quyền của NCTN là một vấn đề sâu, rộng và liên
quan đến nhiều lĩnh vực. Việc nghiên cứu về đảm bảo quyền của NCTN phải
mang tính cụ thể, chuyên sâu và cần đến nhiều biện pháp, chiến lược cụ thể
đối với từng lĩnh vực pháp lý riêng biệt qua đó mới đạt được hiệu quả thực tế.
Với mong muốn tìm hiểu và đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng đảm
bảo quyền của NCTN ở Việt Nam, tác giả dành sự quan tâm đặc biệt đến lĩnh
vực đảm bảo quyền của NCTN trong hoạt động xét xử vụ việc HN&GĐ vì
những lý do sau đây:
Một là, do những đặc điểm khách quan về thể chất, nhận thức, tâm
người chưa thành niên trong hoạt động xét xử các vụ việc hôn nhân và gia
đình - qua thực tiễn Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội”
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
3
2. Tình hình nghiên cứu
Đảm bảo quyền của người chưa thành niên là đề tài được quan tâm
nghiên cứu của nhiều người và dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên
các nghiên cứu chủ yếu tiếp cận vấn đề một cách đơn lẻ, riêng biệt theo từng
vấn đề cụ thể như các quyền về nhân thân, quyền của bị can, bị cáo, quyền
trong tố tụng dân sự. Và có thể liệt kê đến một số công trình nghiên cứu khoa
học tiêu biểu như:
Luận án Tiến sĩ luật học "Chế độ tài sản của vợ, chồng theo Luật Hôn
nhân và gia đình Việt Nam năm 2000", của Nguyễn Văn Cừ, Trường Đại học
Luật Hà Nội, 2004;
Luận văn Thạc sĩ luật học, "Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng
khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000”, của Bùi Thị
Mừng, Trường Đại học Luật Hà Nội;
Những luận án, luận văn trên các tác giả đi vào nghiên cứu về tài sản
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và ly hôn, đề cập vấn đề bảo vệ quyền
lợi của phụ nữ song chưa đề cập đến bảo vệ quyền lợi về tài sản của con.
Khóa luận tốt nghiệp “Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ và con
trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000", của Lê Thu Lý,
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2008;
Khóa luận tốt nghiệp "Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ
em khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000", của
Nguyễn Thị Phương Thảo, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007;
Khóa luận tốt nghiệp "Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn", của
Hồ Thị Nga, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007;
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền của
NCTN trong hoạt động xét xử vụ việc HN&GĐ qua thực tiễn TAND quận
5
Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, tác giả đề xuất những quan điểm, giải pháp
nhằm đảm bảo quyền của NCTN trong hoạt động xét xử vụ việc HN&GĐ qua
thực tiễn TAND quận Bắc Từ Liêm nói riêng và hệ thống TAND nói chung
để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong hoạt động của cơ quan xét xử ở
giai đoạn mới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đảm bảo quyền của NCTN trong
hoạt động xét xử vụ việc HN&GĐ.
- Phân tích và làm rõ thực trạng các quy phạm pháp luật, người tiến
hành tố tụng liên quan đến đảm bảo quyền của NCTN trong hoạt động xét xử
vụ việc HN&GĐ qua thực tiễn TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường đảm bảo quyền của NCTN
trong hoạt động xét xử vụ việc HN&GĐ qua thực tiễn TAND quận Bắc Từ
Liêm, thành phố Hà Nội nói riêng và hệ thống cơ quan xét xử nói chung.
4. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về
đảm bảo quyền của NCTN trong hoạt động xét xử vụ việc HN&GĐ qua thực
tiễn TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động đảm bảo quyền của
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1.1. Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết đảm bảo quyền của người
chưa thành niên trong hoạt động xét xử vụ việc hôn nhân và gia đình
1.1.1. Sự cần thiết đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong
hoạt động xét xử vụ việc hôn nhân và gia đình
1.1.1.1. Xuất phát từ hậu quả pháp lý và xã hội của việc ly hôn
Ly hôn là một hiện tượng xã hội xuất hiện ngày càng nhiều cùng với sự
phát triển của xã hội và ngày càng được xã hội quan tâm vì những hậu quả
nặng nề, không mong muốn của nó [51]. Khi cuộc sống vợ chồng rơi vào tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được thì ly hôn là lối thoát cho cuộc sống bế tắc, không còn tình
cảm của người cha, người mẹ. Nhưng hậu quả pháp lý và xã hội mà nó để lại
ảnh hưởng nghiêm trọng đến một đối tượng vốn là niềm hạnh phúc của hai vợ
chồng, đó là những con chưa thành niên.
Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan
hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng. Trên phương diện pháp lý, khi ly
hôn quan hệ hôn nhân chấm dứt, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối
với nhau không còn; tuy nhiên quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi
dưỡng giữa cha mẹ và con, các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con
vẫn không thay đổi.
Trên phương diện đạo đức, cha mẹ là người sinh thành ra các con, có
trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng khi các con chưa thể tự lo cho bản thân
mình mà không phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình. Khi ly hôn, vợ chồng đã
triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức của con chưa thành niên.
9
Cha mẹ bất hoà luôn ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lý của con. Những
cuộc xung đột trước mặt con lúc nào cũng có hại và đó không phải là việc
thực hiện nghĩa vụ yêu thương con, chăm lo việc giáo dục, làm gương tốt cho
con về mọi mặt để con phát triển lành mạnh trở thành người con hiếu thảo của
gia đình, công dân có ích cho xã hội mà đó là những tì vết xấu, hằn sâu trong
tâm trí trẻ. Dễ rơi vào trạng thái luôn lo lắng, bất an, có cảm giác bị bỏ rơi.
Khó tránh khỏi việc trẻ tự buộc tội mình có phần lỗi trong sự chia ly của cha
mẹ. Sự buồn bã, suy nhược, sự cách ly, mất ngủ, những cơn ác mộng và
những nỗi sợ hãi, ám ảnh... đều có khả năng khiến trẻ mắc tâm bệnh. Không ít
trường hợp trẻ chuyển sự thô bạo trong gia đình sang những quan hệ xã hội,
sống mặc cảm, khép kín, rối loạn nhân cách dễ rơi vào con đường phạm pháp
và là nguy cơ tăng tỷ lệ trẻ em lang thang [39].
Từ những mất mát, thiệt thòi không dễ bù đắp, những nguy cơ khó
tránh, những hậu quả xã hội nặng nề, đảm bảo quyền của con chưa thành niên
có cha mẹ ly hôn là hoạt động cấp thiết không chỉ riêng ai mà của toàn xã hội.
Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, kế tục sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nếu không được sự quan tâm đặc biệt và
kịp thời của xã hội, sự bảo vệ của pháp luật thì thế hệ tương lai của hôm nay
không thể trở thành những công dân có ích cho xã hội mai sau.
1.1.1.2. Tình trạng vi phạm quyền của người chưa thành niên
Tất cả NCTN có quyền được bảo vệ khỏi sự xâm hại do bất cứ ai gây ra
– dù đó là cha mẹ, thầy cô... Hành vi xâm phạm quyền NCTN bao gồm các
hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm... dưới
các hình thức bạo lực, bóc lột, lạm dụng, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi,
bỏ mặc và các hình thức gây tổn hại khác.
hướng diễn biến phức tạp và gây bức xúc trong dư luận xã hội. Tình trạng trẻ
em bệnh tật, bỏ học, lao động sớm, bị tai nạn thương tích, đuối nước... còn rất
nhiều, nhất là các em trong gia đình nghèo, thiếu sự chăm sóc, giáo dục và
bảo vệ của gia đình.
11
Ông Youssouf Abdel - Jelil, Trưởng đại diện UNICEF Việt Nam chia
sẻ: Bạo lực, xâm hại trẻ em là một vấn đề toàn cầu. Ông đã tiết lộ một con số
lớn kinh ngạc: Trên thế giới, ước tính được công bố gần đây cho thấy có 120
triệu trẻ em gái và 73 triệu trẻ em trai là nạn nhân bị bạo lực tình dục và gần
một tỷ trẻ em thường xuyên phải chịu hình phạt thể chất. Ở châu Á, với trẻ
em 2 -17 tuổi, cứ 3 trẻ thì có 2 em từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực,
xâm hại nghiêm trọng. Việt Nam cũng không nằm ngoài hiện tượng này. Ông
Abdel - Jelil thông tin: Theo Báo cáo điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và
phụ nữ Việt Nam (báo cáo MICS) năm 2014, 68% trẻ em dưới 15 tuổi đã phải
chịu hình thức kỷ luật thể chất nào đó trong gia đình, khoảng 20% trẻ em gái
và trẻ em trai 8 tuổi nói rằng các em bị trừng phạt thân thể ở trường; 3% phụ
nữ đã bị xâm hại tình dục trước năm 15 tuổi [5].
Ở Việt Nam, vấn đề bạo lực, xâm hại trẻ em, đặc biệt là xâm hại tình
dục trẻ em có những diễn biến mới, phức tạp. Năm 2017, các vụ xâm hại tình
dục trẻ em mang tính loạn luân và vi phạm nghiêm trọng đạo đức đang có xu
hướng tăng, đồng thời đã xuất hiện thêm các nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em
thông qua mạng xã hội, người Việt Nam ra nước ngoài xâm hại tình dục trẻ
em, người nước ngoài vào Việt Nam xâm hại tình dục trẻ em, xâm hại tình
dục trẻ em trai. Trong năm 2017, các vụ việc bạo lực trẻ em trong cơ sở giáo
dục mầm non, bạo lực nghiêm trọng trong gia đình do cha, mẹ gây ra tiếp tục
gây bức xúc dư luận. Số trẻ em dưới 4 tuổi bị bạo lực có số lượng lớn nhất.
Theo thống kê, mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 4.000 vụ đánh đập, ngược
đãi, bạo hành trẻ em. Trong đó có khoảng 100 trẻ bị thiệt mạng do bạo hành.
cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho con khi người làm cha làm mẹ không
thực hiện đúng nghĩa vụ của mình [2].
- Sự cụ thể hóa nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của NCTN trong trường
hợp đặc biệt
Trách nhiệm bảo đảm cho NCTN có sự bảo vệ cần thiết thuộc về gia
13
đình, xã hội và Nhà nước. Trách nhiệm này đặc biệt thuộc về cha mẹ, những
người tạo điều kiện, khuyến khích sự phát triển hài hòa về nhân cách của trẻ
và giúp các em được hưởng các quyền của mình [48]. Vì vậy bảo vệ NCTN
luôn là điều được xã hội quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Cả xã hội
đã luôn cố gắng tạo điều kiện cho NCTN được phát triển một cách toàn diện.
Nhà nước đã đưa ra rất nhiều chủ trương, chính sách và nâng lên thành luật.
Rất nhiều quyền lợi của NCTN được pháp luật bảo vệ như quyền được cha
mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, được học hành, được vui chơi và phát triển toàn
diện... NCTN có cha mẹ ly hôn, bị mất môi trường gia đình là một đối tượng
đặc biệt so với những NCTN khác, các em phải chịu nhiều thiệt thòi và bất
hạnh. Do vậy, pháp luật đã có những quy định để đảm bảo quyền lợi cho các
em. Những quy định của Luật HN&GĐ về trách nhiệm của cha mẹ khi ly hôn
và những quyền lợi của NCTN chính là sự cụ thể hoá của nguyên tắc bảo vệ
NCTN trong trường hợp đặc biệt.
- Tiếp nối truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc: Truyền thống tình
mẫu tử, tình phụ tử luôn chiếm một vị trí thiêng liêng trong trái tim người
Việt. Trước bất cứ hoàn cảnh nào, cuộc sống dù vất vả, lam lũ, đất nước chiến
tranh liên miên nhưng giữa những khó khăn ấy vẫn thấm đượm tình thương
yêu, sự hy sinh của cha mẹ cho con cái; giá trị tốt đẹp ấy đã trở thành truyền
thống dân tộc. Khi xã hội càng phát triển, yêu cầu của nhà nước pháp quyền
ngày càng cao thì sự quan tâm của xã hội đến con chưa thành niên càng được
không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình nhưng chưa
đủ 18 tuổi, được coi là NCTN.
Ở Việt Nam, độ tuổi NCTN được xác định thống nhất trong Hiến năm
2013, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Lao
động, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật
khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18
tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với NCTN trong từng lĩnh
15
vực cụ thể và phù hợp Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội
đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989: “Trong phạm vi Công ước
này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng
đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [15, Điều 1].
Tóm lại, khái niệm NCTN được xây dựng dựa trên sự phát triển về tâm
sinh lý của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn
bản pháp luật. Theo đó, pháp luật quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể
của NCTN.
Như vậy, khái niệm: NCTN là người dưới mười tám tuổi, chưa phát
triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa
vụ pháp lý như người đã thành niên.
1.1.2.2. Khái niệm đảm bảo quyền của NCTN trong hoạt động xét xử vụ
việc HN&GĐ
- Khái niệm đảm bảo: Theo Đại từ điển tiếng việt, đảm bảo có nghĩa:
“Làm cho có được điều gì, có đủ, trọn vẹn các điều quy định” [46, tr. 79].
Điều 16 Bộ luật dân sự quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá
nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự... Năng
lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi
người đó chết” [28]. Quy định này là tiền đề pháp lý cần thiết để cá nhân
tiến hành tố tụng. Hoạt động bảo đảm quyền con người của đương sự là
NCTN, về bản chất là việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự tạo ra những
điều kiện nhằm thực hiện và bảo vệ quyền con người. Muốn vậy, chủ thể tiến
hành hoạt động này phải mang quyền lực Nhà nước, để bảo đảm sự cưỡng chế
hoặc sự áp dụng pháp luật có hiệu quả.
Hai là, khách thể của hoạt động bảo đảm quyền của NCTN trong pháp
luật HN&GĐ là quyền con người của đương sự chưa thành niên. NCTN là
nhóm đối tượng được sự ưu tiên và bảo vệ trong quan hệ pháp luật nói chung
và quan hệ pháp luật tố tụng dân sự nói riêng. Các quan hệ pháp luật nội dung
17