ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHÚ YÊN
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHÚ YÊN
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN MINH ĐỨC
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tính độc lập và ý nghĩa chế định chuẩn bị phạm tội trong
luật hình sự........................................................................................ 17
1.2.1. Tính độc lập của chuẩn bị phạm tội với các giai đoạn, trƣờng
hợp phạm tội khác .............................................................................. 17
1.2.2. Ý nghĩa của chế định chuẩn bị phạm tội trong luật hình sự .............. 21
1.3.
Quy định về chuẩn bị phạm tội trong luật hình sự của một số
nƣớc trên thế giới ............................................................................. 23
1.3.1. Luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ..................................... 24
1.3.2. Luật hình sự Liên bang Nga ............................................................... 26
1.3.3. Luật hình sự Thụy Điển ..................................................................... 29
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 31
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH VỀ CHUẨN BỊ PHẠM TỘI TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM ..................................................................... 33
2.1.
Quy định về chuẩn bị phạm tội trong lịch sử luật hình sự Việt
Nam .................................................................................................... 33
2.1.1. Quy định về chuẩn bị phạm tội trong giai đoạn trƣớc năm 1985 ...... 33
2.1.2. Quy định về chuẩn bị phạm tội trong giai đoạn từ năm 1985 đến
trƣớc năm 1999................................................................................... 36
2.1.3. Quy định về chuẩn bị phạm tội trong giai đoạn từ năm 1999 đến
trƣớc năm 2015................................................................................... 40
3.2.2. Kiến nghị đảm bảo thực thi quy định về chuẩn bị phạm tội trong
Bộ luật hình sự năm 2015 .................................................................. 71
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3................................................................................ 74
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 80
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Số hiệu
Số hiệu bảng, biểu
Trang
Bảng 1.1
Tổng hợp kết quả so sánh giữa chuẩn bị phạm tội
với các giai đoạn, trƣờng hợp phạm tội khác
21
Thống kê xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên cả nƣớc
giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017
61
Thống kê số bị cáo theo mức hình phạt tuyên trong
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên cả nƣớc giai đoạn
từ năm 2013 đến năm 2017
phạm tội chƣa phải hành vi khách quan của tội phạm và chƣa trực tiếp xâm
hại khách thể đƣợc luật hình sự bảo vệ nhƣng nó lại thể hiện rắp tâm, mong
muốn thực hiện tội phạm và đặt các quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự bảo vệ
vào tình trạng nguy hiểm. Do đó, hành vi chuẩn bị phạm tội cũng cần phải bị
trừng trị bằng chế tài hình sự trong trƣờng hợp mức độ nguy hiểm của hành vi
đó là đáng kể. Tuy nhiên, việc trừng trị hành vi chuẩn bị phạm tội phải khác
với hành vi phạm tội chƣa đạt hoặc tội phạm hoàn thành để đảm bảo sự phân
hóa trách nhiệm hình sự tƣơng xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng, ý nghĩa của quy định về chuẩn bị
phạm tội trong luật hình sự, các Bộ luật hình sự (BLHS) của Nhà nƣớc ta đều
ghi nhận đây là một chế định nhỏ trong chế định tội phạm. Tuy còn có những
1
bất cập nhƣng quy định về chuẩn bị phạm tội trong các BLHS năm 1985 và
năm 1999 đã là cơ sở quan trọng cho công tác đấu tranh phòng, chống tội
phạm trong nhiều năm. Kế thừa quy định của hai bộ luật trên, BLHS năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi là BLHS năm 2015) đã có những bƣớc
tiến đáng kể trong quy định về chuẩn bị phạm tội. Bộ luật mới đã cập nhật
những dạng hành vi chuẩn bị phạm tội đang có xu hƣớng diễn ra phổ biến
trong thực tiễn hiện nay là hành vi “thành lập, tham gia nhóm tội phạm”; thu
hẹp đáng kể phạm vi xử lý hình sự đối với ngƣời có hành vi chuẩn bị phạm
tội; phân hóa trách nhiệm hình sự sâu sắc giữa chuẩn bị phạm tội với phạm tội
chƣa đạt và tội phạm hoàn thành; đƣa ra chính sách nhân đạo vƣợt trội đối với
ngƣời dƣới 18 tuổi chuẩn bị phạm tội, nhất là ngƣời đủ 14 tuổi đến dƣới 16
tuổi... Tuy nhiên, BLHS năm 2015 vẫn còn chứa đựng những yếu tố chƣa hợp
lý trong quy định về chuẩn bị phạm tội, đặc biệt là định nghĩa pháp lý về
chuẩn bị phạm tội chƣa có tính khái quát, chƣa phản ánh đầy đủ các đặc điểm
có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về cải tạo không giam giữ ở những
mức độ khác nhau, những khía cạnh, phƣơng diện khác nhau.
Ở cấp độ giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo có các công trình
nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Lê Cảm (2005), Chƣơng “Chế định về các giai đoạn thực hiện tội
phạm” trong Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong luật
hình sự (phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Nguyễn Ngọc Chí (2001), “Chƣơng XII - Các giai đoạn phạm tội”,
Trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của tập thể tác giả do
Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Nguyễn Ngọc Hòa (2007), “Chƣơng IX - Các giai đoạn phạm tội”,
trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Tập I, tập thể tác giả do Nguyễn
Ngọc Hòa chủ biên, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
- Võ Khánh Vinh (2005), “Chƣơng XII - Các giai đoạn phạm tội”,
3
trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của tập thể tác giả do Võ Khánh Vinh
chủ biên, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
- Lê Thị Sơn (2013), Các giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm và
tổ chức tội phạm với việc hoàn thiện cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự,
Nxb. Tƣ pháp, Hà Nội.
- Trịnh Tiến Việt (2013), “Các giai đoạn phạm tội và đồng phạm” trong
sách chuyên khảo Tội phạm và Trách nhiệm hình sự, Nxb. Chính trị Quốc Gia
- Sự thật, Hà Nội.
Các công trình này đã đi sâu nghiên cứu về mặt lý luận cũng nhƣ làm
rõ các đặc trƣng pháp lý của chuẩn bị phạm tội, mối liên hệ giữa chuẩn bị
phạm tội với các vấn đề khác của luật hình sự. Tuy nhiên, chuẩn bị phạm tội
không phải là đối tƣợng nghiên cứu duy nhất trong các công trình nêu trên và
Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chƣa đạt”, Tạp chí Luật học, số 4, tr.17-21.
- Trịnh Tiến Việt (2009), “Về phạm tội chƣa đạt và một số hình thức
phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm”, Tạp chí Khoa học, chuyên
san Kinh tế - Luật, số 2, tr.18-26.
Các công trình này nghiên cứu về chuẩn bị phạm tội nhƣng ở quy mô
nhỏ nên không chuyên sâu, toàn diện vấn đề, thƣờng chỉ tập trung vào đánh
giá quy định của luật hình sự thực định về chuẩn bị phạm tội.
Tổng quan tình hình nghiên cứu những năm gần đây cho thấy: ở nƣớc
ta chƣa có công trình nào ở quy mô luận văn thạc sĩ trở lên, nghiên cứu
chuyên sâu, toàn diện các khía cạnh lý luận, thực tiễn về chuẩn bị phạm tội
trong luật hình sự Việt Nam và cập nhật tới nội dung quy định trong lần pháp
điển hóa luật hình sự mới nhất - năm 2015. Do đó, việc nghiên cứu đề tài luận
văn thạc sĩ Chuẩn bị phạm tội trong luật hình sự Việt Nam cập nhật đến quy
định của BLHS năm 2015 là hoàn toàn mới và cấp thiết.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu, đánh giá nội dung quy định về
chuẩn bị phạm tội trong luật hình sự Việt Nam để từ đó đề xuất giải pháp
hoàn thiện và đảm bảo thực thi hình phạt này.
Thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Xây dựng cơ sở lý luận về chuẩn bị phạm tội, trong đó: xây dựng khái
niệm, xác định các đặc điểm của chuẩn bị phạm tội và làm sáng tỏ ý nghĩa của
việc ghi nhận chế định này trong BLHS.
- Đánh giá thực trạng quy định về chuẩn bị phạm tội trong quá trình
phát triển của luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là thành tựu, hạn chế trong quy
định của BLHS năm 2015; đánh giá thực tiễn áp dụng hình chuẩn bị phạm tội
trong những năm gần đây.
đề thuộc nhiệm vụ nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lí luận: Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu chuyên khảo nghiên
cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuẩn bị
phạm tội. Luận văn góp phần hoàn thiện lí luận về chuẩn bị phạm tội trong
Luật hình sự Việt Nam.
Về thực tiễn: Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng
trong thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung trong
việc áp dụng pháp luật đối với trƣờng hợp chuẩn bị phạm tội. Luận văn sẽ góp
phần tích cực trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng.
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cho các nhà
khoa học - luật gia, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh
viên thuộc chuyên ngành Tƣ pháp hình sự trong các cơ sở đào tạo đại học, sau
đại học tại Việt Nam.
7
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuẩn bị phạm tội.
Chương 2: Quy định về chuẩn bị phạm tội trong luật hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện, đảm bảo thực thi
các quy định về chuẩn bị phạm tội trong luật hình sự Việt Nam.
8
tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2
Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
Đối với sự bổ sung của BLHS năm 2015, có nhà khoa học cho rằng:
Hành vi thành lập và hành vi tham gia nhóm tội phạm là cần thiết cho sự hình
thành nhóm có mục đích thực hiện tội phạm, nó là cơ sở cần thiết hoặc thuận
lợi cho việc thực hiện tội phạm, nên vì vậy, cần đƣợc coi là “hành vi tạo điều
kiện cần thiết để thực hiện tội phạm” [5, tr.38]. Nhƣ vậy, theo quan điểm này,
việc bổ sung hành vi thành lập và hành vi tham gia nhóm tội phạm chỉ là mô
tả cụ thể thêm một dạng chuẩn bị phạm tội, việc bổ sung nội dung đó trong
định nghĩa pháp lý về chuẩn bị phạm tội là không nhất thiết.
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, chuẩn bị phạm tội là khái niệm
đƣợc xây dựng trong tất cả các giáo trình tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành
luật. Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung của Khoa Luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội, khái niệm này đƣợc nhận thức nhƣ sau:
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu của quá trình thực hiện tội
phạm, đó là giai đoạn mà ngƣời phạm tội: “tìm kiếm, sửa soạn công
cụ, phƣơng tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội
phạm”. Chuẩn bị phạm tội là bƣớc tiếp theo của quá trình phạm tội
sau khi xuất hiện ý định phạm tội, nhƣng vì ý định phạm tội không bị
coi là tội phạm nên chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tiên của hành vi
phạm tội do cố ý đƣợc quy định trong luật hình sự [2, tr.199-200].
Còn theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung sử dụng tại
Trƣờng đại học Luật Hà Nội thì khái niệm chuẩn bị phạm tội đƣợc giải
thích nhƣ sau:
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó ngƣời phạm tội có
hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm
nhƣng chƣa bắt đầu thực hiện tội phạm đó. Thời điểm sớm nhất của
10
1) chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu trong các giai đoạn cố ý thực hiện tội
phạm; 2) nội dung của chuẩn bị phạm tội thể hiện thông qua việc ngƣời phạm
tội thực hiện những hành vi nhằm tạo điều kiện (vật chất hoặc tinh thần) để
thực hiện đƣợc tội phạm hoặc thực hiện tội phạm thuận lợi, dễ dàng hơn; 3)
chuẩn bị phạm tội bắt đầu từ khi ngƣời phạm tội bắt đầu có hành vi tạo ra điều
kiện để thực hiện tội phạm và kết thúc ngay trƣớc khi ngƣời phạm tội thực
hiện hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm; 4) chuẩn bị phạm tội
không phải hành vi thuộc mặt khách quan của tội định phạm; 5) chuẩn bị
phạm tội chƣa gây tổn hại tới quan hệ xã hội là khách thể của tội định phạm.
Bên cạnh những nhận thức cốt lõi về bản chất của chuẩn bị phạm tội
nhƣ trên còn cần lƣu ý rằng chuẩn bị phạm tội thể hiện sự cố ý, rắp tâm thực
hiện tội phạm nên nguyên nhân khiến tội phạm không đƣợc hoàn thành là bởi
hoàn cảnh khách quan ngăn cản. Nếu nhƣ vì ý thức chủ quan mà ngƣời có
những hành vi chuẩn bị phạm tội không thực hiện tội phạm đến cùng thì sẽ
thuộc trƣờng hợp khác - trƣờng hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Với nhận thức thống nhất này, có thể xây dựng một khái niệm khoa học
về chuẩn bị phạm tội làm nền tảng để nghiên cứu, đánh giá toàn bộ những vấn
đề lý luận, thực tiễn về chuẩn bị phạm tội nhƣ sau: Chuẩn bị phạm tội là giai
đoạn đầu tiên của quá trình cố ý thực hiện tội phạm, trong đó, người phạm tội
tạo ra những điều kiện cần thiết hoặc thuận lợi để thực hiện tội phạm nhưng
chưa thực hiện được tội phạm đó vì lí do khách quan ngăn cản.
1.1.2. Đặc điểm của chuẩn bị phạm tội
Tiếp cận từ khái niệm và bản chất chuẩn bị phạm tội, có thể thấy những
đặc điểm cơ bản của chuẩn bị phạm tội nhƣ sau:
Thứ nhất, chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn độc lập trong quá trình
thực hiện tội phạm, nó có điểm bắt đầu, kết thúc tách biệt khỏi các giai đoạn
thực hiện tội phạm khác. Nhƣ đề cập ở trên, thời điểm mở đầu của chuẩn bị
13
nhận rằng chuẩn bị phạm tội, phạm tội chƣa đạt chỉ có trong trƣờng hợp phạm
tội do cố ý. Tác giả Lê Cảm đã nhận định:
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bƣớc phát triển theo
một trình tự nhất định mà tội phạm trải qua, đƣợc thể hiện bằng
việc thực hiện các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội
phạm tƣơng ứng và bằng mức độ khác nhau của việc thể hiện sự cố
ý phạm tội của chủ thể [4, tr.441].
Tác giả Nguyễn Ngọc Hòa cũng cho rằng:
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội
phạm cố ý, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chƣa đạt và tội
phạm hoàn thành [9, tr.66].
Hoặc cùng quan điểm nhƣ vậy, tác giả Trịnh Tiến Việt định nghĩa:
Các giai đoạn phạm tội là những bƣớc trong quá trình thực
hiện tội phạm do cố ý và bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chƣa
đạt và tội phạm hoàn thành [33, tr.126].
Thứ ba, chuẩn bị phạm tội thể hiện tính tích cực, nỗ lực thực hiện tội
phạm của người phạm tội. Những hành vi chuẩn bị để thực hiện đƣợc tội
phạm thể hiện mong muốn và cố gắng phạm tội một cách rõ ràng của ngƣời
phạm tội. Những hành vi đó là nỗ lực để hoàn thành tội phạm nhƣng ngƣời
phạm tội không thực hiện đƣợc tội phạm đến cùng vì những lí do khách quan
ngoài ý muốn của họ chứ không phải họ không mong muốn thực hiện tội
phạm nữa. Trƣờng hợp tội phạm không hoàn thành do ngƣời phạm tội tự
mình dừng lại mặc dù không có gì ngăn cản lại là trƣờng hợp tự ý nửa chừng
chấm dứt việc phạm tội - một ngoại lệ khác xen vào giữa các giai đoạn phạm
tội. Chỉ khi nào các hành vi chuẩn bị thể hiện rõ ràng mong muốn, nỗ lực thực
hiện tội phạm của ngƣời phạm tội và mong muốn, nỗ lực đó bị cản trở bởi yếu
hậu quả mà tội phạm gây ra sẽ lớn bấy nhiêu. Mặc dù hậu quả của tội phạm
15
là chƣa xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội nhƣng việc hậu quả không xảy
ra là vì những nguyên nhân ngoài ý muốn chứ không phải do ý thức chủ
quan của ngƣời phạm tội.
Thứ sáu, nguyên nhân khiến tội phạm đã được chuẩn bị nhưng không
thực hiện được là khách quan, ngoài ý muốn của người phạm tội. Sở dĩ hành
vi chuẩn bị phạm tội bị đánh giá là nguy hiểm cho xã hội bởi nó thể hiện rắp
tâm thực hiện tội phạm, cố ý đẩy quan hệ xã đƣợc luật hình sự bảo vệ vào tình
trạng nguy hiểm. Rắp tâm thực hiện tội phạm đó chỉ bị dừng lại khi có trở
ngại khách quan ngăn cản. Trong trƣờng hợp không có gì ngăn cản nhƣng
ngƣời phạm tội tự mình không thực hiện tội phạm nữa thì tính nguy hiểm của
hành vi đã bị triệt tiêu nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (trƣờng hợp
tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội). Ngƣợc lại, ngƣời chuẩn bị phạm tội
không thực hiện đƣợc tội phạm chỉ vì có trở ngại khách quan, nếu không có
trở ngại đó họ sẽ thực hiện tội phạm. Mong muốn, quyết tâm thực hiện tội
phạm đó phản ánh tính nguy hiểm cao trong mặt chủ quan của tội phạm mới
xứng đáng bị trừng trị.
Thứ bảy, hành vi chuẩn bị phạm tội của tội này cũng có thể cấu
thành tội phạm độc lập khác. Những hành vi chuẩn bị để thực hiện một
hành vi nguy hiểm cho xã hội chắc chắn cũng chứa đựng tính nguy hiểm ở
một mức độ nào đó. Và có những trƣờng hợp tính nguy hiểm của hành vi
chuẩn bị đó cao đến mức bị coi là tội phạm. Ví dụ nhƣ hành vi mua súng để
giết ngƣời, trong đó việc giết ngƣời chƣa đƣợc tiến hành nhƣng bản thân
hành vi mua súng đã là một hành vi nguy hiểm bị luật hình sự cấm. Do đó,
trong khi chuẩn bị phạm tội giết ngƣời, hành vi mua súng của ngƣời này đã
thỏa mãn cấu thành một tội phạm khác (mua bán trái phép vũ khí quân
nhƣ làm cơ sở cho việc phân hóa phân hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt.
17
a) Chuẩn bị phạm tội với phạm tội chưa đạt
Phạm tội chƣa đạt đƣợc coi là giai đoạn tiếp theo của chuẩn bị phạm
tội, tuy cũng là một dạng tội phạm chƣa hoàn thành nhƣng đã có sự biến
chuyển về chất so với chuẩn bị phạm tội do đã thực hiện hành vi khách quan
trong cấu thành tội phạm. Cụ thể:
Phạm tội chƣa đạt là giai đoạn tiếp theo sau của giai đoạn chuẩn bị
phạm tội, ở giai đoạn này ngƣời phạm tội sử dụng những điều kiện thuận lợi
cần thiết đã chuẩn bị để thực hiện hành vi đƣợc quy định trong mặt khách
quan của cấu thành tội phạm, nhƣng họ không thực hiện đƣợc đến cùng do
những nguyên nhân khách quan ngăn cản [2, tr.205].
Nhƣ vậy, giai đoạn phạm tội chƣa đạt có các đặc điểm là: 1) ngƣời
phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm nhƣng
chƣa thực hiện đƣợc toàn bộ hành vi này hoặc hành vi này chƣa gây ra hậu
quả nguy hiểm cho xã hội nhƣ mô tả trong cấu thành tội phạm; 2) hậu quả của
tội phạm đƣợc mô tả trong cấu thành tội phạm chƣa xảy ra (ví dụ: cầm dao
giết ngƣời nhƣng đâm trƣợt hoàn toàn hoặc đâm vào vị trí cơ thể không gây
nguy hiểm tính mạng); 3) nguyên nhân không thực hiện đƣợc tội phạm đến
cùng là khách quan ngoài ý muốn của ngƣời phạm tội.
Theo đó, phạm tội chƣa đạt cũng giống chuẩn bị phạm tội ở chỗ chƣa
hoàn thành tội phạm vì nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của ngƣời
phạm tội. Phạm tội chƣa đạt có quan hệ chặt chẽ với chuẩn bị phạm tội vì nó
“kế thừa”, sử dụng các điều kiện thuận lợi mà chuẩn bị phạm tội đã tạo ra.
Tuy nhiên, sự khác biệt của hai giai đoạn này ở chỗ: nếu ngƣời chuẩn bị phạm
tội chƣa tiến hành hành vi khách quan của tội định phạm thì ngƣời phạm tội
chƣa đạt đã tiến hành hành vi này; hành vi chuẩn bị phạm tội chƣa xâm phạm
với chuẩn bị phạm tội ở hai điểm cơ bản: Thứ nhất là trong trƣờng hợp tự ý
nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, hành vi thuộc mặt khách quan trong cấu
thành tội phạm có thể đã bắt đầu đƣợc thực hiện còn ở giai đoạn chuẩn bị
19