VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
..……..o0o….......
ĐỖ MINH CƯƠNG
ĐA DẠNG CÁC LOÀI CÂY THUỐC VÀ CÁC LOÀI CÂY CÓ
ĐỘC CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI
VÙNG NÚI TAM ĐẢO VÀ TÌM KIẾM CÁC LOÀI CÓ HOẠT
TÍNH SINH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
..……..o0o….......
ĐỖ MINH CƯƠNG
ĐA DẠNG CÁC LOÀI CÂY THUỐC VÀ CÁC LOÀI
CÂY CÓ ĐỘC CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC THIỂU
SỐ TẠI VÙNG NÚI TAM ĐẢO VÀ TÌM KIẾM CÁC LOÀI
CÓ HOẠT TÍNH SINH HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 842 01 11
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
Đỗ Minh Cương
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu là trung thực, chưa từng được ai công bố trong các
công trình nghiên cứu khác.
Hà Nội, tháng 10 năm 2018
Tác giả
Đỗ Minh Cương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................... 4
1.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 4
1.1.1. Sơ lược về đa dạng cây thuốc và cây có độc trên thế giới và trong khu
vực ................................................................................................................. 4
1.1.2. Sơ lược tình hình nghiên cứu đa dạng cây thuốc và cây có độc ở trong
nước ............................................................................................................... 8
1.1.2.1. Tình hình điều tra, thống kê nguồn tài nguyên cây dược liệu ở Việt
Nam ............................................................................................................... 8
1.1.2.2. Những nghiên cứu, đánh giá về giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của
nguồn tài nguyên cây thuốc .......................................................................... 11
1.1.2.3. Tình hình nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào
các dân tộc Việt Nam ................................................................................... 12
1.2. Điều kiện tự nhiên VQG Tam Đảo ....................................................... 14
1.2.1. Địa hình, địa chất thổ nhưỡng............................................................. 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 55
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
DMSO
Dimethyl sulfoxid.
DPPH
Diphenyl-1-Picrylhydrazyl.
ĐDSH
Đa dạng sinh học.
ELISA
Enzyme-linked Immunosorbent assay.
International Union for Conservation of Nature and Natural
IUCN
Resources - Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên Thiên nhiên.
VSVKĐ
Vi sinh vật kiểm định.
VU
Vulnerable – Sẽ nguy cấp.
WHO
World Health Organization - Tổ chức Y tế Thế giới.
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Khí hậu vùng Tam Đảo ................................................................ 15
Bảng 3.1. Số lượng cây thuốc và cây có độc của đồng bào dân tộc ở Tam Đảo
..................................................................................................................... 27
Bảng 3.2. So sánh hệ cây thuốc và cây có độc của đồng bào dân tộc ở vùng
núi Tam Đảo với đa dạng thực vật ở Tam Đảo ............................................. 28
Bảng 3.3. Các họ có nhiều loài cây thuốc của đồng bào dân tộc Tam Đảo ... 30
Bảng 3.4. Các chi có nhiều loài cây thuốc nhất của đồng bào dân tộc Tam Đảo
..................................................................................................................... 31
Bảng 3.5. Đa dạng các nhóm bệnh chữa trị bệnh của đồng bào dân tộc vùng
núi Tam Đảo ................................................................................................ 33
Bảng 3.6. Đa dạng trong các bộ phận sử dụng làm thuốc của đồng bào dân tộc
vùng núi Tam Đảo........................................................................................ 37
Bảng 3.7. Đa dạng trong cách thức sử dụng các loài cây thuốc và cây có độc
của đồng bào dân tộc vùng núi Tam Đảo...................................................... 39
Bảng 3.8. Số cây thuốc và cây có độc của đồng bào dân tộc chữa các nhóm
bệnh khác nhau............................................................................................. 41
nhóm bệnh khác nhau................................................................................... 41
Hình 3.9. Biểu đồ đa dạng trong phương thức sử dụng của dân tộc Sán Dìu ở
vùng núi Tam Đảo........................................................................................ 46
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia ở Đông Nam Châu Á đã có trên 4000 năm
lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong nền văn minh Văn Lang và văn minh
Đại Việt, những y lý và y thuật dựa trên nền tảng của lý luận y học Phương
Đông kết hợp với kinh nghiệm sử dụng các nguồn dược liệu phong phú và
của cộng đồng 54 dân tộc. Trải qua hàng thế kỷ, với sự phát triển mạnh mẽ
của y học Phương Tây nhưng cộng đồng các dân tộc Việt Nam vẫn biết cách
sử dụng và phát triển các phương thuốc cổ truyền của họ, làm cho các loài cây
thuốc và công dụng của chúng ngày càng có ý nghĩa hơn.
Tam Đảo không chỉ được biết đến với những danh lam thắng cảnh nổi
tiếng, những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nơi đây còn lưu giữ nguồn tài
nguyên động, thực vật quý giá. Các cộng động dân tộc tại đây vẫn lưu truyền
các bài thuốc dân gian từ thế hệ này sang thế hệ khác và một số bài thuốc
cũng như phương pháp chữa bệnh còn mang nhiều bản sắc riêng. Các bài
thuốc là sự kết hợp giữa những cây dược liệu được khai thác trong tự nhiên
với kinh nghiệm cha ông truyền lại. Ngoài các phương thuốc và cách chữa
bệnh theo quan niệm của y học truyền thống, cộng đồng các dân tộc nơi đây
còn tìm tòi các cây dược liệu mới để tạo ra các phương thuốc mới.
Để phục vụ cho công tác phòng và chữa bệnh, người dân nơi đây
thường xuyên thu hái một số lượng lớn các loài cây thuốc từ tự nhiên. Do đó,
một số loài cây thuốc bị khai thác với khối lượng lớn dẫn đến trữ lượng nguồn
tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng Tam Đảo đã bị giảm sút nghiêm
Linh - Vĩnh Phúc, Đại Đình - Tam Đảo - Vĩnh Phúc, Quân Chu - Đại Từ Thái Nguyên.
Tiến hành phỏng vấn, điều tra các thầy lang thuộc dân tộc Dao và Sán
Dìu sống tại vùng núi Tam Đảo gồm:
Trần Ánh Sáng (dân tộc Sán Dìu): Đại Đình – Tam Đảo – Vĩnh
Hồ Văn Hai (dân tộc Sán Dìu): Đại Đình – Tam Đảo – Vĩnh
Trịnh Văn Sáu (dân tộc Sán Dìu): Ngọc Thanh – Mê Linh – Vĩnh
Đặng Đức Mùi (dân tộc Dao): Quân Chu – Đại Từ – Thái
Phúc.
Phúc.
Phúc.
Nguyên.
Nguyên.
Dương Trung Quý (dân tộc Dao): Quân Chu – Đại Từ – Thái
vực Tây Phi.
Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời
nhất trong nền dược học châu Á. Khoảng 5000 năm về trước (2.737 TCN 2.697 TCN), dược thảo ở Trung Quốc đã mô tả về giá trị và đặc điểm của hơn
70 loại thảo mộc [50]. Trong cuốn sách "Cây thuốc Trung Quốc " xuất bản
năm 1985 đã liệt kê một loạt các loại cây cỏ như Rễ gấc (Momordica
cochinchinensis (Lour.) Spreng.) chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, sưng tấy
đau khớp, sốt rét; Cải soong ( Nasturtium officinale R.Br.) giải nhiệt, chữa lở
mồm, chảy máu chân răng, bướu cổ.
Theo “Thần nông bản thảo”, người Trung Quốc cổ đại đã sử dụng 365
vị thuốc và cây thuốc để phòng và chữa bệnh. Chính cuốn sách này đã tạo nền
tảng cho sự phát triển của nền y học cổ truyền Trung Quốc cho đến ngày nay.
Đến thời nhà Hán (năm 168 TCN) trong cuốn sách “Thủ Hậu cấp phương” đã
thống kê 52 đơn thuốc trị bệnh từ các loài cây cỏ [31],[10].
5
Tới giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 1.200 vị thuốc trong có
nguồn gốc từ thực vật và động vật trong tập“Bản thảo cương mục”. Đến nay,
kinh nghiệm sử dụng các loài cây thuốc của người Trung Quốc được đánh giá
là hàng đầu thế giới. Hiện nay, tại Trung Quốc đã thống kê được khoảng trên
8.000 loài cây đã được ghi nhận sử dụng làm thuốc và có độc tính [29].
Ấn Độ cũng là quốc gia ở châu Á có nguồn tài nguyên cây thuốc cũng
như kinh nghiệm sử dụng rất đa dạng. Vào khoảng 4500 - 1600 TCN trong
sách Rig - Veda đã có những ghi chép sớm nhất về sử dụng cây thuốc. Cho
đến nay, Ấn Độ đã nghiên cứu và sử dụng khoảng 7.500 loài cây thuốc trong
điều trị bệnh trực tiếp hoặc cung cấp nguyên liệu sản xuất thuốc. Nền y học
cổ truyền Ấn Độ được gọi là Ayurveda có nguồn gốc từ thời cổ xưa.
Cách đây 6.000 năm tại Ấn Độ, y học Ayurveda đã sử dụng bột nghệ
làm thuốc chữa bệnh [44],[50]. Cho đến nay, tại Himalaya có 1.748 loài được
tập nghiên cứu về cây thuốc và sản phẩm làm thuốc từ thực vật ở Đông
Dương [46].
Ở Châu Phi, việc sử dụng các cây thuốc trong việc điều trị bệnh
cũng có từ rất sớm. Khoảng 1500 năm TCN, dân tộc Ebers đã ghi lại hơn
870 toa thuốc, 700 loại thảo dược và các chứng bệnh [3]. Đến năm 800
TCN, trong thiên sử thi Iliad và Odyssey của Homer có 63 loài thực vật từ
Minoan, Mycenae và Assyrian ở Ai Cập đã được giới thiệu [43]. Hiện nay,
cộng đồng dân tộc Mt. Nyiru, Nam Turkana, Kenya đã ghi nhận 448 loài cây
thuốc được người dân sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh [40]. Kết quả điều
tra cây thuốc ở Babungo, phía Bắc Cameroon đã ghi nhận 107 loài thực vật
thuộc 98 chi và 54 họ được người dân địa phương sử dụng [25].
Theo một hướng khác, nghiên cứu cây thuốc trên thế giới được tập
trung theo các mục đích ứng dụng cụ thể. Nhiều công trình theo hướng này đã
7
được công bố trong những năm gần đây: các loài cây thuốc chữa bệnh ung
thư, các loài cây thuốc chữa bệnh tiểu đường, v.v.... Tài nguyên thực vật là
đối tượng quan trọng để sàng lọc tìm ra các thuốc mới. Viện Ung thư Quốc
gia Mỹ đã sàng lọc đến trên 35.000 trong số trên 250.000 loài thực vật đã biết
trên khắp thế giới để tìm và đã phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng
chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ có sử dụng chế phẩm có dược
tính mạnh có nguồn gốc từ thực vật [31], [32].
Theo Fujiki (Nhật Bản) cùng các nhà khoa học ở Viện Hàn lâm Hoàng
gia Anh thì Chè xanh (Thea sinensis L.) còn ngăn chặn sự phát triển các loại
ung thư gan, dạ dày nhờ chất Gallat epigallocatechine.
Theo Anon. (1982) trong vòng gần 200 năm trở lại đây đã có ít nhất
121 hợp chất hóa học tự nhiên đã nắm được cấu trúc, thành phần hóa học
được chiết từ các cây cỏ với mục đích làm thuốc từ đó tổng hợp nên các loại
làm gia vị, kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh. Thế kỷ XI (TCN), nhân
dân ta có tục ăn trầu cho ấm người, thơm miệng, uống nước chè xanh cho mát,
nụ vối cho dễ tiêu...Theo Long Úy chép lại, vào đầu thế kỷ thứ II có hàng
trăm vị thuốc từ đất Giao Chỉ như: Ý dĩ (Coix lachrymal-jobi L.), Hoắc hương
(Pogostemon cablin Benth.) [11].
Đời nhà Lý (1010 – 1224) nhà sư Nguyễn Minh Không tức Nguyễn
Chí Thành đã dùng nhiều loại cây cỏ chữa bệnh nên được phong tấn “Quốc
sư” triều Lý. Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông (Trung Quốc) trao đổi
thuốc Nam lấy thuốc Bắc [10].
Đời nhà Trần (1225- 1399) Việt Nam đã có nhiều danh y nghiên cứu,
thống kê về các loài cây thuốc. Đáng chú ý nhất là Tuệ Tĩnh, tên thực là
Nguyễn Bá Tĩnh (vào thế kỷ XIV) đã biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu”
gồm 11 quyển với 499 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc
9
thực vật [10]. Ông đã để lại cho đời sau nhiều bộ sách y thư quý giá như:
“Tuệ Tĩnh y thư”, “ Hồng Nghĩa Giác Tư Y” với 2 bài Hán - Nôm, trong đó
tóm tắt của 130 loài cây thuốc cùng cách trị 37 chứng sốt khác nhau (Thương
hàn tam thấp trùng pháp) [9].
Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1729 - 1791) đã
thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập "Lĩnh Nam bản thảo", nội dung
gồm 499 vị thuốc Nam của "Nam dược thần hiệu" và phát hiện thêm hơn
300 vị nữa. Tư liệu vĩ đại nhất của ông là bộ sách: "Hải Thượng y tông tâm
lĩnh" gồm 66 quyển viết về lý luận cơ bản, phương pháp chẩn đoán, trị bệnh.
Ông được mệnh danh là người sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam [9].
Triều Tây Sơn (1788 - 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập "Nam
dược" với 620 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền [10].
Năm 1858, Trần Nguyên Phương với “Nam bang thảo mộc” đã kể tên và
đã giới thiệu 144 loài cây thuốc nguy cấp ở Việt Nam [23].
Tác giả Tào Duy Cần, Trần Sĩ Viên đưa ra “Cây thuốc vị thuốc và bài
thuốc Việt Nam” (2007) gồm trên 500 vị thuốc Nam – thuốc Bắc thường dùng
(vốn là những thảo mộc dễ kiếm, sống ở nước ta) được mô tả, xác định vùng
phân bố, bộ phận dùng và tác dụng của thuốc ngoài ra còn kèm theo các
phương thuốc trị bệnh theo y học cổ truyền [4].
Cuối năm 2016, Viện Dược liệu đã xuất bản cuốn “Danh lục cây thuốc
Việt Nam” giới thiệu 5.117 loài có công dụng làm thuốc ở nước ta. Trong
cuốn sách cũng chỉ ra rằng, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên không chỉ đa dạng
về số lượng loài mà còn phong phú cả về khả năng khai thác, phân bố địa lý
cũng như giá trị khai thác [35].
Từ năm 2000 đến nay, các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật đã thu thập, nghiên cứu và công bố một số tài liệu liên quan
tới cây thuốc. Đáng chú ý tập sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt
Nam” của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001; 2002), các tác giả đã đề cập
11
đến giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam
[21].
Bên cạnh đó, nhiều đề tài nghiên cứu được Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật thực hiện điều tra về cây thuốc như: Nguyễn Văn Dư (2015)
đã ghi nhận ở khu vực Tây Nguyên có 1.633 loài cây được dùng làm thuốc và
363 bài thuốc [36]; Lê Thanh Hương (2015) đã ghi nhận 745 loài cây làm
thuốc tại tỉnh Thái Nguyên [13].
1.1.2.2. Những nghiên cứu, đánh giá về giá trị sử dụng và giá trị kinh tế
của nguồn tài nguyên cây thuốc
Việt Nam là ngôi nhà chung của cộng đồng 54 dân tộc, trong đó người
Kinh (Việt) có tỷ lệ dân số lớn nhất, chủ yếu phân bố ở các vùng châu thổ.
cây thuốc và được đúc rút thành những cuốn sách có giá trị. Tuy nhiên, các
công trình nghiên cứu về y học cổ truyền bản địa của các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam còn ít đề cập đến.
Năm 1994, Lê Nguyên Khanh và Trần Thiện Quyền đã xuất bản cuốn
"Những bài thuốc kinh nghiệm bí truyền của các ông lang bà mế miền núi"
[14].
Dự án Bảo tồn cây thuốc cổ truyền hoạt động từ năm 1997 đã tiến hành
điều tra, khảo sát thu thập các loài cây thuốc và bài thuốc của cộng đồng dân
tộc ở nhiều vùng trên cả nước. Người Dao ở VQG Ba Vì với 579 loài và 125
bài thuốc; người Mường ở xã Cẩm Liên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa
với 136 loài và 102 bài thuốc…[34].
Năm 2001, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự trong công trình “Thực vật
học dân tộc - Cây thuốc của đồng bào Thái Con Cuông Nghệ An” đã thống kê
được 551 loài, 364 chi, 120 họ thực vật có giá trị làm thuốc, đặc biệt là trong
nghiên cứu này nhóm tác giả đã đưa ra công dụng cụ thể của từng loài theo
cách sử dụng của người dân địa phương [26].
13
Đặng Quang Châu (2001) đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc
của dân tộc Thái ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149
chi, thuộc 71 họ khác nhau [5].
Gần đây, năm 2003, Trần Văn Ơn trong luận án Tiến sĩ dược học
"Góp phần nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Vườn Quốc gia Ba Vì", tác giả
đã điều tra được 503 loài cây thuốc được người Dao sử dụng thuộc 321
chi, 118 họ của 5 ngành thực vật [22].
Nguyễn Thị Thuỷ, Lưu Đàm Cư, Phạm Văn Thính, Bùi Văn Thanh
(2005), khi nghiên cứu việc thu hái và sử dụng cây thuốc của đồng bào dân
tộc Tày khu vực Việt Lâm (Vị Xuyên, Hà Giang) đã cho biết: Có hơn 400 loài
Tây Nam, các lưu vực suối đều đổ về sông Phó Đáy,... .
Dãy núi Tam Đảo có trên 20 đỉnh núi được nối với nhau bằng đường
dông sắc, nhọn tạo nên một bức bình phong chắn gió mùa Đông Bắc cho vùng
đồng bằng. Các đỉnh có độ cao trên dưới 1.000 m. Đỉnh cao nhất là Tam Đảo
Bắc (Tam Đảo North - ranh giới giữa 3 tỉnh) cao 1.592m. Ba đỉnh núi nổi
tiếng của Tam Đảo là Thiên Thị (1.375m), Thạch Bàn (1.388 m), và Phù
Nghĩa (1.300 m). Chiều ngang của khối núi rộng 10 - 15 km, sườn rất dốc và
chia cắt mạnh. Độ dốc bình quân từ 16 - 350, nhiều nơi độ dốc trên 350. Độ
cao của núi giảm nhanh về phía Đông Bắc xuống lòng chảo Đại Từ tạo nên
những mái dông đứng. Hướng Đông Nam có xu hướng giảm dần đến giáp địa
phận Hà Nội,... .
b. Địa chất và thổ nhưỡng
Có 4 loại đất chính ở Tam Đảo đã được phát hiện là :
+ Đất Feralit mùn vàng nhạt phân bố ở độ cao trên 700 m.
+ Đất Feralit mùn, vàng đỏ phân bố xung quanh sườn núi Tam Đảo ở
độ cao từ 400 - 700 m.
15
+ Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau như đá
Shale, Mica, Phillite và đá Cát. Phân bố trên các đồi cao từ 100 - 400 m.
+ Đất phù sa và dốc tụ phân bố ven chân núi và thung lũng hẹp giữa núi
và ven sông suối lớn. Thành phần cơ giới của loại đất này là trung bình, tầng
dày, độ ẩm cao, màu mỡ đã được khai phá trồng lúa và hoa màu.
1.2.2. Khí hậu thuỷ văn
a. Khí hậu
Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu ẩm nhiệt đới mưa mùa vùng núi.
Điều kiện khí tượng thuỷ văn ở mỗi vùng khác nhau. Có thể coi trạm khí
tượng Tuyên Quang và Vĩnh Yên đặc trưng cho khí hậu sườn phía Tây. Trạm
41,4
41,3
41,5
33,1
Nhiệt độ tối thấp tương đối
4,0
3,0
3,2
-0,2
Lượng mưa bình quân năm (mm)
1641,4
1906,2
1603,5
2630,3
Số ngày mưa/năm
15,0
16,0
14,0
6,0
Lượng bốc hơi (mm)
760,3
985,5
1040,1
561,5
Yếu tố
(Nguồn: Số liệu Dự án thành lập VQG Tam Đảo)
16
b. Thuỷ văn
Trong khu vực có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây
và sông Công ở phía Đông. Đường phân thuỷ của hai hệ thống sông trên
chính là dông núi Tam Đảo chạy từ Đèo Khế (Sơn Dương) đến Mỹ Khê (Bình
Xuyên).