“Giải quyết tranh chấp đất Lâm nghiệp giữa Ban quản lý khu
Bảo tồn thiên nhiên với đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương ”
LỜI NÓI ĐẦU
Vừa qua Ủy ban nhân dân tỉnh Gia lai đã phối hợp Học viện Hành chính
Quốc gia tổ chức lớp bồi dưỡng thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên
chính cho cán bộ quản lý của các cơ quan Nhà nước trên địa bàn Tỉnh, tại Trường
chính trị tỉnh Gia lai (thời gian học từ 17/5 đến 16/8/2010).Qua thời gian ba tháng
học tập, được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên
chính, được thầy, cô của Học viện Hành chính Quốc gia truyền đạt những kiến
thức và kỹ năng về quản lý hành chính nhà nước gồm những nội dung:
-Nhà nước và pháp luật;
-Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính;
-Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực.
Đây là những nội dung hết sức bổ ích và cần thiết cho người cán bộ, công chức
trong việc thực thi nhiệm vụ tại đơn vị đang công tác. Qua 27 chuyên đề về quản lý
hành chính nhà nước đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận
và thực tiễn mới trong công tác quản lý nhà nước. Vận dụng những kiến thức đã
tiếp thu từ thầy cô, học viên áp dụng vào công tác của cơ quan mình, ngành mình,
học viên nhận thức được :
Rừng là cái nôi của loài người nguyên thủy, có tác dụng vô cùng to lớn đối với con
người trong lĩnh vực phòng hộ, giữ cân bằng sinh thái, nghiên cứu khoa học, phát
triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh, Quốc phòng. Chính vì vậy Bác Hồ đã từng
dạy:
“Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý”
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng nói:
Mất rừng là mất đất, mất rừng là mất nước, mất rừng là mất đất nước.
Trong những năm qua ở Tây nguyên nói chung, ở Gia lai nói riêng, do nhiều
nguyên nhân khác nhau làm cho diện tích rừng tự nhiên, độ che phủ của rừng, chất
lượng của rừng giảm đi nhanh chóng ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, đời
sống của người dân, đặc biệt là người dân tộc địa phương. Một trong những
nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng mất rừng nêu trên là vấn đề giải quyết
vệ” trong đó giao cho BQL khu BTTN Bà nà quản lý bảo vệ 15.900 ha đất Lâm
nghiệp (Có bản đồ hiện trạng kèm theo), trong đó có:
+ Đất có rừng tự nhiên: 15.480 ha
+ Đất Lâm nghiệp chưa có rừng 298 ha.
+ Đất nông nghiệp 62 ha.
+ Sông suối 60 ha.
Căn cứ vào 2 quyết định nêu trên của UBND tỉnh Gia lai thì Khu BTTN Bà
nà có 6 nhiệm vụ cụ thể là:
“1. Chịu trách nhiệm trước Nhà nước về QLBV, xây dựng và sử dụng khu BTTN
Bà nà theo quy chế quản lý 3 loại rừng và các quy định khác của pháp luật; tổ chức
quản lý bảo vệ 15.900 ha rừng của khu BTTN Bà nà; khôi phục và bảo vệ nguyên
vẹn hệ sinh thái; bảo tồn tính đa dạng sinh học của khu BTTN Bà nà, gồm thực
hiện các biện pháp nhằm phát triển bền vững tài nguyên sinh vật, tài nguyên đất,
tài nguyên nước, đồng thời phối hợp với các cấp chính quyền sở tại để bảo vệ các
nguồn tài nguyên thiên nhiên khác thực hiên các biện pháp phòng cháy, chữa cháy
rừng phòng trừ sâu bệnh hại rừng ngăn chặn các hành vi gây thiệt hại đến khu
BTTN Bà nà.
2. Lập dự án bổ sung đầu tư xây dựng khu khu BTTN Bà nà đồng thời lập dự án
chi phí hàng năm cho các hoạt động của đơn vị để trình cấp thẩm quyền phê duyệt,
quản lý sử dụng kinh phí đầu tư từ ngân sách Nhà nước theo quy định hiện hành.
3. Tổ chức thực hiện nội dung các dự án đầu tư của khu khu BTTN Bà nà đã được
cấp có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức các hoạt động về hợp tác Quốc tế theo
sự phân công của cơ quan có thẩm quyền và theo các qui định hiện hành của nhà
nước về lĩnh vực này.
4. Xây dựng và tổ chức thực hiện các hoạt động của khu BTTN Bà nà theo hướng
dẫn của cơ quan chủ quản.
5. Định kỳ báo cáo cấp trên về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động của khu
BTTN Bà nà;
6. Tiến hành các hoạt động dịch vụ nghiên cứu khoa học, văn hóa xã hội và du lịch
sinh thái theo quy định của pháp luật.”
phá rừng làm nương rẫy mới, kể cả diện tích nương rẫy đã bỏ hoang thành rừng
nằm trong khu BTTN Bà Nà cũng không được phát lại để làm nương rẫy, hay sản
xuất nông nghiệp) nhằm QLBV tốt 15.900 ha đất Lâm nghiệp được giao, ngăn
chặn hành vi lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy, trồng cây công nghiệp và đã đạt
được một số kết quả nhất định, như hầu hết các hộ dân không những không phá
rừng làm nương rẫy, không phát lại rẫy cũ đã thành rừng để làm nương rẫy, mà
còn tiếp tục bỏ hoang một số diện tích nương rẫy, chính vì vậy chỉ trong 3 năm
2004 – 2008 đất nông nghiệp trong khu BTTN Bà Nà giảm trên 2/3 diện tích , độ
che phủ của khu BTTN Bà Nà tăng 2,5 %, Tỷ lệ rừng giàu, rừng trung bình tăng 21
%, rừng non tăng 5,2 %, rừng ngèo giảm 23,7%. Tuy nhiên do nhiều hộ người dân
tộc Ba Na ở thôn Điện Biên diện tích đất nông nghiệp còn có thể sản xuất được là
quá ít, trình độ canh tác vẫn còn lạc hậu, thu nhập từ diện tích đất nông nghiệp còn
lại không đủ trang trải cuộc sống, nên có một số hộ đã quay lại khu BTTN Bà Nà
phát lại diện tích rẫy cũ đã bỏ hoang từ lâu thành rừng để sản xuất nương rẫy trong
khu BTTN Bà Nà.
Ngày 3 tháng 4 năm 2008, trong khi tuần tra bảo vệ rừng, cán bộ bảo vệ rừng khu
BTTN Bà Nà phát hiện tại tiểu khu 47 thuộc lâm phận của khu BTTN Bà Nà quản
lý có 6 hộ người dân tộc Ba Na ở thôn Điện Biên đang phát rừng làm nương rẫy,
tổng cộng đã phát được 2000 m2, trong đó mỗi hộ đã phát được 300 đến 350 m2
rừng non, cán bộ bảo vệ rừng khu BTTN Bà Nà tạm đình chỉ việc phá rừng làm
nương rẫy của 6 hộ dân nói trên, lập biên bản về hành vi lấn, chiếm, chuyển mục
đích sử dụng rừng trái phép của 6 hộ dân này, nhưng 6 hộ dân đang phát rẫy không
đồng ý, với lý do diện tích 2000 m2 mà 6 hộ đã phát rẫy, nằm trong diện tích 6 ha
rẫy cũ của 6 gia đình họ đã sản xuất từ rất lâu, theo phong tục tập quán du canh và
luân canh của dân tộc họ, nên họ đã bỏ hoang từ 9 năm về trước, nay mọc thành
rừng, bây giờ đến chu kỳ canh tác, vì vậy rẫy của họ có từ trước khi thành lập khu
BTTN Bà Nà, nên họ coi hành vi của họ không phải là hành vi lấn, chiếm, chuyển
mục đích sử dụng rừng trái phép mà chỉ là hành vi sản xuất nương rẫy luân canh
thông thường như ông bà họ vẫn từng làm, khu BTTN Bà Nà mới là đơn vị chiếm
đất của họ. Hiện 6 gia đình đang thiếu đất canh tác, hoặc có đất nông nghiệp nhưng
được rừng, ngược lại nếu xử lý cứng nhắc, không thỏa đáng, sẽ gây phản ứng bất
bình cho người dân Ba Na trong vùng, dễ bị bọn phản động lôi kéo xúi giục người
dân tộc thiểu số chống lại chính quyền, đồng thời nếu xử phạt vi phạm hành chính
6 hộ dân thôn Điện Biên nói trên theo đúng Nghị định 159/2007/NĐ-CP ngày 30
tháng 10 năm 2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
QLBV rừng và quản lý lâm sản thì không khả thi, vì 6 hộ dân thôn Điện Biên nói
trên quá ngèo không đủ ăn, không có tài sản gì đáng giá nên không thể có tiền để
nộp VPHC cũng như khắc phục hậu quả. Để giải quyết thỏa đáng vụ việc này cần
có sự phối hợp đồng bộ của nhiều nghành, nhiều cấp, nhiều cơ quan liên quan nên
BQL khu BTTN Bà Nà đã lập văn bản báo cáo cụ thể lên UBND Huyện K (chính
quyền địa phương sở tại), lên chi cục Kiểm lâm (là cơ quan chủ quản), lên UBND
tỉnh Gia lai (cơ quan ra quyết định giao đất cho khu BTTN Bà Nà) để xin ý kiến
chỉ đạo giải quyết thỏa đáng vụ việc tranh chấp đất Lâm nghiệp nói trên.
2. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
2.1 Mục tiêu phân tích tình huống
Tìm ra cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, nguyên nhân xảy ra tình huống, từ đó
đánh giá hậu quả do tình huống tạo ra đối với xã hội, để làm cơ sở cho phần xử lý
tình huống, và kiến nghị với Đảng, Nhà nước và cơ quan chức năng trong việc ban
hành các văn bản liên quan đến giải quyết tình huống đã chọn, và các tình huống
tương tự.
2. 2. Cơ sở lý luận:
Những căn cứ pháp lý để phân tích tình huống:
- Căn cứ Luật Đất đai đã được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt nam thông qua năm 2003
- Căn cứ Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã được Quốc hội khóa XI nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam thông qua tại kỳ họp thứ 6 từ ngày 25 tháng 11 đến
ngày 03 tháng 12 năm 2004
- Căn cứ Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/03/2006 của chính phủ “V/v thi
hành luật Bảo vệ và phát triển rừng ”;
- Căn cứ Nghị định 159/2007/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ
giao đất giao rừng cho các tổ chức, cá nhân thì các cơ quan chức năng đều giao cả
diện tích rẫy luân canh nằm trong vùng quy hoạch cho các chủ rừng, không tính
đến tập tục canh tác rẫy luân canh của đồng bào dân tộc thiểu số, không cần thỏa
thuận với những hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã canh tác trên diện tích đất lâm
nghiệp nằm trong vùng quy hoạch đó, với lý do không thực tế là diện tích rẫy luân
canh không có giấy tờ hợp pháp, thực tế cho đến nay hầu hết nương rẫy của đồng
bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa chưa được cấp quyền sử dụng đất).
+ Trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số thấp, người dân ít hiểu biết về
pháp luật. Trình độ canh tác của người dân tộc Ba Na trong vùng còn thấp kém, đa
số các hộ vẫn còn sử dụng phương thức sản xuất du canh, phát, đốt, chọc, tỉa, đồng
thời đất đai trong vùng có độ dốc cao, mưa nhiều nên chỉ 3 năm là đất bạc màu họ
không thể sản xuất nông nghiệp được nữa, tình trạng trên làm cho đồng bào có
nhiều đất ( có một số hộ có thể có tới 2 đến 3 ha đất) nhưng vẫn thiếu đất sản xuất.
+ Những năm gần đây điều kiện sống cũng như công tác y tế trong vùng đã được
cải thiện, trong khi nhận thức của người dân tộc Ba Na về kế hoạch hóa gia đình
còn hạn chế nên, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong vùng tăng cao (trên 3 % /năm),
ngoài ra tình trạng di dân từ nơi khác đến cũng rất lớn (năm 1975 hầu như chỉ có
người Ba Na trong vùng, hiện nay ngoài người Ba Na chỉ chiếm 35 % dân số trong
vùng), dân di cư có trình độ canh tác cao hơn nên thường họ mua rẻ lại toàn bộ
diện tích nương rẫy đã bạc màu, hoặc chưa bạc màu nhưng do người Ba Na thiếu
tiền đem bán, càng làm cho tình trạng thiếu đất sản xuất của người dân tộc thiểu số
Ba Na ngày càng nghiêm trọng dẫn tới việc đồng bào buộc phải phá rừng, lấn,
chiếm đất rừng để làm nương rẫy mới.
+ Lực lượng bảo vệ rừng của chủ rừng mỏng chỉ có 10 người phải bảo vệ gần
16000 ha rừng, trong khi cơ sở vật chất kỹ thuật, chế độ đãi ngộ phục vụ cho công
tác và sinh hoạt của cán bộ bảo vệ rừng còn nhiều thiếu thốn.
2.3.2. Về chủ quan do
Sự hiểu biết pháp luật, kinh nghiệm, hiểu biết thực tế trong lĩnh vực QLBV rừng,
hiểu biết về phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số của những cán bộ
làm công tác tham mưu cho chủ rừng cho các cấp chính quyền địa phương còn
* Mục tiêu chung:
Khu BTTN Bà Nà có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế về đa dạng sinh học, phòng
hộ đầu nguồn cho 5 đập thủy điện và cả vùng hạ lưu sông Côn rộng lớn thuộc tỉnh
Bình định, tình huống nêu trên chỉ là một ví dụ điển hình của hàng trăm vụ tranh
chấp đất đai công khai, hay ngấm ngầm giữa đồng bào dân tộc thiểu số địa phương
với các chủ rừng, nên cần phải được các ngành các cấp tập trung nghiên cứu giải
quyết thỏa đáng, hợp tình hợp lý, nhằm gây dựng niềm tin với nhân dân, đối với
chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đảm bảo các nguyên tắc
sau đây:
- Giữ vững trật tự kỷ cương xã hội, đảm bảo tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, xử lý nghiêm minh những đối tượng vi phạm để làm gương cho những
người khác.
- Củng cố niềm tin của người dân tộc thiểu số đối với Đảng, và Nhà nước , đảm
bảo ổn định cuộc sống của người dân tộc thiểu số tại địa phương, thực hiện theo
hướng xã hội hóa nghề rừng, thu hút người dân tộc thiểu số tham gia nghề rừng,
tham gia QLBV rừng, BTTN, gắn liền công tác QLBV rừng, BTTN với giải quyết
hài hòa giữa các lợi ích của đồng bào dân tộc thiểu số sống gần rừng.
- Giải quyết tốt chính sách đất đai và việc làm, tăng thu nhập bền vững cho người
đồng bào dân tộc thiểu số, xóa đói giảm nghèo, góp phần ổn định tình hình an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng.
-Trên cơ sở xây dựng được các phương án giải quyết tình huống, đảm bảo
được hết, hoặc một số nguyên tắc nêu trên, từ đó phân tích được các đặc trưng, ưu,
nhược điểm, và điều kiện áp dụng của từng phương án, để chọn được phương án
giải quyết tối ưu nhất cho khu BTTN Bà nà nói riêng, có kiến nghị với cấp trên,
trong việc hoàn thiện chính sách về quyền lợi của người dân tộc thiểu số có diện
tích nương rẫy luân canh.
3. 2 .Đề xuất, xây dựng phương án, giải pháp xử lý tình huống
3.2.1 Phương án 1:
3.2.1.1 Mục tiêu :
- Giữ vững trật tự kỷ cương xã hội, đảm bảo tăng cường pháp chế xã hội chủ
kiện không có nhiều kinh phí chi cho việc giải quyết tranh chấp đất đai này.
3.2.2. 2. Nội dung chính:
- Căn cứ điều 32 Luật Đất đai đã được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt nam thông qua năm 2003, BQL khu BTTN Bà Nà phối hợp với
chính quyền địa phương xác minh lại nguồn gốc lô đất tranh chấp, nếu đúng như 6
hộ đồng bào thôn Điện biên đã trình bày tức là:
Diện tích 2000 m2 đất tranh chấp thực sự là rẫy cũ của 6 gia đình họ đã sản xuất từ
rất lâu, theo phong tục tập quán du canh và luân canh của dân tộc họ, nên họ đã bỏ
hoang từ 9 năm về trước, nay mọc thành rừng, bây giờ đến chu kỳ canh tác, vì vậy
rẫy của họ có từ trước khi có luật đất đai năm 1993, thì quy hoạch khu đất nông
nghiệp thích hợp để đền bù cho 6 hộ dân nói trên (đền bù cả công khai phá 2000
m2 rẫy) đồng thời thu hồi 2000 m2 đã bị 6 hộ dân thôn Điện biên phá rừng làm
nương rẫy để trả lại cho khu BTTN Bà Nà tổ chức thực hiện nhiệm vụ BTTN.
B. 3. 2. 3. Nhu cầu tài chính cho thực hiện phương án 2 là 20 triệu đồng, trong
đó:
+Chi Khai hoang 2000 m2 là: 3 triệu đồng
+Chi quy hoạch 6 ha đât nông nghiệp: 17 triệu đồng
C. Phương án 3:
3.2.3.1 Mục tiêu :
- Giữ vững trật tự kỷ cương xã hội, đảm bảo tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, xử lý nghiêm minh những đối tượng vi phạm để làm gương cho những
người khác.
- Củng cố niềm tin của người dân tộc thiểu số đối với Đảng, và Nhà nước , đảm
bảo ổn định cuộc sống của người dân tộc thiểu số tại địa phương, thực hiện theo
hướng xã hội hóa nghề rừng, thu hút người dân tộc thiểu số tham gia nghề rừng,
tham gia QLBV rừng, BTTN, gắn liền công tác QLBV rừng, BTTN với giải quyết
hài hòa giữa các lợi ích của đồng bào dân tộc thiểu số sống gần rừng.
- Giải quyết tốt chính sách đất đai và việc làm, tăng thu nhập bền vững cho người
đồng bào dân tộc thiểu số, xóa đói giảm nghèo, góp phần ổn định tình hình an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng.
phủ “Về chính sách thu hồi đất sản xuất của các nông trường, lâm trường để giao
lại cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo”
Căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật trên chính quyền huyện K phối hợp
với khu BTTN Bà Nà xây dựng 1dự án vùng đệm của khu BTTN Bà Nà với mục
tiêu nêu ở phần 3.2.3.1, cụ thể rà soát lại tình trạng thiếu đất sản xuất, thiếu đói của
người dân trong vùng (đối tượng quan tâm đặc biệt là người dân tộc thiểu số) để
quy hoạch một vùng sản xuất nông nghiệp, nhằm cấp đất sản xuất cho người dân
thiếu đất, và chuyển đổi toàn bộ diện tích 20 ha đất mà người dân đang canh tác
trong khu BTTN Bà Nà ra vùng đệm. Tổ chức thực hiện công tác khuyến nông
khuyến lâm cho người dân, để người dân nâng cao thu nhập, đồng thời biết cách
canh tác bền vững trên đất dốc, sản xuất thâm canh không còn tình trạng quảng
canh, du canh. Tổ chức khoán Bảo vệ rừng cho các cộng đồng buôn làng người
dân tộc thiểu số, kết hợp tuyên truyền vận động người dân thực hiện đúng các văn
bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực QLBV rừng. Mặt khác BQL khu BTTN Bà
Nà cũng xây dựng dự án phát triển du lịch sinh thái có sự tham gia hưởng lợi của
người dân trong vùng, và phương án đồng quản lý, cùng hưởng lợi từ khu BTTN
Bà Nà
B. 3. 3. 3. Nhu cầu tài chính -Tổng nhu cầu tài chính thực hiện Phương án, 3
là: 2.000 triệu đồng
+ Chi đền bù giải tỏa đất trong khu BTTN Bà Nà : 400 triệu
+Chi xây dựng thực hiện các dự án là : 1.600 triệu đồng
3. 3. Lựa chọn phương án
Bảng tổng hợp tìm ra ưu nhược điểm của từng phương án
P.A Ưu điểm Khuyết điểm
1 - Giữ vững trật tự kỷ cương xã hội,
đảm bảo tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa, xử lý nghiêm minh những
đối tượng vi phạm để làm gương cho
những người khác.
- Không phải chi phí gì cho thực hiện
2 - Giải quyết được mâu thuẫn giữa cơ
quan quản lý nhà nước, các đơn vị
chủ rừng với người dân tộc thiểu số
tại địa phương,
- Lấy lại lòng tin của nhân dân, đặc
biệt là cộng đồng người dân tộc tiểu
số tại địa phương, không gây chia rẽ
khối đại đoàn kết dân tộc, không làm
ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh
chính trị trật tự an toàn xã hội trong
vùng.
- Giải quyết triệt để được vấn đề tranh
chấp đất Lâm nghiệp giữa đòng bào
với các đơn vị chủ rừng
-Không phải chi phí gì đáng kể cho
thực hiện phương án 2.
- Trật tự kỷ cương xã hội, pháp chế xã
hội chủ nghĩa bị coi thường, việc xử
lý không có tính răn đe, không những
không làm gương cho kẻ khác, mà
còn tạo ra tiền lệ xấu cho người dân
tộc thiểu số đòi các diện tích đất trước
đây đã quy hoạch phục vụ kinh tế xã
hội.
- Có thể xảy ra tình trạng một số hộ
lấn chiếm rừng để làm rẫy, để một vài
năm rồi đòi bồi thường.
- Chưa giúp người dân bỏ được tập
biệt là cộng đồng người dân tộc tiểu
số tại địa phương, giữ vững khối đại
đoàn kết dân tộc,
Thực hiện khó, thực hiện lâu dài, các
ngành, các cấp phải cùng phối hợp
đồng bộ thì mới thực hiện được. Chi
phí cho việc thực hiện phương án này
rất tốn kém .
Qua bảng tổng hợp tìm ra ưu nhược điểm của từng phương án, ta nhận thấy rằng:
Cả 3 phương án đều có những ưu, khuyết điểm nhất định, nhưng đều đã giải quyết
được toàn bộ, hay một phần vấn đề đặt ra của tình huống, tuy nhiên, phương án 3
là phương án giải quyết vấn đề triệt để nhất, ít khuyết điểm, nhiều ưu điểm nhất,
với tình hình kinh tế xã hội hiện nay của đất nước ta đã đủ sức thực hiện phương
án 3, vậy để giải quyết tình huống này nên chọn phương án 3.
4. KIẾN NGHỊ
4.1. Hoàn thiện công tác Quy hoạch
Đối với nhân dân vùng núi nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số định cư ở vùng
sâu vùng xa của tỉnh Gia lai nói riêng, việc quy hoạch rõ ràng ranh giới đất Nông
nghiệp và đất Lâm nghiệp là một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi chính quyền địa phương,
và cơ quan quản lý nhà nước các cấp cần khẩn trương hoàn thiện công tác quy
hoạch sát với nhu cầu thực tế tại địa phương, đảm bảo dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra, tránh tình trạng quy hoạch hình thức, thiếu dân chủ, không quan tâm
đến quyền lợi của một bộ phận người dân nào đó, nhất là những đối tượng dễ bị
tổn thương như đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa.
4.2. Đền bù giải tỏa đất sản xuất, đất ở cho người dân trước khi giao đất cho
chủ rừng.
Nhà nước nghiên cứu ban hành văn bản quy định trước khi quy hoạch đất đai, hoặc
giao đất giao rừng cho các tổ chức, cá nhân phải hoàn thành công tác đền bù giải
Học viên cũng mạnh dạn đề nghị chính phủ sớm ban hành một số chính sách, văn
bản, quy định nhằm tạo điều kiện cho các địa phương, các chủ rừng giải quyết
thống nhất, triệt để vấn đề đề tranh chấp đất Lâm nghiệp giữa đồng bào các dân
tộc thiểu số với các đơn vị chủ rừng , đồng thời kiến nghị với UBND tỉnh Gia lai
chỉ đạo cho Chính quyền địa phương huyện K phối hợp với Khu BTTN Bà Nà xây
dựng, thực hiện dự án vùng đệm khu BTTN Bà Nà nhằm giải quyết vấn đề thiếu
đất sản xuất, và các chính sách xã hội khác cho nhân dân vùng đệm khu BTTN Bà
Nà.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Đất đai đã được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
nam thông qua năm 2003
2.Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt nam thông qua tại kỳ họp thứ 6 từ ngày 25 tháng 11 đến ngày 03
tháng 12 năm 2004
3. Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/03/2006 của chính phủ “V/v thi hành luật
Bảo vệ và phát triển rừng ”;
4. Nghị định 159/2007/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực QLBV rừng và quản lý lâm sản
5. Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 12/8/2006 của Thủ tướng chính phủ
“V/v ban hành Qui chế quản lý rừng ”;
6. Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ngày 5/2/2007 của Thủ tướng chính phủ “Về
việc phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia giảm ngèo giai đoạn 2006 - 2010”
7. Quyết định số 1174/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của Thủ tướng chính phủ
“Về việc thí điểm giao rừng khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng buôn
làng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây nguyên”
8. Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 7/11/2005 của Thủ tướng chính phủ “Về
phê duyệt đề án thí điểm giao rừng khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng