Tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở huyện điện biên, tỉnh điện biên hiện nay - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH ĐỨC CƯỜNG

TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở HUYỆN ĐIỆN BIÊN,
TỈNH ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH TÔN GIÁO HỌC

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH ĐỨC CƯỜNG

TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở HUYỆN ĐIỆN BIÊN,
TỈNH ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY

Ngành: Tôn giáo học
Mã số: 8229009

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM THANH HẰNG

Hà Nội, năm 2019



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO VÀ TÔN GIÁO
Ở HUYỆN ĐIỆN BIỆN, TỈNH ĐIỆN BIÊN............................................................... 11
1.1. Một số vấn đề lý luận về công tác quản lý Nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo................................................................................................................ 11
1.2. Tôn giáo ở huyện Điện Biên................................................................................. 20
Chương 2: CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG TÔN GIÁO Ở HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN –
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA.................................................... 34
2.1. Thực trạng công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo ở huyện Điện Biên..................................................................................................... 34
2.2. Bài học kinh nghiệm và những vấn đề...........đặt ra................................53
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở HUYỆN ĐIỆN BIÊN,
TỈNH ĐIỆN BIÊN........................................................................................................................ 61
3.1. Phương hướng.............................................................................................................. 61
3.2. Giải pháp......................................................................................................................... 66
3.3. Kiến nghị......................................................................................................................... 71
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 80

iii


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
QLNN: Quản lý nhà nước UBND: Ủy ban nhân dân

Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng và
có ý nghĩa quyết định sự thành bại của công tác tôn giáo trong tình hình mới. Các
Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về công tác tôn giáo đều nhấn mạnh đến vai trò của
công tác này.
Điện Biên là một tỉnh thuộc miền Bắc nước ta, là một tỉnh Tây Bắc cách Hà
Nội 504km về phía Tây. Điện Biên là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2
quốc gia Lào và Trung Quốc dài hơn 400km, với 33 dân tộc sinh sống. Người theo
tôn giáo chủ yếu là Phật giáo, Công giáo và Tin Lành. Huyện Điện Biên nằm ở phía
Tây Nam tỉnh Điện Biên, phía Bắc giáp huyện Mường Lay, phía Tây và Nam giáp
Lào, phía Đông giáp huyện Điện Biên Đông, có cửa khẩu Tây Trang ngăn cách với

1


Lào, phân chia hành chính 25 xã. Đây là một trong những huyện lớn có vai trò quan trọng
của tỉnh ệĐin Biên.
Trong những năm qua, tình hình tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Điện
Biên nói chung và huyện Điện Biên nói riêng tương đối ổn định, sinh hoạt tôn giáo
và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra đúng với chủ trương, chính sách tôn giáo
của Đảng và Nhà nước. Đại bộ phận chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo
trong tỉnh an tâm, phấn khởi, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng.Về thành
tựu phát triển kinh tế - xã hội; huyện Điện Biên đã tích cực tham gia phát triển kinh
tế - xã hội, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tuy nhiên,
trên địa bàn huyện Điện Biên vẫn nổi lên các vấn đề liên quan đến tôn giáo theo
hướng tiêu cực như lợi dụng tôn giáo nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc,....
Huyện Điện Biên cũng có lượng người dân tộc theo tôn giáo và công tác QLNN đối
với tôn giáo còn nhiều vấn đề đáng lưu tâm, Đặc biệt, trong ốbi cảnh tình hình
chung của tỉnh Điện Biên đã xảy ra một số ụvviệc bất ổn liên quan ựtrc tiếp đến vấn
đề tôn giáo nhưấnv đề Tin Lành trong người Mông, sự vụ Mường ….Nhé,Dó
đó, vấn đề quản lý tôn giáo đã và đang trở thành một trong những nhiệm vụ quan

“Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý– thưluậnc tiễn” của GS.TS
Đỗ Quang Hưng năm 2008. Đây là công trình nghiên cứu có tính tổng hợp và toàn diện về
quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo trong suốt
chiều dài lịch sử cách mạng, từng bước hoàn thiện chính sách giáo ở Việt Nam. Cuốn sách là
tài liệu tham khảo rất cần thiết phục vụ cho các nghiên cứu và quản lý về công tác tôn giáo ở
nước ta hiện nay.
“Mác-Ăngghen bàn về tôn giáo” của PGS. TS Nguyễn Đức Sự chủ biên (bổ
sung năm xuất bản). Tác giả nhận định, về phương diện tôn giáo, một hình thái ý
thức tư tưởng đặc biệt, một tồn tại xã hội đa dạng, phong phú và phức tạp vốn là đô
tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như triết học, xã hội học, tôn giáo
học,… Trong cuộc đời sự nghiệp của Mác, Ăngghen không có nhiều điều kiện
nghiên cứu về tôn giáo nhưng trong một số tác phẩm của mình có những luận đ
các ông đã đề cập đến vấn đề tôn giáo đến nay vẫn được coi là những quan điểm
tính cơ bản về phương pháp luận trong lĩnh vực nghiên cứu, nhìncácnhậhiện
tượng tôn giáo. Có thể kể đến là luận điểm về bản chất và nguồn gốc của tôn
tiến trình phát triển tôn giáo, lịchử,vais trò xã hội của tôn giáo cũng như vấn đề

3


con người, các thể chế xã hội vớigáo,tôn… luôn có tính thời sự và sống động trong thực
tiễn của nhân loại. Tácả khgiẳng định đây là những vấn đề có tính vận
dụng trong thực tiễn, là ngọn đèn pha để từ đó đóng góp nhiều mặt trong đó có c tác quản lý
tônáogi .
“Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam” của GS. Đặng Nghiêm
Vạn (bổ sung năm xuất bản). Ngoài việc nhắc đến và làm rõ những vấn đề đã bàn trong
cuộc trao đổi năm 1997 về vấn đề tôn giáoủ củanghĩach Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, cuốn sách còn từ góc độ kinh tế thử lý giải một số tượng tôn giáo, tín
ngưỡng ở Việt Nam; làm rõ hơnự tônvềthờs của người Công giáo Việt Nam, ềvPhật pháp; bàn
về tôn giáo và mê tín. Đốicôngvớitác quản lý

các chính sách tôn giáo cụ thể, bao quát từ việc hoàn thiện mô hình nhà nước thế tục
và luật pháp tôn giáo, điều chỉnh mô hình và thay đổi phương thức QLNN đối với
tôn giáo.
“Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về tôn giáo và
Công giáo – những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” của PGS,TS
Hoàng Minh Đô và PGS, TS Đỗ Lan Hiền, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2015 đã
khái quát một số nội dung cơ bản: Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin về tôn
giáo và Công giáo; Quan điểm của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn
giáo và Công giáo; Thực trạng việc thực hiện chính sách pháp luật về tôn giáo và
Công giáo ở Việt Nam; Kinh nghiệm của một số nước: Pháp, Hoa Kỳ, Liên xô
(trước đây), Trung Quốc trong việc thực hiện chính sách đối với Công giáo và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam.
“Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác – Lênin đến thực tiễn Việt Nam” của
PGS, TS Ngô Hữu Thảo, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, năm 2012 đã phân
tích quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin về công tác tôn giáo như: nhận thức về
công tác tôn giáo của hệ thống chính trị, nguồn gốc tôn giáo, vai trò tôn giáo và
những yêu cầu đối với người cộng sản về phương pháp nhìn nhận đúng đắn đối với
tôn giáo.
Luận án tiến “sĩQuảnlý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975n đê nay” của Bùi
Hữu Dượcnăm 2014. Luận án nêu nên cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về tôn
giáo ở Việt Nam. Đáng giá, phân tích về quá trình, kết

5


quảnlý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ 1975 đến nay, từ đó đưa ra khuyế nghị, dự báo xu
hướng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt N trong thời gian tới.
Luận văn tốt nghiệp đại học chính trị “Công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” của Nguyễn Tiến Dũng năm 2012.
Luận văn khái quát một số vấn đề chung về QLNN đối với hoạt động tôn giáo, phân

Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng
của Việt Nam: 25 năm nhìn lại” của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb
Lý luận chính trị, Hà Nội năm 2016. Công trình gồm các bài nghiên cứu về cơ sở và
thực tiễn của đường lối, quan điểm đổi mới về tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng Cộng
sảnViệt Nam từ năm 1990 đến nay; đánh giá hiệu quả của chính sách tôn giáo, tín
ngưỡng trong thời kỳ đổi mới đối với đời sống xã hội nói chung và đời sống tôn
giáo ở Việt Nam nói riêng; cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện
chính sách, pháp luật về tín ngưỡng và tôn giáo trong thời gian tới.
Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam trong bối cảnh
mới” của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội,
năm 2018. Công trình gồm các bài nghiên cứu tập trung phân tích những xu hướng
và động thái mới trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng trên thế giới hiện nay dưới tác
động mạnh mẽ của hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Từ đó
nêu bật sự tác động của những xu hướng và động thái mới trong đời sống tôn giáo,
tín ngưỡng trên thế giới, sự hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ tư
nói riêng đến đời sống tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay; và đưa ra những
khuyến nghị, giải pháp có tính khả thi cho việc tiếp tục hoàn thiện chính sách và
pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng cũng như nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo của
Việt Nam trong thời gian tới.
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về tôn giáo ở tỉnh Điện Biên.
Luận án tiến sĩ “Vấn đề đạo Tin Lành trong đồng bào dân tộc Hmông và Dao
ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” củaNguyễn Khắc Đức năm 2011 nghiên
cứu sự xâm nhập, phát triển của đạo Tin Lành tỏng dân tộc Hmông và Dao ở các
tỉnh miền núi phía Bắc (trong đó có Điện Biên), từ đó đề xuất kiến nghị nhằm đưa

7


đạo Tin Lành hoạt động theo hướng ổn định, tuân thủ pháp luật, đảm bảo tính hiệu
lực của chính sách đối với tôn giáo này trên địa bàn nghiên cứu.


quản lý nhà nước đối với tôn giáo và từ đó đề ra các giải pháp để giải quyết các khó
khăn trong quản lý tôn giáo. Các công trình này sẽ là nguồn tài liệu để tham khảo và
học tập cho luận văn này. Trên địa bàn Điện Biên, vì nhiều lý do khác nhau nên hiện
nay vấn đề nâng cao hiệu quả công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo vẫn chưa
có nghiên cứu cụ thể. Vì vậy, hướng đề tài mà tôi lựa chọn hy vọng sẽ làm sáng tỏ
hơn về vấn đề QLNN đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh
Điện Biên hiện nay.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu về tình hình, đặc điểm tôn giáo ở huyện Điện Biên, tỉnh
Điện Biên; phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong công tác QLNN đối
với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Điện Biên, từ đó đề xuất một số giải pháp
và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo
trên địa bàn huyện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề chung về công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo
và tôn giáo ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đánh giá thực trạng, rút ra bài học kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra trong
công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đề xuất phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu là tôn giáo và công tác QLNN đối với hoạt động tôn
giáo ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
* Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu tôn giáo và công tác QLNN đối
với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu từ năm 2008 đến nay.

10


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO VÀ TÔN GIÁO Ở HUYỆN ĐIỆN BIỆN,
TỈNH ĐIỆN BIÊN
1.1. Một số vấn đề lý luận về công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo
1.1.1. Khái niệm “công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo”
Công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo là một vấn đề quan trọng luôn
được ưu tiên trong hoạt động quản lý của nhà nước. Để hiểu rõ hơn về QLNN đối
với hoạt động tôn giáo, trước hết ta cần hiểu về các khái niệm.
 “Quản lý”: Nhiều tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý
dựa theo mục tiêu và góc độ nghiên cứu, tuy nhiên hiểu một cách đơn giản, quản lý
là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý thông qua các công cụ
nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
 “Quản lý nhà nước" là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính
quyền lực của nhà nước để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt
của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ
nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội. Theo nghĩa rộng, QLNN gồm 3
chức năng cơ bản là Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp do các cơ quan Nhà nước
được phân công thực hiện. Theo nghĩa hẹp, QLNN là dạng quản lý xã hội mang
quyền lực Nhà nước để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo
quy định của pháp luật.


“Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước

ngoài vào từ cuối thế kỷ XIX. Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo

 “Công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo”: Từ các khái
niệm trên, khái niệm về công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo cũng được hiểu
theo hai nghĩa. Nghĩa rộng: là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền Lập pháp,
Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp luật để tác
động, điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ
chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể của
chủ thể quản lý. Nghĩa hẹp: là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước; là

12


chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức
thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh các quá
trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn
ra theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, đó là sự quản lý của nhà nước đối
với hoạt động của các tín đồ, chức sắc trong việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo
luật, lễ nghi tôn giáo; quản lý nơi thờ tự, đồ dùng việc đạo, cơ sở vật chất xã hội của
các tôn giáo.
1.1.2. Khách thể và chủ thể của công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo
Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình tác động, điều
hành, điều chỉnh của các cơ quan hành pháp để các hoạt động tôn giáo diễn ra theo
đúng quy định của pháp luật. Có thể thấy, QLNN đối với hoạt động tôn giáo bao
gồm các yếu tố: đối tượng quản lý (khách thể quản lý), chủ thể quản lý.
Trước hết, đối tượng (khách thể) của QLNN đối với hoạt động tôn giáo bao
gồm các tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc và các cơ sở vật chất phục
vụ hoạt động tôn giáo như cơ sở tôn giáo, cơ sở vật chất khác và các đồ dùng phục
vụ hoạt động tôn giáo.
Tổ chức tôn giáo, tại Khoản 12 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo số
02/2016/QH14: “Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu

vị phẩm quyền (tùy theo từng tôn giáo). Chức sắc tôn giáo có uy quyền khác nhau
tùy theo phẩm trật, năng lực hành đạo. Mặt đại diện, ở những mức độ khác nhau cho
tổ chức giáo hội trong mối quan hệ đối nội và trong quan hệ đạo – xã hội. Ba mặt
nói trên thống nhất trong con người chức sắc tôn giáo nhưng không đồng nhất; mặt
công dân là số một, các mặt khác là số hai, đặc biệt là mặt hành đạo. Ở Việt Nam,
quyền và nghĩa vụ của chức sắc tôn giáo được quy định trong Luật tín ngưỡng, tôn
giáo mới nhất. Trong quan hệ với tín đồ họ là những người nắm bắt tâm tư, nguyện
vọng và có uy tín trong tín đồ tôn giáo. Trong quan hệ với Nhà nước và các tổ chức
khác đặc biệt là tổ chức tôn giáo nước ngoài, họ là người đại diện cho tổ chức tôn
giáo để giải quyết các công việc có liên quan đến tôn giáo.
“Cơ sở tôn giáo” tại Khoản 14 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo số
02/2016/QH14 gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh nhất, thánh đường, trụ sở của
tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo. Cơ sở tôn giáo có sự

14


thống nhất giữa bốn mặt: vật chất, tôn nghiêm, trụ sở và sinh hoạt cộng đồng. Mặt
vật chất, đó là những địa điểm được xây dựng bằng vật liệu khác nhau, theo những
mô hình kiến trúc khác nhau, thể hiện niềm tin của từng tôn giáo. Mặt tôn nghiêm,
là nơi bái vọng, ngưỡng mộ, biểu hiện tình cảm và đức tin tôn giáo, nơi diễn ra
những nghi lễ tôn giáo quan trọng. Mặt trụ sở, là nơi diễn ra hoạt động hành chính
của đạo. Mặt sinh hoạt cộng đồng, là nơi diễn ra các lễ hội tôn giáo, nơi sinh hoạt
các hội đoàn tôn giáo…Trong các mặt trên, tôn nghiêm là mặt chi phối.
Cơ sở vật chất khác như khuôn viên (tạo nên cảnh quan kiến trúc văn hoá
môi trường), ruộng, đất, nhà chung, trường học, cơ sở từ thiện,... những cơ sở vật
chất kỹ thuật này có hai mặt cơ bản. Một mặt là tài sản của giáo hội, là nơi diễn ra
các hoạt động của tổ chức tôn giáo, của giáo hội cơ sở... Một mặt được Nhà nước
bảo hộ bằng cách cấp các văn bản mang giá trị pháp lý, được giáo hội giao trách
nhiệm quản lý hay giao quyền sử dụng các cơ sở thuộc quyền sở hữu của giáo hội.

Phòng Tôn giáo hoặc phòng có chức năng quản lý công tác tôn giáo là cơ
quan chuyên môn, tham mưu, giúp UBND huyện QLNN về lĩnh vực công tác tôn
giáo trên địa bàn huyện, thành phố. Phòng Tôn giáo hoặc phòng có chức năng quản
lý công tác tôn giáo chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của
Uỷ ban nhân dân huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn
nghiệp vụ của Ban Tôn giáo tỉnh hoặc Sở có chức năng quản lý công tác tôn giáo.
Ở cấp độ của một luận văn Thạc sỹ, luận văn xin tập trung nghiên cứu
QLNN đối với hoạt động tôn giáo của cơ quan quản lý tôn giáo cấp huyện; cụ thể là
Phòng tôn giáo huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
1.1.3. Mục tiêu, nguyên tắc và nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo
 Mục tiêu QLNN về hoạt động tôn giáo
Thứ nhất, QLNN đối với hoạt động tôn giáo trước hết phải bảo đảm được
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo
được diễn ra bình thường theo đúng quy định của pháp luật Nhà nước cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Quyền tự do tín ngưỡng là một trong những quyền cơ bản
của con người. Tại Điều 24, Chương II, Hiến pháp 2013 quy định: "1. Mọi người có
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn
giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín

16


ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật".
Thứ hai, QLNN đối với hoạt động tôn giáo phải phát huy được những mặt
tích cực của tôn giáo như tính hướng thiện, từ bi; khắc phục được những hạn chế,
tiêu cực của tôn giáo đối với sự phát triển của xã hội. Nhà nước tạo điều kiện cho tổ
chức, cá nhân tôn giáo tham gia cùng Nhà nước giải quyết những vấn đề của xã hội.
Tuy nhiên, trong QLNN về hoạt động tôn giáo, cần phân biệt rõ giữa hoạt động tôn

nhu cầu tinh thần của con người, không ai có quyền áp đặt hoặc tước bỏ nhu cầu đó.
Tuy nhiên quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn phải được đặt trong khuôn khổ của
luật pháp, của sự quản lý của nhà nước nhằm đảm bảo không có bất kỳ cá nhân
hoặc tổ chức nào lợi dụng quyền này để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất
nước, kích động bạo lực, chia rẽ dân tộc, gây rối trật tự công cộng…
Ba là, nguyên tắc về tính thống nhất giữa sinh hoạt tôn giáo và bảo tồn giá trị
văn hoá. Niềm tin tôn giáo được thể hiện thông qua sinh hoạt vật chất của con
người: lễ nghi, trang phục…; được thể hiện thông qua các công trình kiến trúc, kinh
sách…, đồng thời đó cũng là sản phẩm của văn hóa. Trải qua quá trình phát triển,
các giá trị này dần kết hợp, hòa quyện với các truyền thống dân tộc. Sự tồn tại của
tôn giáo là động lực cho sự phát triển và bảo tồn các giá trị văn hóa. Tuy nhiên, bên
cạnh những giá trị văn hoá đích thực vẫn còn những hiện tượng phản văn hoá trong
các tôn giáo, những hủ tục, mê tín dị đoan… Công tác quản lý của nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo phải vừa giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, vừa loại bỏ những hiện
tượng phản văn hoá trong sinh hoạt tôn giáo.
Bốn là, đảm bảo sự thống nhất, hài hoà lợi ích cá nhân, cộng đồng và lợi ích
quốc gia, xã hội. Đối với tín đồ các tôn giáo, nhu cầu tôn giáo của họ được nhà nước
coi trọng và tạo mọi điều kiện để họ thực hiện những hành vi tôn giáo của mình.
Tuy nhiên,m đứng trước nhiều nhu cầu khác đòi hỏi tín đồ phải giải quyết hài hoà,
thoả đáng giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích chung của xã hội.
Năm là, những hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín
đồ phải được đảm bảo. Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích của tổ quốc và của nhân
dân được khuyến khích. Mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân,

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status