Vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong giáo dục pháp luật cho thanh niên công nhân – qua thực tiễn tại tỉnh Bình Dương - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ HẢI LONG

VAI TRÒ CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ
MINH
TRONG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN
CÔNG NHÂN QUA THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ HẢI LONG

VAI TRÒ CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ
MINH
TRONG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN
CÔNG NHÂN QUA THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƢƠNG
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 8380101.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ


Khái quát về tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ............7

1.2.

Những khái niệm cơ bản về giáo dục pháp luật .....................................10

1.2.1.

Khái niệm về giáo dục pháp luật .................................................................10

1.2.2.

Đặc điểm giáo dục pháp luật .......................................................................13

1.2.3.

Một số yếu tố tác động đến giáo dục pháp luật ...........................................28

1.3.

Giáo dục pháp luật của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh đối với thanh niên công nhân ..................................................32

1.3.1.

Khái niệm giáo dục pháp luật của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh đối với thanh niên công nhân ................................................32

1.3.2.


1.4.1.
1.4.2.
1.4.3.
1.4.4.

Đoàn thanh niên là chủ thể không thể thiếu trong quá trình hiện thực hóa
các mục tiêu của hoạt động giáo dục pháp luật đối với thanh niên công nhân ....37
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đóng vai trò trực tiếp thực
hiện công tác giáo dục pháp luật cho thanh niên công nhân .......................42
Đoàn thanh niên đóng vai trò phối hợp với các chủ thể khác trong việc
giáo dục pháp luật cho thanh niên công nhân..............................................42
Đoàn thanh niên đóng vai trò kết nối trong quá trình giáo dục pháp
luật cho thanh niên công nhân .....................................................................43

Các yếu tố tác động đến giáo dục pháp luật của tổ chức Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đối với thanh niên công nhân ......44
Tiểu kết chƣơng 1 ....................................................................................................47
1.5.

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC ĐOÀN THANH NIÊN
CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TRONG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
THANH NIÊN CÔNG NHÂN - NGHIÊN CỨU TẬP TRUNG TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƢƠNG ..............................................................48
Khái quát về tỉnh Bình Dƣơng và tổ chức Đoàn Thanh niên trong
công tác giáo dục pháp luật cho thanh niên công nhân trên địa bàn
tỉnh Bình Dƣơng .........................................................................................48
2.2.
Thực trạng vai trò của đoàn thanh niên trên phạm vi cả nƣớc và
trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng trong công tác giáo dục pháp luật
cho thanh niên công nhân .........................................................................51

Minh đối với thanh niên công nhân phải đảm bảo tính thƣờng xuyên,
liên tục, lấy thanh niên công nhân làm trung tâm........................................68

3.1.2.

Giáo dục pháp luật của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
đối với thanh niên công nhân phải chú trọng đến việc xây dựng, hình
thành ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật của thanh niên công nhân .............70

3.1.3.

Giáo dục pháp luật của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh đối với thanh niên công nhân là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi .......................71

3.1.4.

Giáo dục pháp luật của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh đối với thanh niên công nhân phải gắn với giáo dục chính trị, tƣ
tƣởng, đạo đức .............................................................................................71

3.2.

Giải pháp cơ bản về đảm bảo vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh trong giáo dục pháp luật cho thanh niên công
nhân trên phạm vi cả nƣớc và trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng ................... 73

Những giải pháp chung về đảm bảo vai trò của tổ chức Đoàn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong giáo dục pháp luật cho thanh niên
công nhân trên phạm vi cả nƣớc ..................................................................73

Đây là trƣờng học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, tạo môi trƣờng đƣa thanh niên
vào các hoạt động học tập, rèn luyện và phát triển nhân cách và năng lực của ngƣời
lao động mới phù hợp với xã hội hiện đại.
Tổ chức Đoàn có vai trò, trách nhiệm to lớn trong công tác giáo dục đạo
đức, GDPL cho đoàn viên, thanh niên. Trong khu công nghiệp nói riêng, vai trò
của các tổ chức đoàn các cấp về GDPL cho đoàn viên thanh niên lại càng có tầm
quan trọng đặc biệt.
Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt
động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật của nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam; tích cực phối hợp với các cơ quan Nhà nƣớc, các đoàn thể và tổ chức xã
hội chăm lo giáo dục, đào tạo và bảo vệ thanh thiếu nhi và tham gia các hoạt động
quản lý nhà nƣớc. Trong quá trình hoạt động của mình, tổ chức Đoàn cả nƣớc nói
chung và tổ chức Đoàn ở các địa phƣơng nói riêng luôn coi nhiệm vụ tuyên truyền,
giáo dục và nâng cao nhận thức về mọi mặt và đặc biệt là nâng cao nhận thức về
GDPL cho thanh niên là nhiệm vụ quan trọng, thƣờng xuyên của các cấp bộ Đoàn
và xuyên suốt trong công tác xây dựng, tổ chức Đoàn vững mạnh. Vấn đề này đã
đƣợc khẳng định trong nhiều nghị quyết, chủ trƣơng công tác, chỉ thị và các kế
hoạch của tổ chức Đoàn các cấp.
Bình Dƣơng là tỉnh thuộc khu vực miền Đông Nam bộ, cơ cấu hành chính có
01 thành phố thuộc tỉnh, 04 thị xã và 04 huyện, với 91 xã, phƣờng, thị trấn; diện
tích tự nhiên là 2.695,22 km2, dân số tính đến tháng 5/2016 là 1.939.970 ngƣời,
trong đó thanh niên trong độ tuổi từ 16-30 là 826.089 ngƣời, chiếm 41,61% dân số
(nữ thanh niên là 415.759 ngƣời, chiếm 58,39%). Trong 5 năm qua kinh tế của tỉnh

1


đã đạt đƣợc nhiều thành tựu khả quan, tốc độ GDP tăng bình quân là 13%/năm. Có
sự chuyển dịch tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp, đến năm
2015 cơ cấu kinh tế của tỉnh đƣợc chuyển dịch theo định hƣớng công nghiệp, dịch

chăm lo của tỉnh. Hiện tại, công nhân đang làm việc tại Bình Dƣơng đa phần sống
trong các khu nhà trọ do ngƣời dân tự xây dựng, đời sống còn gặp nhiều khó khăn cả
về vật chất, tinh thần, ít đƣợc tiếp cận với các thông tin chính thống và các chính sách
an sinh xã hội của tỉnh, trình độ và tay nghề thấp, tác phong công nghiệp yếu, thiếu
kỹ năng sống - kỹ năng thực hành xã hội, cơ sở vật chất, hạ tầng xã hội phục vụ cho
công nhân chƣa đáp ứng yêu cầu. Bên cạnh đó, tình trạng TNCN vi phạm luật giao
thông hoặc bị lôi kéo, xúi giục, kích động gây mất an ninh trật tự, thực hiện các hành
vi vi phạm pháp luật còn nhiều; một bộ phận không nhỏ TNCN thiếu và yếu về kiến
thức, tin học, ngoại ngữ; con em của TNCN chƣa có điều kiện đƣợc học tập, chăm lo
tốt nhất… điều này cũng gây ảnh hƣởng không nhỏ đến nguồn lao động chất lƣợng
cao đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh Bình Dƣơng trong tƣơng lai.
Trong những năm qua, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bình Dƣơng luôn
đƣợc đánh giá là tổ chức Đoàn có chất lƣợng phong trào thƣờng xuyên đứng trong
nhóm 5 tỉnh, thành dẫn đầu cả nƣớc, với nhiều mô hình, giải pháp sáng tạo trong
triển khai phong trào và giáo dục đoàn viên, thanh niên. Với vai trò là trƣờng học xã
hội chủ nghĩa của thanh niên, có thể xác định chức năng giáo dục của Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, trong đó công tác GDPL là một trong những nội dung đƣợc đặt lên
hàng đầu trong việc thiết kế các chƣơng trình, phong trào của tổ chức Đoàn.
Là một cán bộ Đoàn từng đƣợc Trung ƣơng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cử đi
công tác tại cơ sở, gắn bó với đoàn viên, thanh niên tỉnh Bình Dƣơng trong thời
gian gần 2 năm với nhiệm vụ là Phó Bí thƣ Tỉnh đoàn Bình Dƣơng, tôi nhận thấy
việc tập trung cho công tác GDPL, nâng cao nhận thức pháp luật và ý thức chấp
hành pháp luật cho TNCN hết sức quan trọng, đặc biệt, qua vụ việc Trung Quốc hạ
đặt trái phép dàn khoan Hải Dƣơng 981 trên vùng biển của nƣớc ta năm 2014 và các
vụ việc liên quan đến vấn đề môi trƣờng tại Công ty Formosa, Hà Tĩnh, sự việc
Quốc hội khóa XIV dự kiến thông qua dự thảo Luật Đơn vị hành chính – kinh tế
đặc biệt, việc GDPL cũng nhƣ nắm bắt tình hình TNCN của tỉnh Bình Dƣơng có
thời điểm chƣa thực sự tốt dẫn tới những sự việc đáng tiếc, gây ảnh hƣởng đến an
ninh chính trị, sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói riêng và cả nƣớc nói chung.


dựng ý thức pháp luật cho thanh niên ở Việt Nam hiện nay”.
Các luận văn trên có đề cập đến công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến

4


pháp luật trong một số đối tƣợng, lĩnh vực, địa bàn, chƣa có đề tài nào tập trung vào
nội dung nghiên cứu về GDPL cho TNCN, là một mảng mới và chƣa có nhiều chất
liệu thực tiễn, giải pháp đồng bộ trong cả nƣớc.
3. Mục đích của luận văn
Luận văn có mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của
tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong GDPL cho TNCN. Nghiên cứu thực tiễn
GDPL do các tổ chức đoàn ở tỉnh Bình Dƣơng đối với TNCN. Từ đó đề xuất những
giải pháp chủ yếu về nâng cao chất lƣợng, hiệu quả GDPL của tổ chức đoàn cho
TNCN ở cả nƣớc nói chung và ở tỉnh Bình dƣơng nói riêng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn
- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài luận văn là vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh trong GDPL cho TNCN - qua thực tiễn tỉnh Bình Dƣơng.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn:
Phạm vi về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh trong GDPL cho TNCN.
Phạm vi về không gian: thực tiễn về GDPL cho TNCN của tổ chức Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bình Dƣơng.
Phạm vi về thời gian: từ năm 2015 đến năm 2018.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích, đối tƣợng của đề tài, luận văn có những nhiệm vụ
chính sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của tổ chức đoàn trong
giáo dục, phổ biến pháp luật cho TNCN.
- Nghiên cứu các đặc điểm cơ bản của giáo dục, phổ biến pháp luật cho


6


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC
ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TRONG
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN CÔNG NHÂN
1.1. Khái quát về tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
- Khái niệm về tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Trong hệ thống chính trị của nƣớc ta, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là một tổ
chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng
lập, lãnh đạo và rèn luyện. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng
Cộng sản Việt Nam, là lực lƣợng xung kích cách mạng, trƣờng học xã hội chủ nghĩa
của thanh niên, đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của tuổi
trẻ; phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; là lực lƣợng nòng cốt chính
trị trong phong trào thanh niên và trong các tổ chức thanh niên Việt Nam [36].
Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, tự nguyện phấn đấu vì sự nghiệp
xây dựng nƣớc Việt Nam độc lập, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo
định hƣớng chủ nghĩa xã hội. Đƣợc xây dựng, rèn luyện và trƣởng thành qua các
thời kỳ đấu tranh cách mạng, tổ chức Đoàn đã tập hợp đông đảo thanh niên phát
huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nƣớc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [36].
Đoàn đẩy mạnh tổ chức các hoạt động tạo môi trƣờng bồi dƣỡng, rèn luyện
kỹ năng, nghiệp vụ và phát huy thế mạnh của thanh niên, thông qua đó tuyên
truyền, giáo dục cho thanh niên các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nƣớc, lòng yêu nƣớc, tự hào dân tộc, ý chí vƣơn lên, tạo điều
kiện cho thanh niên đảm nhận các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững
quốc phòng, an ninh; đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp, tích cực hƣớng
dẫn, hỗ trợ thanh niên lập thân, lập nghiệp bằng các hình thức thiết thực, hiệu quả.

lƣợng xã hội to lớn của hiện tại và là chủ thể sáng tạo của tƣơng lai, họ không chỉ là
một lực lƣợng quan trọng của xã hội, mà họ là ngày mai của xã hội. Vị trí, vai trò
của thanh niên Việt Nam đƣợc xác định từ chính đặc điểm lứa tuổi thanh niên, từ
tƣơng quan lực lƣợng lao động phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc và từ trong thực
tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam.

8


Hiện nay, thanh niên Việt Nam (16 - 30 tuổi) có trên 23,6 triệu ngƣời, chiếm
25,2% dân số cả nƣớc [37]. Bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nƣớc và hội nhập quốc tế, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tƣ nhân mang đến cả thời cơ và thách thức
đối với thanh niên. Những năm tới, dân số thanh niên tiếp tục có xu hƣớng giảm dần.
Thanh niên ngày càng có điều kiện, cơ hội học tập, tiếp cận với khoa học công nghệ
nên tỷ lệ thanh niên đƣợc đào tạo chuyên môn tăng. Lao động trẻ trong khu vực công
nghiệp và dịch vụ, làm việc trong các doanh nghiệp tƣ nhân, doanh nghiệp có vốn
đầu tƣ nƣớc ngoài ngày càng tăng, trong nông nghiệp ngày càng giảm. Tuy nhiên,
tình hình vi phạm pháp luật, mắc tệ nạn xã hội trong thanh niên diễn biến phức tạp.
Kỹ năng nhiều mặt của thanh niên còn hạn chế, chƣa đáp ứng yêu cầu hội nhập. Đời
sống văn hóa tinh thần của phần lớn thanh niên, nhất là TNCN chƣa đƣợc đáp ứng
đầy đủ. Một bộ phận thanh niên còn dao động, giảm sút niềm tin, phai nhạt lý
tƣởng, xa rời truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; sống thực dụng, lƣời học
tập, lao động. Bối cảnh đó, đòi hỏi Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phải thƣờng xuyên cổ
vũ, động viên, khuyến khích và phát huy lớp thanh niên tiên tiến; tập trung chăm lo,
giáo dục nhóm thanh niên yếu thế vƣợt qua khó khăn, vƣơn lên trong cuộc sống.
- Khái niệm về thanh niên công nhân
Tại Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa
X, Đảng ta đã khẳng định “Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lƣợng xã hội to
lớn, đang phát triển, bao gồm những ngƣời lao động chân tay và trí óc, làm công

mới hoặc khi cần thiết.
Các quan niệm trên đều đánh giá chƣa đầy đủ về vai trò của GDPL, chƣa
thấy đƣợc vai trò của GDPL trong đời sống xã hội, trong công cuộc xây dựng, hội
nhập và phát triển hiện nay. Để xây dựng khái niệm GDPL trƣớc hết chúng ta phải
đi từ khái niệm giáo dục.
Theo Từ điển Tiếng Việt: "Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có
hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tƣợng nào đó làm cho đối
tƣợng ấy dần dần có những phẩm chất và năng lực nhƣ yêu cầu đề ra" [45].
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống qui phạm pháp luật thể ý chí của nhân
dân, đƣợc Nhà nƣớc ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết
phục, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.

10


Theo GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế:
Xét về bản chất, giáo dục pháp luật là hoạt động có tổ chức, có
định hƣớng, có hệ thống, có kế hoạch do các cơ quan, tổ chức, cộng đồng
và cá nhân (chủ thể giáo dục) thực hiện nhằm mục đích xây dựng ý thức
pháp luật, văn hóa pháp luật ở các cá nhân với nội dung trang bị kiến
thức pháp luật cần thiết, xây dựng thái độ, tình cảm tôn trọng, hiểu biết
giá trị, ý nghĩa của pháp luật, các quyền, nghĩa vụ pháp luật, thói quen
tuân thủ và sử dụng pháp luật [18, tr. 453].
Giáo dục pháp luật là cầu nối để đƣa pháp luật vào đời sống nhân dân, làm
cho nhân dân hiểu đƣợc nội dung, ý nghĩa, mục đích của những qui phạm pháp luật
hiện hành, từ đó hình thành tình cảm, niềm tin và thói quen tự giác thực hiện
nghiêm chỉnh pháp luật. GDPL có vị trí, vai trò rất quan trọng, là một khâu không
thể thiếu trong quá trình tổ chức và thực hiện pháp luật.
Khái niệm GDPL thƣờng đƣợc hiểu ở hai cấp độ khác nhau: "Theo nghĩa rộng,
GDPL là quá trình hình thành ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của các thành

- Xét trên các yếu tố chủ thể, khách thể, đối tƣợng, hình thức, phƣơng pháp
của GDPL cũng có những nét riêng, nhƣ xét về đối tƣợng GDPL là tất cả quần
chúng nhân dân (mọi công dân), còn hình thức giáo dục khác sẽ chỉ là một đối
tƣợng cụ thể nào đó.
Từ những phân tích trên ta có thể đƣa ra khái niệm GDPL nhƣ sau: Giáo dục
pháp luật là hoạt động có chủ định, có định hướng, có tổ chức của cơ quan, tổ chức
và cá nhân để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm cho đối tượng giáo
dục nhằm hình thành ở họ ý thức pháp luật, niềm tin pháp luật, thói quen chấp hành
và sử dụng pháp luật một cách tự giác, tích cực, chủ động.
GDPL có mục đích là hoạt động nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói
quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật, tạo cho công dân tự giác tuân thủ
thi hành pháp luật, có ý thức pháp luật cao, góp phần tăng cƣờng hiệu quả của pháp
luật. Mục đích của GDPL là yếu tố hàng đầu tiên và quan trọng nhất để phân biệt
GDPL với các dạng hoạt động khác. GDPL góp phần hình thành và nâng cao văn
hóa pháp lý của từng cá nhân và toàn xã hội. Mặt khác GDPL nhằm hình thành, làm
sâu sắc và từng bƣớc mở rộng hệ thống tri thức pháp luật (mục đích nhận); hình
thành tình cảm và lòng tin với pháp luật (mục đích cảm xúc); hình thành động cơ,
hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực cho công dân(mục đích hành vi).

12


GDPL có chủ thể, khách thể, đối tƣợng, hình thức và phƣơng pháp giáo dục
với những đặc điểm mang tính khác biệt. Đối tƣợng GDPL có vai trò chính trong
quá trình tác động qua lại giữa chủ thể giáo dục và đối tƣợng giáo dục.So với các
đối tƣợng giáo dục khác thì GDPL là quá trình tác động thƣờng xuyên, liên tục, lâu
dài hơn chứ không phải là sự tác động một lần của chủ thể lên đối tƣợng giáo dục.
GDPL với ý nghĩa là một dạng giáo dục đặc thù, có vị trí độc lập tƣơng
đối, đƣợc hiểu là hoạt động cung cấp tri thức pháp luật, bồi dƣỡng tình cảm, thái
độ đúng đắn với pháp luật một cách có định hƣớng, có tình cảm, có chủ định lên

Trong thời gian qua, một bộ phận cán bộ, đảng viên nhất là những ngƣời có
chức, có quyền mặc dù ở họ có tri thức pháp luật nhƣng ở họ không có tình cảm pháp
luật đúng đắn nên có hành vi vi phạm pháp luật một cách cố ý thậm chí là tội phạm, ở
họ luôn tồn tại tình cảm khinh thƣờng pháp luật, đặt mình cao hơn các quy định của
pháp luật để đạt đƣợc những lợi ích cá nhân, thậm chí là những cán bộ đang công tác
tại các cơ quan bảo vệ pháp luật lại vi phạm pháp luật hết sức nghiêm trọng.
Sự hiểu biết pháp luật, sự hình thành niềm tin vững chắc vào sự cần thiết
tuân theo các quy định của pháp luật là mục đích quan trọng của GDPL. Lòng tin
vào tính công bằng của pháp luật luật sẽ hƣớng dẫn hành vi hợp pháp của con
ngƣời. Montesquieu trong "Tinh thần và pháp luật" đã nói đến tình yêu luật pháp và
theo ông, có thể định nghĩa chính trị là tình yêu luật pháp và tình yêu tổ quốc. Tình
yêu đó đòi hỏi luôn luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.
- Giáo dục pháp luật nhằm hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự
hợp pháp, tích cực của công dân (mục đích hành vi). Mục đích này có ý nghĩa rất
quan trọng vì đây là kết quả cuối cùng của GDPL. GDPL cung cấp tri thức về pháp
luật, giáo dục tình cảm và niềm tin vào pháp luật để con ngƣời thực hiện pháp luật
một cách tự nguyện, hình thành động cơ và hành vi hợp pháp, tích cực. Những tình
cảm công bằng, bình đẳng, không khoan nhƣợng đối với các vi phạm pháp luật là
những yếu tố tâm lý, tƣ tƣởng không tách rời việc hình thành hành vi hợp pháp, tự
giác và tích cực. Nhƣ vậy nhờ vào tình cảm và niềm tin vững chắc vào pháp luật ở
con ngƣời sẽ hình thành động cơ và hành vi hợp pháp, tự giác và tích cực. Để hình
thành động cơ và hành vi hợp pháp chỉ có thể nhờ vào quá trình GDPL thƣờng
xuyên, liên tục, bằng nhiều hình thức và phƣơng tiện khác nhau để mọi ngƣời hiểu
biết một cách sâu sắc về sự cần thiết, lợi ích của các quy phạm pháp luật đối với lợi
ích của toàn xã hội cũng nhƣ lợi ích của từng thành viên trong xã hội. Biểu hiện của
tính tự giác cao độ của niềm tin nội tâm vào pháp luật đó là sự hình thành thói quen
pháp luật - kết quả ý thức pháp luật sâu sắc lặp đi lặp lại nhiều lần. Khi đã hình

15


thực hiện chức năng nhiệm vụ đƣợc giao họ cũng tiến hành GDPL nhƣ các cán bộ

16


Tòa án, Viện Kiểm sát, các cán bộ quản lý, các cán bộ công chức, viên chức…
Nhóm chủ thể này tuy không có kiến thức rộng bằng nhóm chủ thể trên nhƣng họ
lại có kiến thức pháp luật rất sâu trong lĩnh vực chuyên môn mà họ đảm nhiệm, đặc
biệt là hoạt động GDPL của họ luôn gắn với hoạt động thực tiễn nên hiệu quả giáo
dục rất cao.
+ Nhóm chủ thể không được giao nhiệm vụ GDPL nhƣng do có trách nhiệm
với cộng đồng họ cũng thực hiện hoạt động tuyên truyền, GDPL nhƣ các thành viên
của các tổ chức chính trị, tổ chức quần chúng, cá nhân công dân am hiểu pháp
luật… Nhóm chủ thể này tuy kiến thức pháp luật thƣờng không đƣợc rộng, sâu và
không đồng đều nhƣ hai nhóm chủ thể trên nhƣng họ có tinh thần trách nhiệm và
lòng nhiệt tình, đặc biệt họ thƣờng có điều kiện, hoàn cảnh sinh hoạt gắn bó với đối
tƣợng giáo dục nên rất thuận lợi cho việc GDPL. Mặc dầu vậy, do trình độ kiến
thức pháp luật còn hạn chế, phƣơng pháp tiến hành giáo dục còn đơn điệu, cứng
nhắc nên hiệu quả giáo dục chƣa cao. Trong điều kiện nƣớc ta hiện nay, khi trình độ
dân trí còn thấp, ý thức pháp luật chƣa cao, điều kiện để phổ biến GDPL còn khó
khăn thì việc GDPL của nhóm chủ thể này vẫn còn phát huy tác dụng nên Nhà nƣớc
cần có kế hoạch bồi dƣỡng phát huy hiệu quả GDPL của nhóm chủ thể này.
Trong hoạt động GDPL, việc phân nhóm chủ thể giáo dục là cần thiết vì đối
tƣợng của GDPL rất đa dạng, phong phú và ở nhiều trình độ khác nhau, nhu cầu cần
đƣợc GDPL cũng khác nhau nên việc xác định chủ thể phù hợp với đối tƣợng
GDPL sẽ góp phần nâng cao hiệu quả GDPL.
1.2.2.3. Đối tượng của giáo dục pháp luật
Đối tƣợng GDPL luôn đƣợc xem là trung tâm của mọi hoạt động GDPL, vì có
xác định đƣợc đối tƣợng GDPL thì mới đề ra đƣợc mục đích giáo dục cũng nhƣ xác
định đƣợc chủ thể giáo dục, nội dung, hình thức, phƣơng pháp giáo dục phù hợp.

1.2.2.5. Hình thức giáo dục pháp luật
Đối tƣợng của GDPL là mọi thành viên trong xã hội nhƣng mỗi loại đối
tƣợng lại có trình độ nhận thức, nhu cầu hiểu biết pháp luật khác nhau. Do đó, công
tác GDPL muốn đạt đƣợc hiệu quả cao thì phải dựa trên cơ sở, đặc điểm của từng
đối tƣợng GDPL để xây dựng và lựa chọn hình thức GDPL cho phù hợp. GDPL
nhằm hình thành tri thức pháp luật từ đó xây dựng tình cảm và niềm tin đối với
pháp luật để từ đó hình thành hành vi phù hợp với các quy định của pháp luật ở
ngƣời dân. Mục đích đó chỉ có thể đạt đƣợc khi sử dụng nhiều hình thức khác nhau.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status