ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ NGUYỆT MINH
BẢO ĐẢM TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ
THẨM
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ NGUYỆT MINH
BẢO ĐẢM TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ
THẨM
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG QUANG PHƢƠNG
Khái niệm, đặc điểm của tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự ............................................................................. 7
1.1.1. Khái niệm tranh tụng trong TTHS ....................................................... 7
1.1.2. Khái niệm tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ......... 12
1.1.3. Đặc điểm của tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự ................................................................................................ 17
1.2.
Khái niệm, nội dung của bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự .......................................................... 19
1.2.1. Khái niệm bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự ................................................................................................ 19
1.2.2. Nội dung của bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự ........................................................................................... 21
1.3.
Các điều kiện bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự ........................................................................... 29
1.3.1. Khái niệm các điều kiện bảo đảm ...................................................... 29
1.3.2. Các điều kiện cụ thể bảo đảm tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự ............................................................................. 29
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 33
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TRANH
TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG .....34
3.2.
Các giải pháp bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự ........................................................................... 86
3.2.1. Giải pháp hƣớng dẫn thi hành và tập huấn nghiệp vụ ........................ 86
3.2.2. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật .............................................. 88
3.2.3. Giải pháp nâng cao năng lực của những ngƣời THTT ...................... 89
3.2.4. Giải pháp nâng cao năng lực của luật sƣ và những ngƣời bào
chữa khác ............................................................................................ 91
3.2.5. Giải pháp phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật
cho quần chúng nhân dân ................................................................... 93
3.2.6. Giải pháp bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động xét xử và chế độ
đãi ngộ phù hợp với những ngƣời có thẩm quyền THTT .................. 94
Kết luận chƣơng 3 ......................................................................................... 96
KẾT LUẬN .................................................................................................... 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 102
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
CQĐT
: Cơ quan điều tra
: Toà án
TAND
: Toà án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
THTT
: Tiến hành tố tụng
TTHS
: Tố tụng hình sự
VKS
: Viện Kiểm sát
VKSND
: Viện Kiểm sát nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hoạt động tố tụng nói chung và TTHS nói riêng, Tòa án giữ vai
trò là trung tâm, trong đó hoạt động xét xử tại phiên tòa đƣợc xem là hoạt
động quan trọng nhất. Thông qua phiên tòa, các chức năng cơ bản của tố tụng
đƣợc bảo đảm thực hiện một cách rõ nét, công khai, dân chủ và bình đẳng.
Hoạt động xét xử cũng chính là việc kiểm tra công khai tính đúng đắn của các
hoạt động tố tụng trƣớc đó của CQĐT, VKS. Tại phiên tòa, mọi tài liệu chứng
cứ của vụ án do CQĐT, truy tố thu thập trong quá trình điều tra đều đƣợc xem
xét một cách công khai, những ngƣời THTT và ngƣời tham gia tố tụng đƣợc
nghe trực tiếp lời khai của nhau, đƣợc tranh luận chất vấn những điều mà tại
CQĐT họ không có điều kiện thực hiện.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, kỹ năng điều khiển phần tranh tụng là hết
sức quan trọng, đòi hỏi HĐXX mà đặc biệt là Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
phải tập trung trí tuệ, xử lý các tình huống một cách mau lẹ, các lý lẽ đƣa ra,
không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà phải có sức thuyết phục nhƣng đồng thời
lại phải tuân theo những quy định của pháp luật.
Tại Việt Nam, yêu cầu cải cách tƣ pháp, hoàn thiện thủ tục TTHS nói
chung, tranh tụng trong xét xử nói riêng đã đƣợc đề ra trong nhiều Nghị quyết
của Đảng về cải cách tƣ pháp. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01
năm 2002 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng nhấn mạnh:
“Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại
phiên tòa” [1]. Tiếp đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005
của Bộ Chính trị về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 tiếp tục khẳng
định một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan
tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt
động đột phá của các cơ quan tư pháp…” [3].
1
Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận tranh tụng thành một nguyên tắc, cụ
MC đã đề cập khái niệm tranh tụng hình sự trong: Giáo trình TTHS Xô Viết.
NXB Matxcơva 1968. Trong vấn đề kết hợp tố tụng tranh tụng với tố tụng
thẩm vấn ở Pháp và một số lƣu ý khi Việt Nam muốn cải cách theo hƣớng tố
tụng tranh tụng đƣợc nêu trong bài phát biểu Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét
hỏi - Trích trình bày của bà Elisabeth Pelsez, Thẩm phán Tòa phúc thẩm
Rouen và ông Christian Rayseguier, Viện trƣởng Viện công tố tại Rouen
trong Hội thảo ngày 18 tháng 01 năm 2002 do Viện khoa học xét xử và Nhà
pháp luật Việt Pháp phối hợp tổ chức.
Tình hình nghiên cứu trong nƣớc: Các công trình, bài viết có liên quan
đến vấn đề tranh tụng trong TTHS do các tác giả trong nƣớc thể hiện, nổi bật
là: Luận án Tiến sỹ luật học của TS. Nguyễn Đức Mai về “Vấn đề tranh tụng
trong TTHS” (năm 2004). Luận văn thạc sỹ luật học “Thực hiện pháp luật
đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử án hình sự sơ thẩm ở Việt Nam
hiện nay” năm 2005 của Nguyễn Tiến Long, Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sỹ luật học “Chất lượng tranh tụng tại
phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của KSV VKSND tỉnh Thanh Hoá”
năm 2008 của Mai Thị Nam, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh. Đề tài “Tranh tụng tại phiên tòa - một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” (năm 2003) của Học viện Tƣ pháp do PGS. TS Nguyễn Văn Huyên làm
chủ nhiệm; Đề tài “Những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên
tòa của KSV” (năm 2003) do TS. Lê Hữu Thể làm chủ nhiệm đã đề cập đến
nhiều nội dung của tranh tụng. Công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
“Hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2003 liên quan đến tranh tụng
tại phiên toà sơ thẩm - Cơ sở lý luận và thực tiễn”, TANDTC, Tiến sỹ
Nguyễn Đức Mai - Chủ nhiệm đề tài, năm 2011.
Ngoài ra, còn có một số bài báo và tạp chí có đề cập đến nội dung
nghiên cứu trên nhƣng ở những góc độ khác nhau nhƣ: GS.TSKH. Lê Cảm,
3
4
và hoàn thiện NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và quá
trình cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
- Nghiên cứu quy định của pháp luật TTHS hiện hành Việt Nam. Đánh
giá thực trạng bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm ở thành phố
Hải Phòng trong 5 năm gần đây (từ năm 2013 đến năm 2017), chỉ ra nguyên
nhân của những vƣớng mắc trong thực tế.
- Làm rõ các yêu cầu bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm,
từ đó đƣa ra các giải pháp về bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự nhằm nâng cao hiệu quả phiên tòa hình sự trong thực tiễn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận quy định của pháp luật TTHS
và thực tiễn thực hiện tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm ở thành phố Hải
Phòng những năm gần đây, những đảm bảo để nâng cao chất lƣợng tranh tụng
tại phiên toà hình sự sơ thẩm nói chung và ở thành phố Hải Phòng nói riêng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh bảo đảm
tranh tụng tại phiên tòa theo Luật TTHS Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu
đánh giá tình hình bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa trong thực tiễn xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự của Tòa án hai cấp thành phố Hải Phòng, từ đó tìm ra
những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp
nâng cao hiệu quả bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa hình sự trong thực tiễn.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn tại thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp về bảo đảm tranh tụng tại phiên
tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm của tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm tranh tụng trong TTHS
Sự xuất hiện thuật ngữ “tranh tụng” trong tố tụng gắn liền với lịch sử
hình thành, tồn tại và phát triển các tƣ tƣởng dân chủ, tiến bộ trong xã hội loài
ngƣời. Tƣ tƣởng về tranh tụng xuất hiện từ thời cổ đại và đƣợc coi là một
trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS. Tuy vậy, trong lịch sử TTHS Việt
Nam, khái niệm tranh tụng rất ít đƣợc đề cập. Trƣớc đây chúng ta quan niệm
“tranh tụng” là đặc trƣng của TTHS tƣ sản nên vấn đề này ít đƣợc đề cập
trong khoa học pháp lý nƣớc nhà. Trong thời gian gần đây, nhất là từ khi có
Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW thì vấn đề “tranh
tụng” đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn đề cập trong các
diễn đàn khoa học pháp lý và các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành.
Hiện nay, trong thực tiễn và khoa học pháp lý có nhiều quan điểm khác
nhau về tranh tụng. Theo từ điển tiếng Việt, tranh tụng có nghĩa là kiện cáo
lẫn nhau. Theo từ điển Hán - Việt thì “tranh tụng” có nghĩa là “cãi lẽ, cãi
nhau để tranh lấy phải”. Trong tiếng Anh, tranh tụng là “Adversarial”, có
nghĩa là đối kháng, đƣơng đầu. Theo Từ điển Luật học năm 2006 - Viện Khoa
học pháp lý - Bộ Tƣ pháp thì tranh tụng đƣợc hiểu nhƣ sau:
Tranh tụng là hoạt động tố tụng đƣợc thực hiện bởi các bên
đó là khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Nhƣ vậy mỗi giai đoạn này đều diễn ra
quá trình tranh luận trao đổi giữa các bên giữ chức năng buộc tội và bào chữa.
Song do đặc điểm của mỗi giai đoạn tố tụng này là khác nhau, do đó quá trình
tranh luận trao đổi ở mỗi giai đoạn có đặc điểm riêng và kết quả riêng đặc
trƣng cho nó.
8
Giai đoạn khởi tố, điều tra và giai đoạn truy tố vụ án hình sự, có đặc
điểm chung là tranh tụng tại đây mới chỉ xuất hiện hai chức năng: Chức năng
buộc tội và chức năng bào chữa mà chƣa có sự tham gia của chức năng xét
xử, bản thân các chủ thể bào chữa và buộc tội cũng chƣa hiện diện công khai
thực hiện quyền năng của mình. Quá trình tranh tụng thể hiện bằng các quyền
đƣa ra lập luận yêu cầu bác bỏ lập luận ý kiến của bên kia mới chỉ ở giai đoạn
giả thiết về từng vấn đề mà giai đoạn này chứng minh. Sự đối lập của hai
chức năng chƣa đến đƣợc đỉnh điểm. Sự bất lợi thƣờng đƣợc đẩy sang phía
bào chữa bởi các quyết định đơn phƣơng của bên buộc tội.
Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự có thể nói là sự
thể hiện tập trung nhất của tranh tụng hình sự. Đặc điểm của tranh tụng giai
đoạn này là sự xuất hiện của ba chức năng: Buộc tội, bào chữa và xét xử. Các
quyền của các bên đƣa ra lập luận bác bỏ ý kiến của đối phƣơng đã mang tính
công bằng, công khai, giới hạn tranh tụng đƣợc chỉ rõ bởi phạm vi của buộc
tội và phạm vi của bào chữa. Nó khẳng định sự đối lập của hai chức năng
buộc tội và bào chữa lên đến đỉnh điểm. Sự xuất hiện của Toà án trở nên bức
thiết để phán quyết chân lý sẽ thuộc về phía nào. Tuy nhiên vị trí của quá
trình tranh tụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm lại có đặc điểm khác hơn tranh
tụng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Nếu nhƣ ở giai đoạn xét xử sơ thẩm có
đầy đủ các chủ thể của chức năng buộc tội và bào chữa tham gia thì ở giai đoạn
xét xử phúc thẩm, chủ thể tham gia bị hạn chế vì liên quan đến kháng cáo, kháng
bạch giữa ba chức năng: Buộc tội, bào chữa và xét xử. Buộc tội đƣợc hiểu là
tổng thể các hoạt động tố tụng của chủ thể buộc tội theo quy định của pháp
luật nhằm nêu ra các giả thiết một ngƣời (chủ thể) nào đó có hành vi mà Luật
Hình sự coi là tội phạm, để đƣa vào vòng TTHS nhằm kết tội chủ thể này phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đang bị giả thiết. Buộc tội còn đƣợc
hiểu là hoạt động tố tụng của các chủ thể buộc tội buộc những chủ thể khác có
liên quan đến hành vi phạm tội cũng phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm
10
tội đang bị cáo buộc. Bào chữa là tổng thể các hoạt động tố tụng nhằm bác bỏ
sự buộc tội, khẳng định sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
hoặc chứng minh tính không liên quan của mình với hành vi phạm tội đang bị
xem xét của chủ thể khác bị buộc tội. Xét xử là hoạt động của HĐXX trên cơ
sở thủ tục nhất định, căn cứ vào kết quả tranh tụng của chủ thể buộc tội và
bào chữa tranh tụng với nhau, tiến hành đánh giá chứng cứ theo những
nguyên tắc của pháp luật, ra phán quyết giải quyết vụ án. Trong đó chức năng
xét xử không thể bao gồm cả việc buộc tội hoặc bào chữa.
Nội dung thứ hai của nguyên tắc tranh tụng là các bên buộc tội và bào
chữa phải tích cực thu thập, trình bày chứng cứ một cách có hiệu quả nhất,
thuyết phục nhất trƣớc Toà án. Lúc này, Toà án sẽ giữ vai trò là trọng tài, là
cán cân công lý để đƣa ra những phán quyết theo "sự thật" và "lẽ phải" của
bên có cơ sở thuyết phục.
Nội dung thứ ba của nguyên tắc tranh tụng là các bên buộc tội và bào
chữa bình đẳng trong quá trình tiến trình tranh tụng. Đó là sự thừa nhận khả năng
nhƣ nhau của các bên trong hoạt động chứng minh, trong việc đƣa ra những yêu
cầu và giải quyết những yêu cầu đó trƣớc Toà. Bình đẳng trong TTHS còn bao
hàm việc bình đẳng trong việc sử dụng các phƣơng tiện mà pháp luật giành cho
mỗi chủ thể ở mỗi giai đoạn của TTHS, các phƣơng tiện của các bên không phải
tranh luận công khai tại toà.
1.1.2. Khái niệm tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Quá trình thực hiện tranh tụng trong TTHS bắt đầu từ khi có quyết định
khởi tố bị can. Các hoạt động tranh tụng trƣớc khi đƣa ra xét xử tại phiên tòa
có thể đƣợc các chủ thể thực hiện “ngấm ngầm” hoặc “công khai” bằng nhiều
hình thức khác nhau. Tuy nhiên, chỉ tại phiên tòa hình sự thì việc thực hiện
tranh tụng mới thể hiện một cách toàn diện và đầy đủ nhất, là tổng hợp kết
quả của các hoạt động tranh tụng đã đƣợc diễn ra trƣớc đó.
Phiên tòa hình sự có sự tham gia của các chủ thể thuộc bên buộc tội,
12
bên gỡ tội cùng các chủ thể khác dƣới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa và
sự giám sát của HĐXX. Tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung và phạm vi tranh
tụng không bị bất kỳ giới hạn nào. Trong khi đó, ở phiên tòa phúc thẩm thành
phần tham gia cũng hạn chế hơn ở chỗ: Chỉ yêu cầu ngƣời kháng cáo hoặc bị
kháng cáo, kháng nghị là bắt buộc phải có mặt; còn các chủ thể khác nhƣ bị
cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị, ngƣời bị hại,
ngƣời làm chứng... thì tùy thuộc vào sự xem xét của Toà án có cần thiết hay
không mới triệu tập. Ngoài ra, nội dung và phạm vi tranh tụng tại phiên tòa
phúc thẩm cũng bị thu hẹp phụ thuộc vào nội dung của kháng cáo, kháng nghị
và ý chí chủ quan của HĐXX. Tranh tụng không tồn tại trong thủ tục giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm. Thực chất đây không phải là cấp xét xử mà chỉ là thủ
tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong một số
trƣờng hợp đặc biệt. Tại phiên xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm không có sự
hiện diện của các bên (nhất là bên gỡ tội), do vậy không thể có tranh tụng.
Thực chất việc xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có thể
dẫn đến sự khởi đầu mới của một quá trình tố tụng mới (nếu phán quyết của
Toà án dẫn đến việc điều tra, xét xử lại vụ việc). Trong trƣờng hợp này, tranh
thể nào đó có hành vi phạm tội mà Luật Hình sự quy định. Một số văn bản
nhƣ quyết định bắt giữ, khởi tố, tạm giam, cáo trạng... không đƣợc xem là sự
buộc tội chính thức mà chỉ là các giả thiết của các chủ thể giữ chức năng buộc
tội đƣợc Nhà nƣớc trao quyền điều tra, thu thập, tiến hành các thủ tục tố tụng
khác làm tiền đề cho giai đoạn xét xử mà tập trung nhất là tại phiên tòa hình
sự. Một ngƣời chỉ bị coi là có tội khi có quyết định hoặc bản án kết tội của
Tòa án có hiệu lực pháp luật, do đó, các quyết định đó về nguyên tắc chƣa
đƣợc coi là sự buộc tội chính thức. Bản án (có hiệu lực pháp luật và không bị
kháng cáo, kháng nghị) chấm dứt cuộc tranh luận của hai bên buộc tội và bào
chữa, xác định sự thật khách quan của vụ án.
- Về hình thức, tranh tụng tại phiên tòa chính là cách thức tổ chức phiên
14
tòa qua các thủ tục khác nhau nhƣ: Bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh luận và
quá trình tranh tụng đƣợc coi là kết thúc khi phần tranh luận kết thúc.
- Về nội dung, việc tranh tụng tại phiên tòa thể hiện ngay ở phần thủ
tục bắt đầu phiên tòa bằng việc các bên có thể đƣa ra yêu cầu triệu tập thêm
ngƣời làm chứng hoặc đƣa ra vật chứng, tài liệu mới để HĐXX xem xét.
Những yêu cầu này chính là những đảm bảo cho việc xét hỏi và tranh luận ở
phần tiếp theo của phiên tòa.
Sau phần thủ tục là phần xét hỏi. Phần này có vai trò: Thông qua việc
xét hỏi các bên kiểm tra xem xét các chứng cứ, tài liệu, vật chứng đã thu thập
trong quá trình điều tra để xác định sự kiện này hay sự kiện kia là có thật hay
không có thật để từ đó có cơ sở nhận định, đánh giá kết luận cho các quan
điểm của mình sẽ nêu ở phần tranh luận. Phần tranh luận thể hiện đậm nét
nhất nội dung của tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự cũng nhƣ toàn bộ
quá trình tranh tụng của TTHS. Tại đây các chủ thể buộc tội và bào chữa nêu
quan điểm của mình dựa vào kết quả thẩm vấn để chỉ ra sự tồn tại hay không
đƣa ra quan điểm chính thức với vụ án, nội dung của phán quyết nêu những
yêu cầu nào, của chủ thể nào đƣợc chấp nhận. Những yêu cầu nào, của chủ
thể nào là không có căn cứ pháp luật. Những phán quyết đó đƣợc dựa trên các
tài liệu nào? cơ sở nào? Còn ở phiên toà xét xử phúc thẩm chủ thể của bên
buộc tội và bào chữa hạn chế hơn, phạm vi tranh tụng cũng hẹp hơn vì nó phụ
thuộc vào nội dung của kháng cáo, kháng nghị. Bản chất của tranh tụng không
phải bác bỏ tính có căn cứ hợp pháp của nội dung cáo trạng và các yêu cầu
khác của chủ thể buộc tội nữa mà nó nhằm vào những vấn đề mà bản án sơ
thẩm đã tuyên có ý kiến không chấp nhận.
Nhƣ vậy, có thể kết luận: Tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự là
một quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án, tại giai đoạn xét xử sơ
thẩm bằng việc chủ thể giữ chức năng buộc tội và chủ thể giữ chức năng bào
chữa thông qua việc xét hỏi vụ án tranh luận, trao đổi với nhau về những tình
16
tiết, nội dung của vụ án đang giải quyết. Để khẳng định sự kiện nào, tình tiết
nào là đúng đắn, sự kiện nào, tình tiết nào cần bác bỏ. Thông qua đó, chủ thể
giữ chức năng xét xử thực hiện quyền phán quyết của mình với vụ án.
1.1.3. Đặc điểm của tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự
Trong TTHS, giai đoạn xét xử đƣợc coi là giai đoạn trọng tâm và trong
các cấp xét xử thì cấp sơ thẩm lại có vai trò quan trọng nhất. Bởi lẽ, toàn bộ
vụ án và mọi vấn đề liên quan đến vụ án đƣợc xem xét lần đầu và quyết định
ngay tại giai đoạn này. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của quá
trình TTHS. Trong đó, Toà án có thẩm quyền, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ
án, lần đầu tiên đƣa vụ án ra xét xử bằng phiên toà nhằm xác định có hay
không có tội phạm xảy ra, một ngƣời có phải là ngƣời phạm tội để từ đó đƣa
ra phán quyết bằng bản án, quyết định [9, tr. 310].