VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHÚC THỊ XUÂN
TRUYỀN THÔNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÒNG
CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH CHO PHỤ NỮ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THÁI BÌNH
Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 8 76.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THANH BÌNH
HÀ NỘI, 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công
tác xã hội đề tài “Truyền thông Công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình
cho phụ nữ từ thực tiễn tỉnh Thái Bình” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp
với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./.
Tác giải luận văn
Khúc Thị Xuân
MỤC LỤC
BĐG:
Bình đẳng giới
BLGĐ:
Bạo lực gia đình
CTXH:
Công tác xã hội
CTV CTXH:
Cộng tác viên Công tác xã hội
MTTQ:
Mặt trận tổ quốc
NV CTXH:
Nhân viên Công tác xã hội
LHPN:
Liên hiệp phụ nữ
LĐTBXH:
Sang (Bình Phước), phát biểu tại Quốc hội sáng 10/11/2016. Kết quả nhiều cuộc
khảo sát và báo cáo địa phương cho thấy, hiện nay bạo lực gia đình đã gây ra những
hậu quả cho phụ nữ và xã hội nói chung. Nạn nhân của BLGĐ rất cần sự giúp đỡ
của xã hội và cộng đồng. Hiện nay trên toàn quốc đã có nhiều mô hình can thiệp trợ
giúp phụ nữ bị BLGĐ. Như: “mô hình trợ giúp pháp lý”, “mô hình nhóm nhỏ”, “mô
hình nhà tạm lánh”... Các mô hình trên đã thực hiện nhiều dịch vụ khác
1
nhau nhằm hỗ trợ tốt nhất cho phụ nữ bị BLGĐ, được an toàn, được động viên, an
ủi, sớm được trở lại với đời sống bình thường với một nhận thức mới, vị thế mới.
Phòng chống bạo lực gia đình là trách nhiệm của mỗi người và toàn xã hội. Do
vậy, để ngăn ngừa và giảm thiểu những hậu quả của bạo lực gia đình thì các quy
định của pháp luật cần phải được nghiêm chỉnh thi hành và có cơ chế theo dõi, giám
sát việc thi hành đó và cần có sự phối hợp và linh hoạt giữa các ban ngành, đoàn thể
với các nhân viên xã hội tại địa phương để bảo đảm sự ứng phó toàn diện đối với
phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Với tư cách là một nghề chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các đối tượng yếu thế
trong xã hội vượt qua được vấn đề của mình, Công tác xã hội đóng vai trò quan
trọng trong việc trợ giúp những nạn nhân bị BLGĐ phục hồi về mặt thể chất, tâm lý,
để từng bước ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Phòng chống bạo lực gia đình là trách nhiệm của mỗi người và toàn xã hội. Do
vậy, để ngăn ngừa và giảm thiểu những hậu quả của bạo lực gia đình thì các quy
định của pháp luật cần phải được nghiêm chỉnh thi hành và có cơ chế theo dõi, giám
sát việc thi hành đó và cần có sự phối hợp và linh hoạt giữa các ban ngành, đoàn thể
với các nhân viên xã hội tại địa phương để bảo đảm sự ứng phó toàn diện đối với
phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Tại tỉnh Thái Bình chưa có những nghiên cứu chuyên sâu để hình dung một
cách tổng thể và toàn diện về tình trạng bạo lực gia đình và thực trạng xây dựng các
biến của các dạng bạo lực chống phụ nữ trong đó có bạo lực gia đình. Các bài viết
đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về vấn đề và chiến lược liên quan đặc biệt đến
bạo lực giới. Đó là mở rộng chương trình tuyên truyền vận động, giáo dục, cải cách
luật pháp và hành động chống bạo lực đối với phụ nữ. (tr.41, quyển bạo lực gia
đình, một sự sai lệch…)
Trong số các nghiên cứu của nước ngoài, phải kể đến đóng góp của nhà nữ
quyền Dobash với cuốn sách “Violence Against Wives” (Tạm dịch là Bạo lực
chống lại những người vợ - 1979) là một trong những công trình nghiên cứu nổi
tiếng về BLGĐ. Nghiên cứu được tiến hành ở Scotland bao gồm những cuộc phỏng
vấn sâu và phỏng vấn không chính thức 137 phụ nữ đang lánh nạn vì bạo lực của
người chồng. Trong số đó, có tới 84% các trường hợp phụ nữ bị tấn công lần đầu
tiên trong 3 năm đầu của hôn nhân. Dobash đã chỉ ra nguyên nhân chính của các vụ
bạo lực trong hôn nhân là do uy quyền của người chồng và sự phụ thuộc của người
3
phụ nữ vào đàn ông. Uy quyền của người chồng thường được khơi tỏa bởi sự ghen
tuông, tình dục, con cái, tiền nong, say rượu …. Dobash cũng chỉ ra rằng phụ nữ bị
bạo lực thường có xu hướng quay lại với người chồng bạo lực vì bị phụ thuộc về
kinh tế và lo lắng về sự thiếu vắng vai trò của người bố đối với con cái của họ.
Chính từ những lo lắng đó nên khi xảy ra bạo lực, những người phụ nữ thường
không muốn đi trình báo cảnh sát hoặc cơ quan chức năng. Do vậy, họ thường
không nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng hay các dịch vụ phúc lợi.
Năm 2005, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp với Trường Dược nhiệt đới
của Mỹ đã thực hiện một nghiên cứu đa quốc gia với chủ đề “Women’s Health and
Domestic Violence against Women” (Sức khỏe phụ nữ và BLGĐ chống lại phụ
nữ). Nghiên cứu đã tiếp cận với phụ nữ trên 10 quốc gia bao gồm Bawngladet,
Brazin, Ethiopia, Nhật, Peru, Namibia, Samoa, Serbia và Montenegro, Thái Lan và
nước Cộng hòa Tanzania cho thấy có 15% đến 71% phụ nữ phải chịu đựng một hình
có điểm chung khi đề cập đến vấn đề này, đều bày tỏ thái độ phản đối bạo lực,
những hậu quả đáng tiếc mà bạo lực gây ra, bên cạnh đó kêu gọi cộng đồng chung
tay đẩy lùi bạo lực và bất bình đẳng giới.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ, tuy nhiên các công trình
nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên thực trạng và đưa đến những giải
pháp và cũng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về truyền thông công
tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình cho phụ nữ, chưa nghiên cứu xây
dựng mô hình can thiệp cho nhóm phụ nữ chịu ảnh hưởng của bạo lực gia đình trên
góc độ của ngành công tác xã hội.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của bạo lực gia đình, trong những năm
gần đây, không chỉ trên thế giới mà tại Việt Nam, bạo lực gia đình đã trở thành một
trong những vấn đề được nhiều tổ chức cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm. Đây
là một vấn đề phức tạp mang tính toàn cầu và có thể coi là một loại vi phạm quyền
con người mang tính phổ biến nhất. Bạo lực gia đình đã vượt qua ranh giới văn hóa,
đẳng cấp xã hội, trình độ học vấn, tuổi tác; nó đã và đang tác động đến mỗi cá nhân
và toàn xã hội. Cho đến nay, các tác phẩm, bài nghiên cứu viết về hoạt động truyền
thông phòng chống bạo lực gia đình một cách chuyên sâu còn rất ít.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về bạo lực gia đình cũng được bắt
đầu từ những năm 1990 và ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn, thu hút sự chú ý
5
đặc biệt của xã hội. Các góc cạnh của vấn đề được tìm tòi, phát hiện và công bố trên
nhiều ấn phẩm thuộc các chuyên ngành và lĩnh vực khác nhau.
Từ những năm 1994, tác giả Lê Thị Quý - một trong những chuyên gia nghiên
cứu về Giới, gia đình đã có bài viết đầu tiên về “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” trên
tạp chí Khoa học và Phụ nữ, trong đó xác định 5 nguyên nhân chính của nạn bạo lực
gia đình; tuy nhiên nguyên nhân lớn nhất, sâu xa nhất chính là bất bình đẳng trong
bằng phương pháp khảo sát thực tế và phỏng vấn cấu trúc đã phân tích sâu sắc
nguyên nhân, hình thức của bạo lực chủ yếu do bất bình đẳng giới; và tác giả cũng
có đưa ra một số giải pháp dành cho nạn nhân bị bạo lực. Song cách thức để tuyên
truyền về phòng, chống vẫn chưa được phân tích cụ thể, sâu sắc.
Bạo lực còn được nhắc đến dưới dạng bạo lực giới như nghiên cứu của Vũ
Mạnh Lợi với cuốn “Bạo lực trên cơ sở Giới tại Việt Nam”, và Quy, Lê Thi (2004)
– Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn với bài nghiên cứu “Bạo lực trên
cơ sở Giới trong gia đình, Điển cứu tại Thái Bình, Phú Thọ và Hà Nội”. Đặc biệt
người phụ nữ được đề cập đến rất nhiều trong các văn bản chỉ đạo hoạt động và
công tác đoàn thể của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Tại tỉnh Thái Bình, năm 2001 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành thực
hiện đề tài: “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” tại ba tỉnh: Thái Bình,
Lạng Sơn và Tiền Giang. Với phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, đề
tài đã tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân và các cán bộ thi hành pháp luật
của các tổ chức đoàn thể xã hội tại địa phương. Đề tài cũng đã chỉ ra được những
nguyên nhân và hậu quả của nạn BLGĐ đối với phụ nữ và phản ứng của nạn nhân
trước những hành vi bạo lực.
Năm 2012, Vụ Gia đình thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với
Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
thực hiện “Điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp có tính đột phá
trong năm 2012 và giai đoạn 2012-2016”. Cuộc điều tra này nhằm xác định thực
trạng, nguyên nhân và đề xuất những giải pháp có tính đột phá cho công tác phòng,
chống bạo lực gia đình những năm tiếp theo.
Năm 2013, Học viên Lê Thị Vân Anh – Khoa văn hóa học, trường Đại học văn
hóa Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Hoạt động truyền thông phòng chống
bạo lực gia đình tại trung tâm phụ nữ và phát triển từ năm 2007 đến nay” với
7
đối với phụ nữ tại tỉnh Thái Bình; Đưa ra một số khuyến nghị và một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng truyền thông Công tác xã hội cho các đối tượng bị
8
BLGĐ, cho người làm công tác xã hội và chính quyền các cấp tại tỉnh Thái Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về Công tác xã hội, truyền thông công
tác
xã hội.
-
Khảo sát đánh giá hoạt động truyền thông Công tác xã hội trong phòng
chống bạo lực gia đình cho phụ nữ từ thực tiễn tỉnh Thái Bình.
-
Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông Công tác xã hội trong
phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại tỉnh Thái Bình.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Truyền thông Công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình cho phụ nữ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về địa bàn nghiên cứu: 8 huyện, thành phố tỉnh Thái Bình.
- Về thời gian: Từ năm 2012 đến nay.
CTXH trong PCBLGĐ cho phụ nữ tỉnh Thái Bình.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Là phương pháp thu thập thông tin thông qua việc tác động tâm lý trực tiếp
giữa người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn trên cơ sở mục tiêu của đề tài
nghiên cứu. Nguồn thông tin trong phỏng vấn là tất cả các câu trả lời của người
được phỏng vấn thể hiện quan điểm, ý thức, thái độ, mối quan tâm của họ về vấn đề
công tác xã hội đối với phụ nữ, từ đó thu thập các thông tin phục vụ mục đích
nghiên cứu. Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu sâu hơn về vai
trò của CTXH trong PCBLGĐ cho phụ nữ. Thực hiện phỏng vấn sâu tại 8 xã thuộc
8 huyện/thành phố với tổng số 80 bảng hỏi. Cụ thể, mỗi xã phỏng vấn sâu sâu 10
người: 01CB đảng, 01 CB chính quyền, 01 CB LĐTBXH, 01 CB văn hóa, 01 CB
Hội phụ nữ, 01 CB MTTQ, 01 Công an và 3 phụ nữ đã từng là nạn nhân của BLGĐ.
5.2.4. Phương pháp quan sát
Quan sát là một phương pháp thu thập dữ liệu đơn giản, dễ thực hiện nhưng rất
hữu ích bằng cách thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ
thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Vận dụng các lý thuyết về truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình để
nghiên cứu và lý giải một cách khoa học vấn đề phòng chống bạo lực gia đình, góp
10
phần tổng quan lý luận cơ bản truyền thông Công tác xã hội trong phòng, chống bạo
lực gia đình đối với phụ nữ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp thêm các giải pháp nhằm giúp chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể
của tỉnh nâng cao hiệu quả truyền thông Công tác xã hội trong phòng, chống bạo
lực gia đình cho phụ nữ, góp phần ngăn chặn và giảm thiểu hậu quả của bạo lực gia
cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội.
Truyền thông là kiểu hình thức tương tác xã hội trong đó có hai tác nhân tương
tác với nhau, chia sẻ thông điệp và tín hiệu chung. Ở dạng dễ, thông tin được truyền
tải từ người gửi tới người tiếp nhận. Ở dạng khó hơn, các thông tin trao đổi liên kết
người gửi và người tiếp nhận.
Những yếu tố cơ bản của Truyền thông:
+
Nguồn là đem lại thông tin và bắt đầu quá trình truyền thông.
+
Thông điệp là thông điệp từ nhà truyền thông muốn gửi đến người nhận
thông tin.
+
Kênh truyền thông là đường chuyển tải thông tin dữ liệu đến người tiếp
thông tin.
+
Người tiếp nhận là một cá nhân hoặc tập thể nhận thông tin.
12
1.1.2. Khái niệm truyền thông công tác xã hội
Truyền thông CTXH là truyền tải những nguyên tắc của công tác xã hội, vai
trò của nhân viên CTXH, những dịch vụ CTXH và các hoạt động của CTXH qua
các kênh thông tin đại chúng, qua các cuộc trao đổi, tọa đàm, hội nghị ….đến người
dân trong cộng đồng.
Truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình là quá trình liên tục chia sẻ thông
13
Ở
Việt Nam, vào ngày 21/11/2007, trong kỳ họp thứ 2 của Quốc hội
khóa
XII đã thông qua bản dự thảo Luật Phòng,chống bạo lực gia đình. Luật này đã đưa
ra định nghĩa về bạo lực gia đình như sau: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của
thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần,
kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” (Khoản 2 Điều 1, Luật PCBLGĐ
năm 2007)
Hành vi bạo lực gia đình thường xảy ra ở giữa những người có quan hệ đặc
biệt (vợ chồng, con dâu, con rể) hoặc ruột thịt (ông, bà, cha mẹ, con cháu, anh chị
em họ hàng) có thể trong cùng một mái nhà hoặc khác mái nhà. Nạn nhân của bạo
lực thân thể thường là phụ nữ, trẻ em hoặc người cao tuổi. Còn nam giới, họ là nạn
nhân của bạo lực tinh thần nhiều hơn. Bạo lực gia đình xảy ra ở mọi quốc gia, nền
văn hóa, tôn giáo, không phân biệt hoàn cảnh, trình độ.
+ Các loại hình bạo lực gia đình
Theo quan hệ của các đối tượng bạo lực gia đình có thể phân chia thành một
số loại bạo lực gia đình:
-
Bạo lực giữa vợ chồng với nhau là loại bạo lực phổ biến, được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm.
-
Bạo lực giữa các thành viên lớn tuổi trong gia đình là loại bạo lực giữa anh
hoặc dùng kinh tế để ép buộc quan hệ tình dục với người khác trái với ý muốn của
họ. Dùng các thủ đoạn khiến nạn nhân lệ thuộc hay trong tình trạng quẫn bách phải
miễn cưỡng chấp nhận, bắt quan hệ ngay cả khi bạn đời đau ốm,mệt mỏi.
Trong các hình thức bạo lực thì bạo lực tình dục ít bị phát hiện và nạn nhân
không được bảo vệ vì ở nước ta, đây là một vấn đề tế nhị khó tìm hiểu. Trong lĩnh
vực này, nạn nhân nữ chịu ảnh hưởng nặng nề của các chuẩn mực đạo đức, các giá
trị văn hóa truyền thống chi phối. Đối với người chồng, họ có nghĩa vụ phải phục
tùng, thậm chí bị ép buộc sinh thêm con, không cho dùng các biện pháp tránh thai,
cưỡng ép quan hệ khi họ không muốn.
- Bạo lực kinh tế
Bạo lực kinh tế bao gồm các hành vi như: kiểm soát tiền bạc, bắt bạn đời lệ
thuộc về tài chính, chi tiêu, không cho giữ tiền và đi làm, phải chứng minh mọi chi
tiêu mua sắm lớn nhỏ. Ở Việt Nam, loại bạo lực này chưa có thống kê đầy đủ, tuy
nhiên thực tế cho thấy đây là hình thức phổ biến rộng rãi.
- Bạo lực xã hội
Bạo lực xã hội bao gồm các hành vi như cắt đứt mối quan hệ giữa vợ (chồng)
và người trong gia đình với bạn bè, người thân, họ hàng, đe dọa họ, cô lập họ bằng
15
nhiều cách như nhốt trong nhà, hạn chế cho đi ra ngoài và giao tiếp với mọi người,
cắt điện thoại, ngăn cản không được tham gia bất kỳ một hoạt động xã hội nào như
đi học, đi làm, không tham gia các tổ chức xã hội, không được hưởng các quyền lợi
chính đáng của mình.
Tuy nhiên, thường không có ranh giới rõ ràng giữa các loại bạo lực, bởi
người có hành vi bạo lực thường sử dụng nhiều hình thức bạo lực cùng một lúc như
vừa đánh đập, bắt lao động quá sức vừa chửi bới, lăng mạ, nhốt không cho tiếp xúc
với bên ngoài hoặc đuổi ra khỏi nhà và có những loại bạo lực vừa nhìn thấy được
thể hiện qua các tác động của cơ thể, sức khỏe, vừa không nhìn thấy được thể hiện
chính những nguyên nhân trong nội bộ gia đình. Gia đình không hạnh phúc, không
có tình yêu thương, sẻ chia là điều kiện tốt nhất làm cho các loại bạo lực có thể phát
triển. Do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội, gia đình Việt Nam đang
có những dấu hiệu của sự khủng hoảng; nhiều giá trị truyền thống về gia đình đã có
sự thay đổi. Các mối quan hệ giữa những người ruột thịt trong nhiều gia đình không
còn bền chặt như trước.
Năm là, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực
gia đình còn hạn chế. Trình độ nhận thức và sự hiểu biết về pháp luật trong một bộ
phận người dân còn thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình
vẫn còn tiếp tục xảy ra.
Sáu là, tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm cũng là
những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới bạo lực gia đình.
+
Hậu quả của bạo lực gia đình
Thứ nhất, bạo lực gia đình dù ở hình thức nào cũng gây tổn thương đến sức
khỏe và tinh thần đối với nạn nhân, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con
người nhất là đối với phụ nữ, trẻ em, các thành viên khác trong gia đình và toàn xã
hội; vi phạm nghiêm trọng các quyền con người. Bạo lực gia đình xảy ra phổ biến
đối với phụ nữ nhưng đó cũng là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với cuộc sống
của trẻ em, có tác động rất xấu đến sự phát triển thể chất,tinh thần, đạo đức, trí tuệ
và nhân cách của chúng. Những trẻ em này sẽ có sự tác động tâm lý như trầm cảm,
sợ hãi, mất ngủ, tự ti, bi quan, nóng giận…
Thứ hai, bạo lực gia đình tác động tiêu cực đến lực lượng lao động, ảnh hưởng
đến năng suất lao động và chất lượng công việc; do đó cũng ảnh hưởng xấu đến các
17
18
sản, trang 460, Bộ Y tế 2016 ban hành theo Quyết định số 4128/QĐ-BYT ngày
9/7/2016). Bạo lực trên cơ sở giới được quy định là một trong những hành vi bị cấm
trong điều 10 Luật Bình đẳng giới năm 2016. Theo Luật Phòng chống bạo lực gia
đình năm 2007, bạo lực đối với phụ nữ do chồng hoặc các thành viên khác trong gia
đình gây ra là hành vi vi phạm pháp luật.
1.1.5. Khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc thực hiện cac biện pháp nhằm
ngăn chặn và đẩy lùi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình, giúp cho người phụ nữ tránh
được bạo lực gia đình, bảo đảm các quyền con người và có cuộc sống hạnh phúc.
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một công việc rất khó khăn
và lâu dài. Để bảo vệ người phụ nữ, bảo vệ quyền và vị trí của người phụ nữ cần
thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Việc phòng, chống bạo lực gia đình đối
với phụ nữ chỉ đạt được hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật, phù
hợp với pháp luật, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được hiểu là phòng ngừa những hành
vi trái pháp luật phòng chống bạo lực gia đình, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm
pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ trong lĩnh vực
phòng, chống BLGĐ mà nạn nhân của bạo hành gia đình là người phụ nữ.
Như vậy, Phòng, chống BLGĐ đối với phụ nữ là phòng ngừa các hành vi bạo
hành gia đình đối với phụ nữ mà trong đó nạn nhân là người phụ nữ, người gây ra bạo
hành chủ yếu là nam giới. Người phụ nữ không chỉ bị bạo hành từ phía người chồng,
mà còn bị bạo hành từ phía gia đình nhà chồng, bố, mẹ, anh, chị, em của chồng.
1.1.6. Công tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình
bạo lực, vì vậy cuộc sống của họ trở lên hạnh phúc; Có nạn nhân tìm kiếm sự hỗ trợ
của người thân, bạn bè và các dịch vụ trợ giúp xã hội để thoát khỏi hoàn cảnh bạo
lực; trong số những nạn nhân này có thể trở thành người hỗ trợ đắc lực cho chính
quyền địa phương trong công tác tư vấn, giải quyết, trợ giúp các ca bị bạo lực từ trải
nghiệm của chính mình.
Phụ nữ bị BLGĐ thường có cảm giác lo lắng, xấu hổ, nhục nhã, ít nói, phủ
nhận việc mình bị BLGĐ và không muốn kết nối, chia sẻ với những người khác
20
trong gia đình; đồng thời họ không làm gì để ngăn chặn bạo lực xảy ra và tự đổ lỗi
cho bản thân về việc
1.2.2. Nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Là con người trong xã hội, mỗi người đều có những nhu cầu về vật chất và
nhu cầu về tinh thần. Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và
luôn phát triển, biến đổi cùng với sự phát triển của con người. Nhu cầu con người
phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tuỳ theo hoàn cảnh sống, yếu tố
văn hoá, nhận thức và vị trí xã hội của họ. Để tồn tại con người cần phải được đáp
ứng các nhu cầu thiết yếu cơ bản cần cho sự sống, như: ăn, mặc, nhà ở, và chăm sóc
y tế,…; để phát triển con người cần được đáp ứng các nhu cầu cao hơn như: nhu cầu
được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định. Xét
cho cùng sự vận động và phát triển của xã hội loài người nhằm mục đích đáp ứng
ngày càng cao các nhu cầu của con người. Việc đáp ứng các nhu cầu con người
chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội.
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những
người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology),
trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đang
biết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa
hành vi (Behaviorism). Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm