TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
VŨ THỊ LUYẾN
HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
CÁC GIÁ TRỊ CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
HÀ NỘI - 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
VŨ THỊ LUYẾN
HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
CÁC GIÁ TRỊ CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi và các số liệu trong khóa luận là
trung thực. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Người thực hiện
Vũ Thị Luyến
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
BQLDT&DT:
Ban quản lý di tích và di tích
CHXHCN:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CN:
Công nghiệp
DN:
Doanh nghiệp
Tiểu thủ công nghiệp
TM – DV:
Thương mại - dịch vụ
UBND:
Ủy ban nhân dân
XD:
Xây dựng
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.........................................................................................................1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN PHÚ
XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI...............................................................................7
1.1. Các khái niệm cơ bản.......................................................................................7
1.2. Một số giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố
Hà Nội cần được bảo tồn và phát huy...................................................................21
1.3. Sự cần thiết phải bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền
thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội......................................................25
1.4. Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới hoạt động bảo tồn và phát huy các
giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.........31
Chương 2. THỰC TRẠNG MỘT SỐ GIÁ TRỊ CầN ĐƯỢC BẢO TÔN VÀ
PHÁT HUY CỦA CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN PHÚ
XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA
Nam đã tồn tại hàng trăm làng nghề truyền thống với bề dày lịch sử.
Làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ và phát triển tinh hoa văn hóa của dân
tộc với những kĩ năng truyền từ đời này sang đời khác và mỗi làng nghề là một kho
báu trong đó lưu giữ một khối lượng đáng kể những tinh hoa văn hóa của dân tộc,
nhất là tinh hoa văn hóa cổ truyền. Trong đó, việc hình thành, tồn tại và phát triển
các làng nghề truyền thống là một phần không thể thiếu trong tính đa dạng của làng
xã Việt Nam.
Làng nghề luôn mang trong mình hai yếu tố cơ bản là truyền thống văn hóa và
truyền thống nghề nghiệp, hai yếu tố ấy hòa quyện không tách rời nhau đã tạo nên
văn hóa làng nghề. Văn hóa làng nghề là sự kết tinh, hội tụ các tập quán xã hội,
nghi lễ, lễ hội; tri thức dân gian; nghề thủ công truyền thống của cộng đồng, là sắc
thái riêng của từng động cồng, nhóm người ở trong mỗi cộng đồng đó. Phát triển
làng nghề không những tạo động lực trực tiếp giải quyết việc làm, sử dụng hợp lý,
có hiệu quả lao động ở nông thôn mà còn giúp bảo tồn, duy trì, và phát triển được
nhiều ngành nghề truyền thống của dân tộc, tạo điều kiện phát triển đội ngũ nghệ
nhân, thợ giỏi, bảo lưu và giữ gìn văn hóa dân tộc.
Phú Xuyên là vùng đất nổi tiếng với ít nhất 15 làng nghề thủ công truyền
thống (Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Hà Nội, 2016) trong đó có các làng
nghề đặc biệt nổi tiếng như: làng nghề mây tre đan xã Phú Túc, làng nghề khảm trai
Chuyên Mỹ, làng nghề sơn mài thôn Bối Khê, Làng nghề may comple veston xã
Vân Từ, Làng nghề Tò he Xuân La, Làng nghề da giầy xã Phú Yên, Làng nghề mộc
1
Đại Nghiệp, Đồng Phố xã Tân Dân, Làng thêu Đại Đồng, Làng nghề bánh kẹo Cổ
Hoàng,… Các làng nghề với những sản phẩm sáng tạo văn hóa độc đáo có từ lâu
đời được trao truyền tồn tại và phát triển cho đến tận ngày nay. Cùng với sự phát
triển của đất nước trong những năm gần đây, các làng nghề truyền thống xưa dần
thay đổi theo hướng mở rộng, phát triển kinh tế, các sản phẩm ngày một nhiều lên
Cuốn“Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá”của tác giả Mai Thế Hởn, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2003 chú
tâm nghiên cứu về làng nghề truyền thống trước thách thức phát triển nhanh chóng
của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.[11]
Trên Tạp chí Di sản văn hoá số 4 (2003) tác giả Lê Thị Minh Lý có bài viết
“Làng nghề và việc bảo tồn các giá trị văn hoá phi vật thể”ở đó tác giả đã nêu lên
được tầm quan trọng trong việc gìn giữ và bảo tồn các giá trị văn hoá vốn là di sản
của dân tộc, như việc lưu truyền bí quyết nghề nghiệp trong phạm vi làng xã hay
những giá trị tinh thần đậm nét được phản ánh qua các tập tục, tín ngưỡng… Những
tư liệu viết về văn hoá làng nghề nhìn chung rất đa dạng và phong phú qua đó thấy
được bức tranh toàn cảnh về lịch sử cũng như tình hình các làng nghề truyền thống
ở nước ta hiện nay. Ngoài những công trình nghiên cứu có tính chất thống kê, khái
quát về các ngành nghề thủ công thì đã có những khuyên khảo viết về một làng
nghề cụ thể như Quê gốm Bát Tràng; làng Đại Bái gò đồng của tác giả Đỗ Thị Hảo.
hai chuyên khảo này đã viết khá toàn diện từ phong tục tập quán tín ngưỡng thờ tổ
nghề, lễ hội làng nghề đến diện mạo cảnh quan làng nghề, quy trình sản xuất và đặc
trưng sản phẩm của làng nghề.[15, tr 68-71]
Năm 2013, Tạp chí Doanh nghiệp và thương mại online có đăng bài “Đến với
nghề mây tre đan Lưu Thượng xã Phú Túc”của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan
[13,tr33-38]. Với cách tiếp cận văn hoá, tác giả bài viết đã đề cập đến một số vấn đề
cơ bản của nghệ thuật tạo ra sản phẩm mây tre. Trong đó tác giả đi sâu nghiên cứu
và tìm hiểu để thấy được người dân tại đây đã biết sáng tạo ra những sản phẩm độc
đáo từ nguyên liệu thô sơ như cỏ mọc hoang, rồi qua quá trình phát triển họ đã biết
kết hợp nhiều nguyên liệu khác như: sợi cói, bèo tây, mây, tre, giang… Trên Tạp
chí của Bộ xây dựng (2010) có bài viết “Đặc sắc làng nghề mây tre đan ở Hà
Nội”trong đó có viết về làng nghề mây tre đan Phú Túc những năm gần đây việc
xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Hơn
nữa làng nghề còn là nơi thu hút số lượng lao động lớn và có vai trò quan trọng
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bảo tồn và phát huy các giá trị của làng
nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu các giá trị văn hóa, giá trị lịch
sử và giá trị kinh tế của một số làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành
phố Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Địa bàn khảo sát ở một số làng nghề truyền thống,
huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: từ năm 2011 đến năm 2018.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế: khảo sát cảnh quan một số làng nghề,
lễ hội làng nghề, các sản phẩm đặc trưng, các cơ sở sản xuất,…
Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn cán bộ huyện Phú Xuyên và các nghệ
nhân, thợ nghề, học viên, khách tham quan,… để tìm hiểu thông tin, số liệu liên
quan đến thực trạng các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên,
thành phố Hà Nội.
Phương pháp lôgic - lịch sử và phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh,…:
từ các nguồn ấn phẩm, sách báo, tạp chí, khoá luận,… phân tích tổng hợp để lấy các
thông tin cần thiết kết hợp với kết quả điền dã từ đó hình thành đề mục viết luận văn.
7. Ý nghĩa của khóa luận
Khóa luận nhằm làm rõ sự vận dụng quan điểm toàn diện trong công tác bảo
tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên, Hà Nội
trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, đề xuất những biện pháp nhằm khắc phục những
thiếu sót trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị tại các làng nghề Phú Xuyên.
Ngoài ra, khóa luận còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học
tập của sinh viên Khoa Giáo dục chính trị và các khoa, ngành có liên quan.
8. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Khoá luận bao
gồm 3 chương:
và phát triển” văn hoá dân tộc trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” được
in trong cuốn kỷ yếu hội thảo 60 năm đề cương văn hoá Việt Nam (1943-2013) có
nêu ra quan điểm: “Bảo tồn” là giữ lại, không để bị mất đi, không thể bị thay đổi,
biến hoá hay biến thái…Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái
niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển”. Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn
“phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng
tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng
được bảo tồn”.[13, tr.269].
* Bảo tồn trên cơ sở kế thừa
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa những giá trị độc đáo của quá khứ dường như là
một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay khi bàn đến giá di sản văn hoá
nói chung và quản lý di sản văn hoá nói riêng. Quan điểm này dựa trên cơ sở mỗi di
sản văn hoá cần phải thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không
gian cụ thể. Khi giá trị di sản văn hoá ấy tồn tại ở không gian và thời gian hiện tại,
di sản văn hoá ấy cần phát huy giá trị văn hoá - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay
và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy.
Tuy nhiên khi bàn về quan điểm này, nhà nghiên cứu văn hóa Ashworth đã
nêu ra những đặc điểm cơ bản của bảo tồn trên cơ sở kế thừa như sau: Không chỉ
những đồ tạo tác hay những toà nhà mà cả các bộ sưu tập và các di sản khác cũng
được bảo tồn dựa vào kế thừa; Các tiêu chí lựa chọn không phụ thuộc vào bản chất
bên trong của di sản mà còn phụ thuộc vào những yếu tố nằm bên ngoài, không
thuộc về bản chất của di sản; Bảo tồn trên quan điểm kế thừa quan tâm không chỉ
đến hình thức mà còn quan tâm đến cả các chức năng của di sản. [1, tr.176-177]
* Ngoài hai quan điểm phổ biến trên, trong quan điểm về bảo tồn còn có
Quan điểm bảo tồn để phát triển
“Những người theo quan điểm này không bận tâm tới việc tranh cãi nên bảo
tồn y nguyên như thế nào, nên kế thừa cái gì từ quá khứ, mà đặt trọng tâm vào việc
làm thế nào để di sản sống và phát huy được tác dụng trong bối cảnh đương đại.
Phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh
hoa văn hóa của đời trước để lại, làm cho các giá trị của di sản văn hóa thấm sâu,
lan tỏa vào đời sống cộng đồng xã hội.
“Xét về bản chất, mỗi di tích hay mọi sinh hoạt nghệ thuật, lễ hội, tín ngưỡng,
tôn giáo, phong tục tập quán, lối sống nếp sống, hoặc các tri thức dân gian về ngành
nghề thủ công, y học, ẩm thực,... tất cả đều là những giá trị tồn tại dưới những dạng
vật chất cụ thể ẩn chứa phía sau những hoạt động hoặc kết quả của các hoạt động
tinh thần của con người trong mọi mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với chính
bản thân mình”. Những giá trị ấy chính là cái “hồn”, một nơi thể hiện rõ nhất những
thành tựu, trình độ và bản sắc văn hóa của một cộng đồng tại một không gian và ở
một thời gian nhất định. Từ những tích lũy trong quá khứ, qua trường kỳ lịch sử các
giá trị đó có thể trở thành một bộ phận quan trọng hợp thành vốn di sản văn hóa quý
báu của dân tộc và có thể là của cả nhân loại. Vì vậy, phát huy các giá trị di sản văn
hóa phải biết kế thừa có chọn lọc phần “hồn”ấy, sáng tạo thêm, làm cho nó thấm
sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng để cộng đồng nhận diện được giá trị, biết trân
trọng những giá trị ấy và tránh có cái nhìn phiến diện và khơi lòng tự hào để chung
tay vào bảo tồn di sản văn hóa của địa phương, của dân tộc và của cả nhân loại.
Phát huy giá trị di sản văn hóa là để phát triển kinh tế và phát huy là phải biết
kế thừa những tinh hoa của đời trước để lại. Những giá trị đó chính là sự đúc kết
kinh nghiệm từ thực tiễn, nếu chúng phù hợp với thời đại mới thì cần được phát
huy, nếu chúng lạc hậu, lỗi thời thì phải bỏ đi, đồng thời phải biết sáng tạo thêm
những cái mới trên nền tảng những cái truyền thống để vừa làm giàu thêm bản sắc
văn hóa, góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cư dân đương đại đồng
thời cũng là cơ hội để tạo ra thêm nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng giúp phát triển
kinh tế bền vững cho địa phương.
Phát huy các giá trị văn hóa làng nghề truyền thống phải biết mở rộng giao lưu
văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị văn hóa trong
bối cảnh toàn cầu hóa.
1.1.3. Khái niệm Giá trị
Giá trị trước hết là một một phạm trù triết học, chỉ sự đánh giá những thành
quả lao động sáng tạo vật chất và tinh thần của con người. Nó có tác dụng định
hướng, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động của xã hội nhằm vươn tới cái đúng, cái
tốt, cái đẹp, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
Thuật ngữ “Giá trị”(values) có thể quy chiếu vào những mối quan tâm
(interests), những thích thú (duties) trách nhiệm tinh thần (moral obligations),
những ước muốn (desires), những đòi hỏi (wants), những nhu cầu(needs), những ác
cảm (aversions), những lôi cuốn (attractions) và nhiều hình thái khác nữa của định
hướng lựa chọn (Pepper, 1958, tr.7). Nói cách khác giá trị có mặt trong thế giới
rộng lớn và đa dạng của hành vi lựa chọn, hoàn toàn có thể cho rằng hành vi theo
phản xạ không biểu hiện các giá trị hay sự đánh giá: từ cái nháy mắt bất thần tới cái
phản xạ bánh chè hay bất cứ quá trình sinh hóa nào trong cơ thể con người, đều
không tạo ra hành vi giá trị. Tuy nhiên, bất kỳ định nghĩa mô tả nào cũng có thể xác
định đầy đủ phạm vi và tính đa dạng của những hiện tượng giá trị được thừa nhận.
Một khái niệm giá trị có nội hàm rộng, có thuận lợi là hướng sự chú ý vào
những yếu tố giá trị có thể có trong mọi hành vi, tránh những yếu tố tự động hay
bản năng nghiêm trọng nhất. Một định nghĩa hẹp có ưu điểm là giản đơn và xác
định, nhưng có thể dẫn đến sai lầm nếu những hiện tượng bị gạt bỏ không được xem
xét thông qua những khái niệm có liên hệ chặt chẽ với ý niệm “giá trị”.
Một trong những định nghĩa được chấp nhận rộng rãi hơn trong các tài liệu
khoa học xã hội là coi giá trị như những quan niệm về cái đáng mong muốn
(desirable) ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn. Trong định nghĩa hẹp này có sự phân
biệt giữa cái được mong muốn và cái đáng mong muốn, chúng được xem như ngang
hàng với cái mà chúng ta phải mong muốn. Đây là một cách nhìn giá trị đã được xã
hội hóa cao, nó loại trừ, chẳng hạn, những giá trị thuần túy mang tính hưởng lạc.
Trong cách nhìn rộng hơn, thì bất cứ cái gì tốt hay xấu đều là giá trị hay giá trị
là điều quan tâm của một chủ thể là con người. Dường như mọi giá trị đều chứa
thiên nhiên, trong ăn uống, đi lại, phong tục tập quán, lễ hội… Những giá trị bộ
phận không phải là những thực thể riêng biệt mà chúng góp phần chung đúc nên các
giá trị văn hóa tổng quát và ngược lại.
1.1.4. Khái niệm Làng nghề
Quan điểm thứ nhất: theo giáo sư Trần Quốc Vượng có viết thì “làng nghề là
một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một
số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương... song đã nổi trội một nghề cổ
truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên
nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả... cùng một số thợ và phó
nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”,
“nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Làng nghề sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất
ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành
sản phẩm mặt hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung
quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra
cả nước ngoài”(kỷ yếu hội thảo quốc tế “bảo tồn và phát triển làng nghề truyền
thống việt nam”tháng 8/1996. [27, tr.38-39].
Quan điểm thứ hai: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn,
được cấu thành bởi hai yếu tố là làng và nghề, làng nghề đó tồn tại trong một không
gian nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là
chủ yếu, giữa họ có những mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa”.
Quan điểm thứ ba: “Làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần được tồn
tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối
liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại
lưu truyền trong dân gian”.
Về mặt pháp lý, tại Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính
phủ quy đinh, theo đó có thể hiểu: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp
thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn
một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều
Tác giả Trương Minh Hằng đưa ra quan niệm của mình về làng nghề
như sau: “Làng nghề gắn liền với các vùng nông nghiệp và người nông dân làm
nghề thủ công để giải quyết hợp lý sức lao động dư thừa được cơ cấu theo đặc trưng
nông nghiệp là mùa vụ… một làng có nghề, đời sống của người dân ổn định và
được nâng cao so với các làng thuần nông. Nghề thủ công từ vị trí chỉ là nghề phụ
được tổ chức và thực thi vào những khi nông nhàn, rồi về sau nhiều nghề trở thành
nguồn thu nhập chính của làng… Ở một góc độ nào đó, làng nghề còn mang tính
chất của một làng buôn” [9, tr.20-21].
Theo quan niệm trên cần quan tâm đến một số vấn đề cơ bản như sau: người
dân trong làng nghề có đời sống ổn định và phần nào được nâng cao hơn so với các
làng thuần nông. Nghề thủ công trong lịch sử có thể từ vị trí chỉ là nghề phụ, sau đó
trở thành nguồn thu nhập chính của làng. Làng nghề còn mang tính chất là một làng
buôn. Nhận định này xuất phát từ thực tiễn khách quan, bởi trên thực tế người dân
làng nghề sẽ phải mua các nguồn nguyên liệu để sản xuất hàng hoá và tổ chức tiêu
thụ sản phẩm ở các thị trường trong vùng phụ cận của làng nghề. Chính đây là đặc
trưng để tạo điều kiện cho làng nghề mở rộng ra bên ngoài thị trường.
1.1.5. Khái niệm Truyền thống
Truyền thống là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia
sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết
lẫn nhau, để tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển
của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng xã hội. Truyền thống là quá trình chia sẻ,
trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thống và đối tượng truyền
thống và quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên
tắc bình thông nhau.
Truyền thống đó là những tập tục, thói quen và nói chung là những kinh
nghiệm xã hội được hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ của con người,
công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông
(nôngdân). Nhưng yêu cầu chuyên môn hoá đã tạo thành những thợ chuyên sản xuất
hàng truyền thống ngay tại làng của mình.”[25, tr.23]. Theo tác giả làng nghề truyền
thống phải là một làng có truyền thống lịch sử lâu đời (có thể từ trước năm 1945),
có nhiều thợ giỏi và chính họ vừa làm nghề, lại vừa tham gia sản xuất nông nghiệp.
Nhưng sản phẩm của những người thợ giỏi đã tạo nên bản sắc của làng nghề nổi
tiếng trong và ngoài nước.
Nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng cho rằng: “Làng nghề là làng ấy, tuy có
trồng trọt theo lối thủ công và chăn nuôi (gà, lợn, trâu..) làm một số nghề phụ khác
(thêu, đan lát..) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ
thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có ông trùm, ông phó cả cùng một
số thợ và phó thợ đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử
ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra
những hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản
phẩm hàng hoá và có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng mở rộng xung quanh
với thị trường đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra
nước ngoài” [29, tr101].
Ta thấy các làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ
công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu
đời, được truyền đi truyền lại qua các thế hệ, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất,
cũng như bán sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ,
thậm chí là bán lẻ, họ có cùng tổ nghề, các thành viên luôn có ý thức tuân theo
những hương ước, chế độ, gia tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử phát
triển đã hình thành nghề ngay trên đơn vị cư trú trong xóm của họ.
Làng nghề thủ công truyền thống thường có đại đa số hoặc số lượng lớn dân
cư làm nghề cổ truyền, thậm chí là 100% dân cư làm nghề thủ công hoặc một vài
dòng họ chuyên làm nghề lâu đời, kiểu cha truyền con nối. Tuy nhiên sản phẩm của
họ không những ứng dụng cao mà còn là sản phẩm độc đáo, ấn tượng, tinh xảo.