SKKN một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24 36 tháng đạt hiệu quả tại trường mầm non nga thắng - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ ĐỘ TUỔI 24 - 36 THÁNG ĐẠT HIỆU QUẢ
TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA THẮNG - HUYỆN NGA
SƠN - TỈNH THANH HÓA

Người thực hiện: Vũ Thị Thanh
Chức vụ: Giáo Viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Nga Thắng
SKKN lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA NĂM 2019


MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi được áp dụng SKKN
2.2.1.Thuận lợi
2.2.3. Khó khăn

4
4
5
7
13
14
14
6
18
18
19
19
20


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết ngôn ngữ đối với con người nói chung,
với sự phát triển của trẻ mầm non nói riêng (đặc biệt là trẻ 2 - 3
tuổi) có một vị thế hết sức quan trọng. Nó là một trong những
cơ sở, tiền đề để cho trẻ phát triển toàn diện về cả thể chất lẫn
tinh thần. Ngôn ngữ giúp cho sự phát triển tư duy của trẻ. Ngôn
ngữ là phương tiện giúp cho chúng ta và nhất là trẻ em giao
tiếp với mọi người và giúp trẻ dễ dàng hoà đồng vào cuộc sống
một cách thân thiện nhất, nói sao cho mọi người hiểu, hiểu khi
người khác nói đó là điều cần thiết khi giao tiếp. Đồng thời,
thông qua giao tiếp giúp trẻ phát triển trí tuệ để nhận biết thế
giới xung quanh và phát triển tình cảm của trẻ.
Ở độ tuổi Nhà Trẻ (trẻ 24- 36 tháng) chủ yếu sử dụng ngôn
ngữ nói để giao tiếp và tìm hiểu về thế giới xung quanh và là



có vai trò to lớn đối với xã hội và đối với con người. Vấn đề phát triển ngôn ngữ
một cách có hệ thống cho trẻ ngay từ nhỏ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. [2]
Ý thức được điều đó, là một cô giáo Mầm Non trực tiếp dạy trẻ 24- 36
tháng tôi luôn có những suy nghĩ trăn trở làm sao để dạy các con phát âm chuẩn,
chính xác đúng Tiếng Việt. Vì thế tôi đã dạy các con thông qua các môn học
khác nhau và dạy các con ở mọi lúc mọi nơi qua các hoạt động hàng ngày, từ đó
trẻ khám phá hiểu biết về mọi sự vật hiện tượng, về thế giới xung quanh trẻ, phát
triển tư duy. Tôi thấy mình cần phải đi sâu tìm hiểu kỹ vấn đề này để từ đó rút ra
nhiệm vụ giáo dục cho phù hợp với yêu cầu phát triển của lứa tuổi. Chính vì vậy
nên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho
trẻ độ tuổi 24- 36 tháng đạt hiệu quả tại trường Mầm Non Nga Thắng Huyện Nga Sơn - Tỉnh Thanh Hóa” nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ đáp ứng chương trình GDMN mới hiện nay.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài này là muốn nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho
trẻ 24 - 36 tháng tuổi lớp Hoa Hồng tại trường mầm non Nga Thắng - Huyện
Nga Sơn - Tỉnh Thanh Hóa.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Trẻ 24 -36 tháng tuổi tại trường mầm non Nga Thắng - Huyện Nga Sơn Tỉnh Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc các tài liệu, giáo trình có liên quan
đến vấn đề khám phá khoa học cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, trao đổi với đồng nghiệp, với các cháu.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
- Phương pháp quan sát, đàm thoại
- Phương pháp trò chơi.
- Phương pháp thực hành trải nghiệm:
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề

Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻ
Mầm Non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng không thể thiếu
được. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt đối với trẻ
nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh
hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với
cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Nhờ có những lời chỉ dẫn
của người lớn mà trẻ dần dần hiểu được những quy định chung của xã hội mà
mọi người đều phải thực hiện theo những quy định chung đó.
Ngôn ngữ còn là phương tiện giúp trẻ tìm hiểu khám phá, nhận thức về môi
trường xung quanh, thông qua cử chỉ lời nói của người lớn trẻ sẽ được làm quen
với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh. Nhờ có ngôn ngữ
mà trẻ sẽ nhận biết ngày càng nhiều màu sắc, hình ảnh… của các sự vật , hiện
tượng trong cuộc sống hàng ngày.
Đặc biệt đối với trẻ 24- 36 tháng cần giúp trẻ phát triển mở rộng các loại
vốn từ, biết sử dụng nhiều loại câu bằng cách thường xuyên nói chuyện với trẻ
về những sự vật, hiện tượng, hình ảnh…. mà trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hành
ngày, nói cho trẻ biết đặc điểm, tính chất, công dụng của chúng từ đó hình thành
ngôn ngữ cho trẻ .
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Thuận lợi:
* Về phía cơ sở vật chất, nhà trường:
- Trường mầm non Nga Thắng là một trường chuẩn quốc gia. Khuôn viên
nhà trường nhiều cây xanh bóng mát, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị
tương đối đảm bảo cho công tác giảng dạy của giáo viên, môi trường trong và
ngoài lớp sạch sẽ đáp ứng yêu cầu giáo dục trẻ.
- Luôn được sự quan tâm chỉ đạo của quản lý nhà trường tạo điều kiện về
đời sống tinh thần cùng với chuyên môn trong công tác chăm sóc - nuôi dưỡng,
giáo dục trẻ
* Về phía giáo viên:


- Vì các cháu bắt đầu đi học nên còn khóc nhiều chưa thích nghi với điều
kiện sinh hoạt của lớp nên còn bỡ ngỡ. Mỗi cháu lại có những sở thích và cá tính
khác nhau.
- Trình độ nhận thức của trẻ trong lớp không đồng đều. Tháng tuổi của trẻ
chênh lệch nhau về tháng sinh quá xa ở lứa tuổi này sẽ dẫn đến sự chênh lệch về
trình độ nhận thức, sự hiểu biết, ngôn ngữ.
- Trí nhớ của trẻ còn nhiều hạn chế, trẻ chưa nhớ hết trật tự của các âm khi
sắp xếp thành câu vì thế trẻ thường xuyên bỏ bớt từ, bớt âm khi nói.
- 60% trẻ phát âm chưa chính xác hay ngọng, phát âm theo tiếng địa
phương và tiếng nựng của người lớn(chữ x- s, dấu ngã - dấu sắc, dấu hỏi - dấu
nặng…).
Ngay từ đầu năm học căn cứ vào cơ sở lý luận, thực trạng, kết quả thực tế
năm học trước tôi đã xây dựng kế hoạch đưa ra tiêu chí khảo sát chất lượng ban
đầu cho trẻ như sau:
(Kèm theo bảng khảo sát kết quả trên trẻ đầu năm ở phụ lục 1)
- Từ kết quả trên bản thân tôi rất băn khoăn phải làm gì và bằng biện pháp
như thế nào để cho trẻ được phát triển ngôn ngữ được tốt điều này đã thôi thúc
4


tôi mạnh dạn xúc tiến nội dung phương pháp để kích thích sự phát triển ngôn
ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là giáo dục khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ và
phát âm chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ
mạch lạc, giáo dục văn hoá giao tiếp lời nói. Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương
tiện phát triển thẩm mỹ, tình cảm, đạo đức. Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ mà trẻ dễ
dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt
hơn. Chính vì vậy mà trong quá trình dạy trẻ tôi đã mạnh dạn áp dụng một số
biện pháp dạy trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua một số hoạt động sau:

Môi trường ngoài lớp học là yếu tố góp phần tích cực trang các hoạt động
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục toàn diện trẻ. Trường đã tập trung xây
dựng môi trường giáo dục ngoài lớp học an toàn, đẹp, hấp dẫn trẻ. Nhà trường bố
trí các khu vực cho trẻ hoạt động vui chơi, sinh hoạt, học tập ngoài trời một cách
khoa học và phù hợp, bố trí diện tích sân tập thể dục cho trẻ toàn trường, sân vận
động nhằm phát triển thể chất cho trẻ gồm: chơi bật vòng, lăn bóng, bò qua ghế…
và một số trò chơi khác. Khu vực chơi với đồ chơi ngoài trời (cầu trượt, đu quay,
đu bay, bập bênh, nhà bóng…); khu vực chơi “giao thông”; khu vực chơi với đất,
cát, nước, đá, sỏi…; khu vực trẻ trồng rau, trồng cây và chăm sóc cây cối, con vật
nuôi; khu chơi với các nhân vật cổ tích, hay còn gọi là “vườn cổ tích”; khu “sân
khấu ngoài trời”, khu trồng cỏ, trồng hoa, trồng cây cảnh, cây ăn quả, cây bóng
mát trên sân trường; khu tạo sân cỏ… hệ thống đường đi lối lại trên sân; độ cao
của hệ thống tường bao, độ rộng của cổng và biển trường; khu đặt bảng tuyên
truyền, hộp thư cha mẹ. Các trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, khu vực hoạt động,
mọi gốc cây đều được treo, gắn tên biển hiệu để kích thích sự phát triển ngôn ngữ
của trẻ. Ngoài ra trên các mảng tường trống bên ngoài lớp học và tường rào nhà
trường đã cho vẽ những hình ảnh có chứa nội dung các câu chuyện, bài thơ… phù
hợp với lứa tuổi để khi trẻ đi dạo, đi chơi cô trò chuyện với trẻ về nội dung các
bức tranh trên tường, để kích thích trẻ trả lời, luyện phát âm các từ. Cô đặt ra các
câu hỏi, khuyến khích trẻ trả lời, cô định hướng, nhắc nhở, giúp đỡ khi trẻ không
tự trả lời được. Cô cho nhiều trẻ được trả lời và sau mỗi câu trả lời cho nhiều trẻ
nhắc lại. Như vậy vốn từ của trẻ sẽ được phát triển.[5]
Kết quả: Sau khi tổ chức cho trẻ thực hiện ở môi trường trong và ngoài lớp
thì tôi thấy ngôn ngữ và tư duy của trẻ phát triển tất tốt, trẻ mạnh dạn, tự tin
hứng thú hoạt động. Kết quả 16/17cháu đạt khả năng diễn đạt ngôn ngữ mạch
lạc khi giao tiếp = 94%

6



được cả câu theo yêu cầu câu hỏi của cô. Nếu trẻ nói cộc lốc , thiếu từ cô phải
sửa ngay cho trẻ.
7


Ví dụ 2: Trong bài nhận biết ” Quả cam” cô muốn cung cấp từ “ cam ” cho
trẻ cô phải chuẩn bị một quả cam thật để cho trẻ quan sát. Trẻ sẽ sử dụng các
giác quan như: sờ, nhìn….Nhằm phát huy tính tích cực của tư duy, rèn khả năng
ghi nhớ có chủ đích.
- Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát và phát triển ngôn
ngữ cho trẻ tôi đưa ra hệ thống câu hỏi:
+ Đây là quả gì? ( Quả cam ). Cho cả lớp nói từ quả cam, tổ phát âm 1-2
lần, nhóm phát âm ,cá nhân trẻ phát âm.
+ Quả cam có màu gì? Cho cả lớp nói màu vàng, tổ phát âm 2-3 lần, nhóm
phát âm, cá nhân trẻ phát âm.
+ Ăn cam cung cấp chất gì? (Vi ta min)
+ Ăn cam có vị gì ? (cho trẻ nếm)
Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải nói được
cả câu theo yêu cầu câu hỏi của cô. Nếu trẻ nói cộc lốc, thiếu từ cô phải sửa
ngay cho trẻ

(Hình ảnh: minh họa trẻ hoạt động nhận biết “Quả cam”)
Ví dụ 3: Bài nhận biết‘‘Ô tô’’ của chủ đề ‘‘Bé thích đi bằng phương tiện
giao thông gì’’
Khi vào bài tôi đặt câu đố :
‘‘Xe gì bốn bánh
Chạy ở trên đường
Còi kêu bim bim
Chở hàng chở khách’’(Ô tô )
- Trẻ trả lời đó là ô tô tôi đưa chiếc ô tô cho trẻ xem và hỏi

trẻ hay nói ngọng để giúp trẻ phát âm chuẩn và động viên những trẻ nhút nhát
mạnh dạn hơn khi trả lời.
+ Trẻ nói “Thỏ ngoan - Thỏ ngan”
+ Bác Gấu - Bác ấu
+ Con Cáo - Con áo
- Mỗi khi trẻ nói sai tôi dừng lại sửa sai luôn cho trẻ bằng cách : tôi nói mẫu
cho trẻ nghe 1-2 lần sau đó yêu cầu trẻ nói theo.Tôi sửa sai cho trẻ để trẻ nói
đúng từ.
- Thể hiện sắc thái, ngữ điệu nhân vật sẽ cuốn hút rất nhiều trẻ tham gia đặc
biệt những trẻ nhút nhát qua đó cũng mạnh dạn hơn. Đối với những trẻ đó tôi
động viên, khích lệ trẻ kịp thời.
- Tôi cho trẻ thể hiện ngữ điệu của các nhân vật trong truyện“ Thỏ ngoan”
+ Giọng Bác Gấu bị mưa rét thì ồm ồm và run, nét mặt buồn.
+ Giọng con Cáo thì gắt gỏng, nét mặt kênh kiệu.
+ Giọng Thỏ thì ân cần, niềm nở.
Ví dụ 2: Qua bài thơ “cây bắp cải” của chủ đề “cây rau, quả và những bông
hoa đẹp” tôi muốn cung cấp cho trẻ từ “cây bắp cải, màu xanh, ở giữa”. Tôi
chuẩn bị một chiếc bắp cải thật cho trẻ sử dụng các giác quan để quan sát, nhận
biết, gọi tên, nói đặc điểm của cây bắp cải.
- Tôi giải thích cho trẻ: Các con nhìn này đây là cây bắp cải mà hàng ngày
mẹ vẫn mua về để nấu cho các con ăn đấy. Các con nhìn xem lá bắp cải rất to có
màu xanh và khi cây bắp cải càng lớn thì lá càng cuộn thành vòng tròn xếp trồng
lên nhau lá non thì nằm ở bên trong được bao bọc bằng những lớp lá già ở ngoài.
Bên cạnh đó trong quá trình cho trẻ quan sát tôi sử dụng hệ thống câu hỏi để
phát triển ngôn ngữ cho trẻ như sau:
+ Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? (Cây bắp cải )
(Tôi cho cả lớp, tổ, nhóm, cá nhân đọc từ “cây bắp cải” 2-3 lần)
+ Cây bắp cải có màu gì? (màu xanh)
9



- Như vậy qua câu chuyện ngoài những từ ngữ trẻ đã biết lại cung cấp thêm
vốn từ mới cho trẻ để ngôn ngữ của trẻ thêm phong phú.
10


- Ngoài việc cung cấp cho trẻ vốn từ mới thì việc sửa lỗi nói ngọng, nói lắp
cũng vô cùng quan trọng khi trẻ giao tiếp. Khi áp dụng vào bài dạy tôi luôn chú
trọng đến điều này và đã kịp thời sửa sai cho trẻ ngay tại chỗ.
Như vậy thơ truyện không những kích thích nhận thức có hình ảnh của trẻ
mà còn phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách toàn diện. Trẻ nhớ nội dung câu
truyện và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện để tiếp thu kiến thức.
Kết quả: Qua hoạt động này trẻ phát âm đúng từ ngữ, cô sửa được 1 số lỗi
như nói ngọng, nói nhịu, nói lắp của 1 số trẻ, trẻ hứng thú hoạt động kết quả
16/17 cháu đạt khả năng diễn đạt ngôn ngữ giao tiếp = 94%
* Thông qua hoạt động âm nhạc:
- Để thu hút trẻ vào giờ học và giúp trẻ phát triển ngôn ngữ được tốt hơn
thôi thúc tôi phải nghiên cứu, sáng tạo những phương pháp dạy học tốt nhất
có hiệu quả với trẻ.
- Đối với tiết học âm nhạc trẻ được tiếp xúc nhiều đồ vật như: Trống, lắc,
phách tre, mõ, xắc xô và… nhiều chất liệu khác, trẻ được học những giai điệu
vui tươi kết hợp với các loại vận động theo bài hát một cách nhịp nhàng. Để làm
được như vậy đó là nhờ sự hiểu biết, nhận thức vốn từ, kỹ năng nhất là sự giao
tiếp bằng ngôn ngữ của trẻ được tích luỹ và lĩnh hội, phát triển tính nghệ thuật,
giúp trẻ yêu âm nhạc.
- Qua những giờ học hát, vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ
có mục đích, biết dùng ngôn ngữ và động tác minh họa đơn giản:
Ví dụ 1: Qua giờ hát, vận động theo nhạc bài “Khám tay”
+ Khi chuẩn bị vận động thì tôi hỏi trẻ “tay đẹp đâu” trẻ đưa tay ra và trả
lời “tay đẹp đây” 2 lần sau đó trẻ hát và vận động:

mà trẻ đang trực tiếp tri giác, gợi ý trẻ đến hoạt động.
Ví dụ: + Ai đây? Cái gì đây? Mầu gì? hình gì?
+ Ở đâu? Khi nào? Bao giờ?
+ Với ai? Cho ai? Để Cho ai?
- Câu hỏi kích thích sâu về bản chất sự vật hiện tượng, tả sự vật nêu đặc
điểm sự vật và cảm xúc của bản thân.
Ví dụ:
+ Tiếng kêu này của con gì? Tiếng gõ này của dụng cụ nào?
+ Bên trong túi hộp có gì?
+ Hai quả này quả nào to hơn?
+ Cái nào to hơn, cái nào bé hơn?
+ Trong bức tranh có những ai? Có những con vật nào?
- Câu hỏi kích thích trẻ giải thích phỏng đoán suy đoán diễn biến và kết quả
sự vật hiện tượng.
Ví dụ: + Cái này dùng để làm gì?
+ Con vật này có ích lợi gì?
+ Phương tiện này dùng để làm gì?
12


+ Cháu xếp nhà như thế nào?
- Câu hỏi khuyến khích trẻ giải thích ý kiến đánh giá sự vật.
Ví dụ: + Cái này dung để làm gì?
+ Con thích cái nào? Vì sao?
- Sau khi sử dụng các loại câu hỏi với trẻ tôi thấy có sự thay đổi rõ rệt ở trẻ
lớp tôi. Trẻ tiến triển về nhận thức, ngôn ngữ và tình cảm trong khi trò chuyện, đàm
thoại tôi sử dụng câu hỏi một cách linh hoạt tùy thuộc vào sự phát triển của trẻ.
Kết quả: Trẻ sử dụng câu hỏi một cách linh hoạt 16/17 trẻ = 94%.
2.3.3. Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời:
* Đối với phần quan sát có mục đích: Quan sát hoa hồng

góc. Đây có thể coi là một hình thức quan trọng nhất, bởi giờ chơi có tác dụng
rất lớn trong việc phát triển vốn từ, đặc biệt là tích cực hoá vốn từ cho trẻ.Thời
gian chơi của trẻ chiếm nhiều nhất trong thời gian trẻ ở nhà trẻ, là thời gian trẻ
được chơi thoải mái nhất. Trong qúa trình trẻ chơi sử dụng các loại từ khác
nhau, có điều kiện học và sử dụng các từ có nội dung khác nhau.
Ví dụ 1: Trò chơi trong khực “Thao tác vai” trẻ được chơi với em búp bê
và khi trẻ chơi sẽ giao tiếp với các bạn bằng ngôn ngữ hàng ngày.
- Tôi cho trẻ chơi trò chơi “cho búp bê ăn” và giao tiếp với trẻ thông qua hệ
thống câu hỏi:
+ Ai đây? (búp bê )
Tôi cho trẻ nhắc lại từ “búp bê” 1-2 lần để trẻ nhận biết tên gọi “búp bê”
+ Đây là cái gì? (cái bát, cái thìa)
Sau mỗi câu trả lời tôi cho trẻ phát âm lại từ “cái bát, cái thìa” 1-2 lần để
phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhiều hơn.
- Qua giờ chơi cô không những dạy trẻ kỹ năng sống mà còn dạy trẻ nghe,
hiểu giao tiếp cùng nhau và trao cho nhau những tình cảm yêu thương, gắn bó
của con người.
Ví dụ 2: Trong khu vực “Hoạt động với đồ vật” ở chủ đề “mẹ và những
người thân yêu của bé” tôi cho trẻ xâu vòng hoa tặng mẹ. Tôi chuẩn bị cho mỗi
trẻ một rổ đựng hoa bằng nhựa, dây xâu.
Cô củng cố, cung cấp kiến thức ngôn ngữ cho trẻ thông qua hệ thống câu hỏi:
+ Các con đang xâu cái gì? (xâu vòng hoa)
(Tôi cho trẻ nhắc lại từ 1-2 lần)
+ Xâu vòng để tặng ai? (tặng mẹ)
+ Vòng hoa màu gì? (màu đỏ)
Sau mỗi câu trả lời nếu trẻ trả lời sai cô sửa sai và cho trẻ nhắc lại theo hình
thức cả lớp, tổ, nhóm, cá nhân từ 1-2 lần để cung cấp vốn từ, phát triển ngôn
ngữ cho trẻ
Kết quả: Khả năng phát âm rõ lời của trẻ đạt 15/17 cháu = 88 %
2.3.5. Sử dụng 1 số trò chơi để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

Xì xà xì xụp
Ngồi thụp xuống đây.
[6 ]
* Trò chơi: “Chi chi chành chành”
Cách chơi: Cho 1 nhóm trẻ ngồi thành vòng tròn cô chơi cùng với trẻ, trẻ
xòe tay trái ngửa lên trên. Dùng ngón tay trỏ phải của mình chấm vào lòng bàn
tay trái theo nhịp đọc của bài đồng giao. Khi đọc đến câu cuối, cô và trẻ đọc
chậm rồi bất ngờ bàn tay trái nắm lại, giữ lấy ngón tay trỏ (Cũng có khi ngón tay
của trẻ nhấc lên nhanh hơn, bàn tay trái nắm lại không kịp).

Hình ảnh cô cùng trẻ đang chơi trò chơi chi chi chành chành
*Trò chơi “dung dăng dung dẻ”
Cô giáo và trẻ dắt nhau đi thành vòng tròn ở ngoài sân vừa đi vừa đọc lời
thơ. Đọc đến câu cuối “xì xà xì xụp, ngồi thụp xuống đây”, cô và trẻ cùng ngồi
thụp xuống. Sau đó trò chơi lặp lại.
15


Hình ảnh cô cùng trẻ đang chơi trò chơi dung dăng dung dẻ
Qua những trò chơi này, mục đích là trẻ biết kết hợp hành động, lời thơ để
kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ nghệ thuật trầm bổng, ngắt giọng đúng nhịp.
Trong quá trình chơi, tôi đều kích thích trẻ đọc các bài thơ, ca dao, đồng giao để
luyện phát âm cho trẻ
* Trò chơi học tập: “Cái gì? Dùng để làm gì?”
- Mục đích của trò chơi này là tôi muốn trẻ nhận biết được một số đồ dùng
quen thuộc và biết tác dụng của những đồ chơi từ đó ngôn ngữ của trẻ cũng
được phát triển :
- Chuẩn bị:
+ Đồ dùng để ăn uống (Bát , thìa, cốc , ca…)
+ Đồ dùng để mặc (Quần, áo, khăn, mũ…)

thích ngôn ngữ của trẻ phát triển
- Ngoài ra trong hoạt động đón, trả trẻ tôi luôn nhắc trẻ biết chào ông, bà,
bố, mẹ, như vậy kích thích trẻ trả lời câu trọn vẹn, bên cạnh đó giáo dục trẻ có
thói quen lễ phép, biết vâng lời.
Kết quả: Trẻ biết chào cô, chào ông bà, bố mẹ khi ra về, lời nói rõ ràng
mạch lạc 17/17 cháu = 100%
* Ở giờ ngủ trưa
Trước khi cho trẻ ngủ cô có thể cho trẻ nằm xuống và đọc cho trẻ nghe về 1
số bài thơ, đồng dao ca dao hay những câu chuyện có nội dung nhẹ nhàng hoặc cô
có thể hát ru những bài dân ca, bài hát mang tính chất du dương gần gũi với trẻ để
trẻ cảm nhận được vần điệu của các bài thơ đó. Khi trẻ ngủ dậy cô tổ chức 1 trò
chơi dân gian gì đó gây hứng thú cho trẻ mà trẻ vừa đọc lời vừa chơi trò chơi qua
đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc và làm phong phú vốn từ cho trẻ.
* Hoạt động trả trẻ:
- Trong góc vận động của lớp tôi đã sử dụng những chiếc vòng thể dục màu
xanh, đỏ, để chơi trò chơi “lái ô tô” . Khi trẻ chơi với vòng tôi sử dụng hệ thống
câu hỏi để giúp ngôn ngữ của trẻ thêm mạch lạc, rõ ràng hơn:
+ Đây là cái gì? (Cái vòng)
+ Vòng này có màu gì? (Màu đỏ)
+ Vòng này có màu gì? (Màu xanh )
+ Vòng để làm gì? (để học, để chơi trò chơi ạ)
+ Con sẽ chơi gì với chiếc vòng? (Con lái ô tô)
Kết quả: Trẻ phân biệt được màu xanh, đỏ, vàng qua các giờ học 16/17
cháu = 94%.
2.3.7: Tuyên truyền và phối hợp với phụ huynh trong công tác giáo dục
trẻ phát triển ngôn ngữ:
- Để vốn từ của trẻ phát triển tốt không thể thiếu được đó là sự đóng góp
của gia đình. Việc giáo dục trẻ ở gia đình là rất cần thiết tôi luôn kết hợp chặt
17


Phụ lục 2: Bảng khảo sát kết quả trên trẻ của lớp cuối năm học:
Tổng số
trẻ

17

Nội dung

Kết quả
Đạt

Chưa đạt

Khả năng nghe hiểu

16 trẻ = 94%

1trẻ = 6%

Khả năng nói mạch lạc,
đầy đủ câu

16 trẻ = 94%

1 trẻ = 6%

Khả năng phát âm rõ lời

15 = 88%


- Đối với nhà trường: Bản SKKN của tôi được Hội đồng khoa học trường
đánh giá cao, dùng làm tài liệu lưu tại trường và được nhà trường triển khai cho
tất cả mọi người cùng tham khảo, học tập, rút kinh nghiệm trong việc Chăm sócGiáo dục trẻ, nhờ đó mà việc “phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24- 36 tháng
đạt hiệu quả tại trường Mầm Non Nga Thắng - Huyện Nga Sơn” trong năm học
2018-2019.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1: Kết luận
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở độ tuổi 24 - 36 tháng là vấn đề rất quan trọng
và cần thiết, mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau.
Phát triển ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống giao tiếp hàng
ngày và hoạt động nhận thức của con người nói chung, sự phát triển tâm lý nhận
thức của trẻ nói riêng, đặc biệt là trẻ lứa tuổi 24- 36 tháng khả năng ngôn ngữ
phát triển rất tốt. Do vậy tôi nhận thấy rằng việc rèn luyện và phát triển ngôn
ngữ cho trẻ là cả quá trình liên tục và có hệ thống đòi hỏi giáo viên phải kiên trì,
bền bỉ khắc phục khó khăn để tìm ra phương tiện, điều kiện cần thiết cho sự phát
19


triển toàn diện của các con, hơn nữa cô giáo là người gương mẫu để trẻ noi theo,
điều này đã góp phần bồi dưỡng thế hệ măng non của đất nước.
Qua một năm nghiên cứu đề tài này tôi đã rút ra kinh nghiệm cho bản thân
như sau:
- Cần tạo môi trường ngôn ngữ phong phú ở trong và ngoài lớp để trẻ được
thực hành trải nghiệm, để phát triển ngôn ngữ cho trẻ
- Cần phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động chơi tập có chủ định.
- Cần phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời.
- Cần phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động góc.
- Cần sử dụng một số trò chơi để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Cần phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động đón trẻ, trả trẻ,


Vũ Thị Thanh

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Giáo trình Tâm lý học mầm non - Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, năm
2014 của Nguyễn Bích Thủy - Nguyễn Thị Anh Thư
[2]. Modul 3: Đặc điểm phát triển ngôn ngữ, mục tiêu và kết quả mong đợi ở
trẻ mầm non về ngôn ngữ - Chuyên đề BDTX dành cho cán bộ quản lý, giáo
viên mầm non.
[3]. Bách khoa toàn thư mở wikipedia tiếng Việt
[4]. Bài nói chuyện tại đại hội lần thứ III của hội nhà báo Việt Nam ngày
08/09/1962
[5]. Thông tư 28/2006/TT-BGD ĐT ngày 30/12/2016 sửa đổi, bổ sung một số
nội dung của Chương trình Giáo dục mầm non. – NXB Giáo dục Việt Nam –
Tác giả: TS. Lê Thu Hương – TS. Trần Thị Ngọc Trâm – PGS. TS Lê Thị
Ánh Tuyết.
[6]. Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, chuyện kể, câu đố theo chủ đề (dành
cho trẻ 3 - 36 tháng) - Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, năm 2015 của tác giả
Lê Thu Hương


DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Vũ Thị Thanh
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường mầm non Nga Thắng

Huyện Nga Sơn

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B, hoặc
C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

C

2010-2011

B

2012-2013

B

2014-2015

B

2015-2016




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status