PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGỌC LẶC
TRƯỜNG MẦM NON PHÙNG GIÁO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN VIỆC SỬ
DỤNG TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG ĐIỆN, NƯỚC Ở
TRƯỜNG MẦM NON PHÙNG GIÁO
Người thực hiện: Lê Thúy Lan
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường mầm non Phùng Giáo
SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý
NGỌC LẶC, NĂM 2019
MỤC LỤC
TT
I
1
2
3
4
II
1
2
3
4
III
Kết luận
Kiến nghị
18
18
18
5
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Năng lượng là nhu cầu tự nhiên không thể thiếu đối với cuộc sống của con
người, năng lượng góp phần duy trì sự sống và phát triển đất nước. Nếu như không
có năng lượng sẽ không có sự sống, mọi thứ sẽ không tồn tại, thế nhưng nguồn năng
lượng quý báu của chúng ta đã đang dần hao mòn và gần như cạn kiệt.
Đất nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhu cầu năng lượng ngày càng tăng nhanh, trong khi khả năng cung cấp năng
lượng trong nước có hạn, khả năng nhập khẩu hạn chế. Chính vì thế, nguy cơ
thiếu hụt năng lượng ngày càng đáng lo ngại và hiện hữu. Đặc biệt là năng
lượng điện và năng lượng nước là những năng lượng hàng ngày, hàng giờ mỗi
con người, mỗi gia đình chúng ta đều cần đến và trực tiếp sử dụng. Chúng ta hãy
thử tưởng tượng nếu không có điện, không có nước thì cuộc sống xung quanh sẽ
ra sao? Nếu con người chỉ biết sử dụng, mà không biết gìn giữ, bảo vệ thì nguồn
năng lượng sẽ bị cạn kiệt, dẫn đến tình trạng thiếu điện, mất điện, thiếu
nước...ảnh hưởng đến sản xuất, kinh tế, sinh hoạt và cuộc sống của con người.
Hiện nay, ở nước ta vẫn còn hiện tượng sử dụng điện khá lãng phí, nhất là ở
khu vực công cộng, trụ sở, cơ quan, đèn quảng cáo.., nhiều đường phố đèn cao áp
dày đặc chiếu sáng suốt đêm với độ sáng quá mức cần thiết; nhiều phòng làm việc
buông rèm và bật điện, không tận dụng ánh sáng tự nhiên gây lãng phí điện. Bên
dụng điện, nước đối với các thiết bị đó trong một ngày ở trường là rất lớn, kéo
theo chi phí cho tiền điện, tiền nước hàng tháng ở trường mầm non Phùng Giáo là
rất cao vì trong quá trình sử dụng chưa có những biện pháp phù hợp để tiết kiệm
điện, nước.
Là Hiệu trưởng quản lý tất cả các mặt hoạt động trong nhà trường, tôi xét
thấy mình cần phải có trách nhiệm cao trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện
cho giáo viên và học sinh tiết kiệm điện, nước, góp phần thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí cho nhà trường. Việc thực hiện sử dụng điện, nước tiết kiệm và
hợp lý và sẽ góp phần đảm bảo nhu cầu sử dụng trước mắt và giữ gìn nguồn năng
lượng cho tương lai, đồng thời giảm được chi phí đáng kể cho nhà trường. Chính
vì vậy tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp chỉ đạo thực hiện việc sử dụng tiết
kiệm năng lượng điện, nước ở trường mầm non Phùng Giáo” làm đề tài nghiên
cứu và ứng dụng vào thực hiện trong năm học tại nhà trường.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng sử dụng điện, nước phục
vụ cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ tại trường mầm non Phùng Giáo để lựa
chọn, đề xuất, áp dụng một số biện pháp có tính khả thi cao, nhằm nâng cao việc
sử dụng điện, nước tiết kiệm và hiệu quả tại trường mầm non Phùng Giáo.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu tổng quát những vấn đề liên quan đến tiêu thụ điện, nước và
thiết bị sử dụng tiết kiệm điện, nước trong trường mầm non Phùng Giáo để tìm
ra những biện pháp chỉ đạo và thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tiết
kiệm năng lượng điện, nước tại trường mầm non Phùng Giáo.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
* Nhóm các phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết:
Gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các
tài liệu và văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
* Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập số liệu thực tiễn kết hợp với lý
trường trong việc giúp giáo viên và học sinh hiểu được cách tiết kiệm năng
lượng là rất cần thiết, bên cạnh sự hỗ trợ tư phía các cơ quan có thẩm quyền,
mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên cũng đã chủ động sáng tạo tìm kiếm thông tin
cũng như những phương pháp giúp con trẻ tiếp cận dễ dàng hơn với khái niệm
cũng như những biện pháp sử dụng tiết kiệm năng lượng điện, nước.
Đây là trách nhiệm cao cả mà toàn xã hội, đặc biệt là các nhà trường phải
thực hiện tốt, coi đây là một việc làm thường xuyên không chỉ hôm nay, ngày
mai mà cho cả thế hệ mai sau.
2. Thực trạng của việc sử dụng tiết kiệm năng lượng điện, nước trước
khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Thuận lợi.
- Trường Mầm non Phùng Giáo là một trường công lập, có diện tích rộng
rãi thoáng mát. Trường có truyền thống về phát triển giáo dục, có bề dày thành
tích trong suốt chặng đường phát triển. Chi bộ Đảng, Ban giám hiệu, công đoàn,
đoàn thanh niên đã nỗ lực phấn đấu hết mình trong mọi hoạt động của nhà
trường. Với bề dày kinh nghiệm trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ, nhà
trường đã nhiều năm đạt trường tiên tiến cấp huyện và đạt nhiều giải cao trong
3
các hoạt động của cô và trò, trường liên tục nằm trong tốp 10/24 trường mầm
non của huyện.
- Trường luôn được sự chỉ đạo sâu sát của phòng Giáo dục và Đào tạo
huyện Ngọc Lặc và sự quan tâm của Đảng ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban
nhân dân xã, các ban ngành đoàn thể, các thôn.
- Nhân dân địa phương và trực tiếp là các bậc phụ huynh học sinh trên địa
bàn đã có sự quan tâm đến ngành học. Thể hiện rõ ở công tác huy động trẻ ra
lớp đạt tỷ lệ cao tư đầu năm học.
- Đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên được đào tạo chuẩn và trên chuẩn,
nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp, yêu mến trẻ. Có khả năng tiếp cận kiến
nói riêng.
2.3. Kết quả của thực trạng.
4
Tư những thực trạng trên, đầu năm học tôi xây dựng kế hoạch và tiến
hành khảo sát: Kiến thức về tiết kiệm điện, nước của cán bộ, giáo viên, nhân
viên và học sinh trong trường. Kết quả cụ thể đầu năm học như sau:
T
T
1
2
3
4
Khảo sát đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên đầu năm học
Số
Kết quả khảo sát đầu năm học
CBGV
Nội dung
Tốt
Khá
TB
Yếu
được
23
10
45
3
14
22
5
23
6
27
8
36
3
14
22
2
9
Bảng khảo sát trên trẻ đầu năm học:
T
T
Nội dung khảo sát
Trẻ có thói quen tiết kiệm điện,
nước trong sinh hoạt
Trẻ tích cực tham gia vào các hoạt
2 động mang ND về tiết kiệm năng
lượng điện, nước.
Biết chia sẻ và hợp tác với bạn bè và
3 những người xung quanh để tiết kiệm
năng lượng điện, nước.
1
Kết quả khảo sát
Tổng
số
trẻ
khảo
sát
146
62
89
38
Đạt
Chưa đạt
5
4
Có phản ứng với các hành vi không
tiết kiệm năng lượng điện, nước.
235
150
64
85
36
thực tế hoạt động của tưng bộ phận.
* Đối với Giáo viên:
- Tháng 9/2018: Tổ chức thảo luận qua đĩa hình “Hoạt động với nước” ,
“Tiết kiệm điện, nước”.
- Thực hiện lồng ghép vào các hoạt động trong ngày cũng như phối kết
hợp với phụ huynh giáo dục trẻ ý thức tiết kiệm điện, nước trong năm học.
* Đối với Phụ huynh:
Tháng 9/2018, Tháng 12/2018, tháng 4/2019 Tổ chức hội nghị cha mẹ
học sinh để triển khai, sơ kết, tổng kết cùng phụ huynh năm học 2018 - 2019,
6
thảo luận và thống nhất những nội dung kết hợp cùng nhà trường thực hiện
chuyên đề xuyên suốt cả năm học như sau:
+ Phụ huynh thường xuyên nhắc nhở trẻ sử dụng nước tiết kiệm trong
sinh hoạt hàng ngày tại nhà như: Không tắm quá lâu, không nghịch nước, không
mở vòi nước quá to khi rửa tay, chỉ rót nước vưa đủ uống, không để thưa lãng
phí nước…
+ Phụ huynh làm gương cho trẻ qua các hoạt động như: Sử dụng lại nước
rửa rau, rửa chén, giặt quần áo…để cọ rửa nhà tắm, bồn cầu, tưới cây… Kịp thời
sửa chữa những vòi nước hỏng.
+ Vận động phụ huynh sưu tầm và sáng tác các câu chuyện, bài thơ, hình
ảnh, bài vè, bài hát có nội dung “Tiết kiệm điện, nước”.
+ Phụ huynh chụp ảnh hành vi đúng của trẻ mang vào lớp để giáo viên
khen ngợi và nêu gương cho các bạn.
Tóm lại, việc xây dựng kế hoạch thực hiện là yếu tố quan trọng và chiến
lược trong việc chỉ đạo và thực hiện việc tiết kiệm năng lượng điện, nước trong
nhà trường, giúp cho người cán bộ quản lý định hướng được quá trình chỉ đạo và
thực hiện, kế hoạch đã chỉ ra cụ thể những biện pháp để giáo viên thực hiện. Sau
khi áp dụng biện pháp này tôi nhận thấy đã mang lại hiệu quả rất lớn trong việc
khảo sát thiết kế của xã cũng thấy được những vị trí, những thiết bị nhà trường đưa
ra, đề nghị là hoàn toàn hợp lý và đã họp báo cáo Đảng ủy - Ủy ban nhân dân xã
tiến hành xây dựng, tu sửa cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nhà trường.
* Kết quả: Ủy ban nhân dân xã đã tổ chức thực hiện xây dựng mới cho
nhà trường công trình quét lại vôi ve 1.800m 2 tường, thay thế 21 bộ cửa chính và
cửa sổ với tổng là 42,75m2 , sửa lại đáy bể nước mưa cũ bằng cách đổ bê tông
dày 35cm và ốp bằng gạch ốp lát chống thấm toàn bộ hệ thống bể ở khu Làng
Chuối. Thay thế tất cả các đường ống dẫn nước bị thấm, dò rỉ dẫn nước đến tất
cả các nhóm, lớp để tránh lãng phí nước.
Thay toàn bộ 300m đường dây điện loại Cáp 2x10 li chịu lực lớn tư cột
tổng đến tất cả các bảng điện. Lắp đặt 16 quạt tường, quạt cây cá nhân để sử
dựng thay quạt trần ở các phòng học ở cả khu chính và khu lẻ, phòng làm việc
của Ban giám hiệu. Cải tạo, tu sửa bếp nấu chống khói, nạo hết lớp hồ bám bụi
đen, trát lại toàn bộ khu tường bếp sáng hơn, tạo ánh sáng cho khu bếp, thay
các ô cửa kính cũ kĩ, hoen ố để tận dụng ánh sáng tự nhiên giúp tiết kiệm điện.
Tổng kinh phí đầu tư là 79.000.000 triệu đồng.
b. Phối kết hợp với phụ huynh hỗ trợ sửa chữa, thay thế các thiết bị
điện, nước:
Tiếp tục phát huy và thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục với phương
châm: Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.
Trước khi vào năm học, tôi lên kế hoạch và phối hợp với Ban đại diện hội cha
mẹ học sinh khảo sát các thiết bị điện, nước, báo cáo cụ thể các khoản thu - Chi
ngoài ngân sách theo đúng như công văn hướng dẫn các khoản thu - chi ngoài
ngân sách của Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện, trong đó có khoản thu tu sửa các
thiết bị điện, nước.
Bản thân đã cùng bàn bạc với Ban giám hiệu đi đến thống nhất về các
khoản thu, chi ngoài ngân sách, lập tờ trình và kế hoạch đã được Ủy ban nhân
dân xã có ý kiến chỉ đạo, vận động nhân dân, phụ huynh cùng góp công, góp của
và cùng chính quyền địa phương chăm lo xây dựng cơ sở vật chất nói chung và
các thiết bị điện, nước nói riêng, để giúp nhà trường thực hiện tốt việc tiết kiệm
3.3. Khảo sát và tham mưu xây dựng các nội qui, quy định về sử dụng
năng lượng điện, nước trong nhà trường và chỉ đạo cán bộ, giáo viên, nhân
viên thực hiện tiết kiệm điện, nước .
Căn cứ vào chương trình mục tiêu quốc gia của Chính phủ về tiết kiệm
năng lượng, các quyết định, văn bản hướng dẫn của Bộ giáo dục và Đào tạo, Sở,
Phòng giáo dục và Đào tạo về tiết kiệm năng lượng hiệu quả, tôi đã bàn bạc
thống nhất trong Ban giám hiệu nhà trường xây dựng các nội qui, quy định về
tiết kiệm năng lượng trong nhà trường và tổ chức thực hiện, cụ thể:
a. Tổ chức khảo sát nắm tình hình sử dụng năng lượng điện, nước toàn
trường:
Để làm căn cứ xây dựng các giải pháp hành chính tiết kiệm điện, nước, trước
khi bước vào năm học mới, Ban giám hiệu đã tìm hiểu cũng như theo dõi, kiểm tra
tình hình sử dụng các thiết bị điện, nước trong toàn trường. Kết quả cho thấy tình
hình sử dụng năng lượng điện, nước của một số bộ phận chưa hợp lý như:
* Đối với các thiết bị điện:
- Giáo viên các nhóm, lớp có thói quen cứ đến lớp là bật hết quạt, bóng điện
để thông thoáng phòng mặc dù lúc đó mới 6h45 phút - thời tiết còn rất mát mẻ.
- Văn phòng nhà trường nhân viên khi làm xong việc khi đứng lên quên
không tắt quạt, tắt bóng điện, tắt máy tính.
- Một số bóng điện bị bụi bám nên ánh sang bị hạn chế.
- Bảo vệ trường nhiều khi quên không tắt điện thắp sáng ban đêm.
* Đối với các thiết bị nước:
- Chậu rửa tay trong nhà vệ sinh nhiều cháu vặn nước quá to để rửa tay
hoặc khi rửa xong không tắt vòi.
- Một số đường ống dẫn nước bị vỡ và rò rỉ ở các đầu nối dẫn đến thất
thoát nước.
- Nhân viên, giáo viên khi bể hết nước, bật máy bơm và làm việc khác bể
nước đầy không nhớ để tắt máy dẫn đến nước chảy tràn ra ngoài lãng phí.
b. Xây dựng các qui định hành chính tiết kiệm điện, nước:
9
lang, đèn bảo vệ phải theo qui định bật tắt theo mùa: Mùa hè bật vào 19 giờ, tắt
vào 5 giờ sáng. Mùa Đông bật vào 18 giờ 30 phút, tắt vào 6 giờ sáng.
- Đối với tổ nuôi dưỡng:
Phải dùng hoàn toàn nước bơm lên bể để rửa. Tuyệt đối không rửa đồ dùng,
dụng cụ bơm xả trực tiếp nước để rửa tránh lãng phí nước. Khi bơm nước lên bể cần
lắp hệ thống báo nước đầy để rút máy bơm không để tình trạng nước đầy quá chảy
tràn ra ngoài; tủ lạnh bỏ ít đồ chỉ cần bật số nhỏ, máy xay thịt khi xay xong phải tắt
ngay tránh để máy chạy không…Trước khi bắt tay vào rửa bát nhân viên nuôi dưỡng
đã thực hiện gạn bỏ thức ăn thưa xong mở rửa. Khi rửa bát, dụng cụ chế biến…
Không để nước tràn ra ngoài nhiều hoặc cấp dưỡng khi rửa rau đã sử dụng lại nước
đó để cọ sàn. Sau khi vo gạo, rửa rau xong lấy nước đó để tưới cây, tưới rau vưa tiết
kiệm được điện, nước vưa giúp tạo mội trường Xanh – Sạch – Đẹp, tạo không khí
trong lành.
10
Cô và trẻ tận dụng nước vo gạo hàng ngày để tưới cho cây
- Đối với các bộ phận khác:
- Ban giám hiệu, nhân viên văn phòng thực hiện tiết kiệm điện, chỉ dùng
quạt treo tường khi có một mình trong phòng làm việc. Không bật bóng điện
trong phòng mà kéo gọn rèm che cửa sổ để tận dụng ánh sáng tự nhiên. Các trang
thiết bị điện trong các phòng làm việc như quạt, máy tính, đàn... đều phải tắt khi
ra khỏi phòng. Vào mùa hè nóng bức khi chỉ có một đến hai người làm việc
không được bật quạt trần mà chỉ được sử dụng quạt treo tường hoặc quạt cá nhân.
Đặt máy tính ở chế độ “hibernate” hoặc “sleep” khi không sử dụng. Không nên để
chế độ bảo vệ màn hình, vì chương trình này sẽ tiêu thụ điện nhiều hơn là tiết
kiệm điện. Rút phích cắm các thiết bị ra khỏi ổ khi không sử dụng.
- Nhà trường thực hiện bảo dưỡng đều đặn như: Thay thế, lau chùi các
bóng đèn theo lịch cố định để tránh bụi tích tụ và đảm bảo ánh sáng chiếu ra là
sáng nhất.
nhiệm của mình làm gương về thực hiện tốt các qui định về thực hiện tiết kiệm
điện, nước cho trẻ noi theo.
Tư khi xây dựng nội quy, quy định trên giáo viên đã có ý thức hơn trọng
việc sử dụng năng lượng điện, nước tiết kiệm, bằng chứng là mức sử dụng điện,
nước ở nhà trường giảm xuống đáng kể so với trước.
3.4. Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn, chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ tiết
kiệm điện, nước và xây dựng môi trường giáo dục tiết kiệm năng lượng điện,
nước trong và ngoài lớp.
a. Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn và chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ tiết
kiệm điện, nước .
Để cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường nắm vững kiến thức về năng
lượng và tiết kiệm năng lượng cũng như biết lồng ghép tích hợp vào các hoạt
động trong ngày để giáo dục trẻ biết tiết kiệm năng lượng. Trước khi bước vào
năm học, cùng với tổ chức bồi dưỡng các chuyên đề mới, tôi đã chủ động tổ
chức tập huấn nội dung tiết kiệm năng lượng hiệu quả trong trường mầm non, tư
nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và cách lựa chọn nội dung, trò chơi,
thời điểm để tổ chức đạt hiệu quả cao.
12
(Tổ chức tập huấn cho giáo viên, nhân viên nội dung tiết kiệm điện, nước)
b. Chỉ đạo giáo viên xây dựng môi trường trong lớp và ngoài lớp.
* Xây dựng môi trường trong lớp.
- Giáo viên tạo ra môi trường sử dụng năng lượng tiết kiệm năng lượng
như: Khi cô cùng trẻ ra khỏi phòng là tắt điện, tắt quạt và giải thích với trẻ tắt
điện và quạt khi ra khỏi phòng giúp tiết kiệm điện, hoặc mở hết các cánh cửa để
tận dụng ánh sáng mặt trời giúp tiết kiệm điện. Khi thấy vòi nước chảy thì phải
kịp thời khóa lại, hoặc lấy nước vưa đủ uống giúp tiết kiệm nước...
- Giáo viên tìm các hình ảnh phù hợp bên dưới có các lời nhắc “Chỉ mở
cốt lõi của việc tiết kiệm điện, nước, hiểu được mục tiêu, nội dung và biện pháp
tiết kiệm năng lượng ở trường mầm non và nhận thấy được sự cần thiết phải
giáo dục cho trẻ biết tiết kiệm năng lượng thì mới có thể giúp trẻ nhận biết được
lợi ích và tầm quan trọng của việc tiết kiệm năng lượng điện, nước.
Tôi hướng dẫn và chỉ đạo giáo viên lồng ghép nội dung giáo dục tiết kiệm
năng lượng trong các hoạt động sau:
* Trong giờ đón, trả trẻ:
- Trò chuyện và gợi ý để trẻ kể về những vật dụng ở lớp thường sử dụng
điện. Trao đổi, thảo luận với để trẻ biết được những thiết bị tiết kiệm điện nước
như bóng điện Compac, vòi nước vặn…
- Xem tranh phân biệt hành vi đúng, sai trong sử dụng năng lượng điện, nước.
- Giáo viên còn sưu tầm, sáng tác những mẩu chuyện, những bài vè,
những trò chơi có nội dung tiết kiệm điện, nước để dạy trẻ trong giờ đón, trả trẻ
cũng như ở mọi lúc mọi nơi, giúp khắc sâu thêm về nội dung tiết kiệm điện,
nước hằng ngày của trẻ.
- Khi cho trẻ ra sân tập thể dục cô trò chuyện cho trẻ biết lợi ích của ánh
nắng buổi sáng đối với cơ thể.
* Trong hoạt động học:
Chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ hiểu được giá trị của năng lượng điện nước
không phải là một chủ đề cụ thể, mà đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức để biết
lồng ghép, tích hợp vào các chủ đề cho phù hợp, góp phần mang lại hiệu quả cao
trong giáo dục trẻ ý thức tiết kiệm điện, nước.
14
Giáo viên dạy trẻ cách sử dụng điện, nước tiết kiệm
Bên cạnh đó cần giáo dục cho trẻ biết là trẻ còn nhỏ không nên đụng vào
hay sờ vào các thiết bị điện hoặc ổ cắm điện vì có thể gây nguy hiểm cho trẻ.
trường chúng tôi, hầu hết trẻ đã có ý thức tiết kiệm năng lượng khi tham gia các
hoạt động liên quan đến năng lượng điện, nước.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Qua một năm học chỉ đạo thực hiện đề tài. Kết quả thật đáng mưng, ý
thức về thực hành tiết kiệm điện, nước của cán bộ giáo viên trong trường chuyển
biến rõ rệt hẳn lên so với đầu năm học:
* Đối với bản thân.
- Tăng cường công tác bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho đội
ngũ giáo viên về các phương pháp, biện pháp trong việc tiết kiệm điện nước cho
gia đình và xã hội.
- Cần chú trọng tới công tác tham mưu, công tác xã hội hoá giáo dục để
đầu tư cơ sở vật chất, các trang thiết bị điện, nước tiết kiệm, hiệu quả để tạo
những điều kiện tốt nhất cho các hoạt động học tập, vui chơi và sinh hoạt tại
trường của học sinh, giúp cha mẹ trẻ tin tưởng, yên tâm gửi con tại trường.
* Đối với cán bộ, giáo viên:
- 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên có ý thức về việc thực hiện tiết kiệm
năng lượng điện, nước.
- 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên có ý thức và thực hiện tốt các quy
định sử dựng điện, nước trong nhà trường. Nhờ vậy mà lượng điện sử dụng của
nhà trường đã được tiết kiệm một cách tối đa, giảm chi phí đáng kể cho việc chi
trả tiền điện, nước hàng tháng.
- 100% giáo viên biết lồng ghép các nội dung giáo dục tiết kiệm năng
lượng điện, nước để dạy trẻ trong các hoạt động hàng ngày.
Đối chiếu với kết quả khảo sát đầu năm học thì kết quả của cuối năm
đạt được như sau:
T
T
1
2
lệ%
Khá
TB
Yếu
Tỷ
Tỷ
Tỷ
SL lệ SL lệ SL
lệ%
%
%
22
12
55
8
36
2
9
0
0
0
0
0
22
14
64
7
32
1
4
0
0
17
- Trẻ có thói quen tốt trong việc sử dụng tiết kiệm điện, nước, không cần
sự nhắc nhở của cô giáo khi trẻ ở trường và bố mẹ khi trẻ ở nhà. Trẻ biết nhắc
quanh để tiết kiệm
năng lượng điện,
nước.
Có phản ứng với các
hành vi không tiết
kiệm năng lượng
điện, nước.
Kết quả khảo sát cuối năm học
Đạt
Chưa đạt
Số trẻ
Tỉ lệ %
Số trẻ
Tỉ lệ %
235
230
98
5
2
235
- Nhận thức của phụ huynh về xây dựng môi trường giáo dục trong trường
mầm non được nâng lên rõ rệt, ban đại diện hội cha mẹ học sinh đã quan tâm
thiết thực đến công tác tu sửa, xây dựng cơ sở vật chất trong và ngoài trường
học. Đặc biệt đóng góp ngày công lao động để tu sửa, thay thế các thiết bị điện,
nước đã hư hỏng cho nhà trường.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
18
1. Kết luận
Tư hiệu quả thu được khi áp dụng các giải pháp chỉ đạo tiết kiệm điện
nước trong năm học qua, tôi đã rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Ngay tư đầu năm học nhà trường cũng như tưng cán bộ giáo viên, nhân
viên phải xây dựng được kế hoạch, đưa ra giải pháp chỉ đạo, thực hiện phù hợp
với tình hình thực tế của trường và địa phương.
- Làm tốt công tác tham mưu với địa phương, phối kết hợp với phụ huynh
đầu tư xây dựng, tu sửa cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nhà trường.
- Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục để đầu tư cơ sở vật chất,
trang thiết bị cho nhà trường.
- Lên kế hoạch: kiểm tra, giám sát, góp ý và thực hiện tốt, kịp thời chế độ
thưởng phạt đã được qui định của nhà trường.
- Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng và thảo luận, góp ý kiến
kiến thức về thực hiện tiết kiệm điện, nước. Tư đó tạo điều kiện về vật chất cũng
như tinh thần động viên giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
- Chỉ đạo giáo viên biết tích hợp, lồng ghép các hành vi tốt về tiết kiệm
điện, nước vào các hoạt động trong ngày cho trẻ. Tìm tòi học hỏi ứng dụng thêm
các hoạt động thực nghiệm đơn giản để giúp trẻ hiểu biết thêm về năng lượng và
các loại năng lượng thay thế.
- Tạo ra một môi trường sử dụng năng lượng điện, nước tiết kiệm, không
Phùng giáo, ngày 9 tháng 4 năm2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
……………………………………………….... tôi tự làm, không sao chép nội dung
……………………………………………….....
của người khác
……………………………………………….....
Người viết sáng kiến
……………………………………………….....
Lê Thúy Lan
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1] Chỉ thị số 05-CT/TW ra ngày 15/5/2016 của Bộ chính trị về đẩy mạnh “Học
tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”
[2] Chỉ thị số 21- CT/TW ra ngày 21/12/2012 của Bộ chính trị về việc đẩy
mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
[3] Quốc hội khoá XII đã thảo luận “Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả” và đến 17/6/2010 Quốc Hội ban hành “Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm
và hiệu quả”.
21
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
thông qua hoạt động ngoài
trời tại trường Mầm non
Phùng Giáo.
Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)
Năm học
đánh giá
xếp loại
Phòng
GD&ĐT
Ngọc Lặc
B
2014 – 2015
B