Một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ 3 4 tuổi người dân tộc thiểu số ở trường mầm non sông âm, huyện ngọc lặc, tỉnh thanh hóa - Pdf 57

I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ nói, giao tiếp và đọc viết có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng để phát triển nhân cách của trẻ mầm non nói riêng, của con
người và xã hội nói chung. Lứa tuổi mầm non là thời kỳ phát cảm ngôn ngữ, đây
là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất có sự lĩnh hội ngôn ngữ nói và các
kỹ năng đọc viết ban đầu của trẻ. Giai đoạn này trẻ đạt được những hình thành
vĩ đại mà ở các giai đoạn sau không thể có được, trẻ học nghĩa và cấu trúc của
từ, cách sử dụng từ ngữ để chuyển tải suy nghĩ, cảm xúc của bản thân, hiểu mục
đích và cách thức con người sử dụng chữ viết.
“Hiện nay, ngôn ngữ sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước
ta là tiếng Việt. Vì vậy, việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non vùng dân tộc
thiểu số có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhằm nâng cao khả năng sử dụng tiếng
Việt của trẻ, đảm bảo cho các em có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng
Việt, để hoàn thành chương trình Giáo dục Mầm non, tạo tiền đề cho việc học
tập, lĩnh hội kiến thức của cấp học tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục vùng dân tộc thiểu số.” [1].
Trẻ chậm phát triển ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc lĩnh hội kiến
thức, hình thành các kỹ năng và từ đó thiếu niềm tin vào hoạt động học tập. Sự
non yếu về tiếng Việt sẽ làm hạn chế về giao tiếp của trẻ em vùng dân tộc thiểu
số trong sinh hoạt ở nhà trường, gia đình và cộng đồng.
Vì vậy, để chuẩn bị tốt tiếng Việt cho trẻ là rất cần thiết và điều đó tùy
thuộc vào đặc điểm, điều kiện từng vùng miền khác nhau để giáo viên lựa chọn
hình thức, phương pháp phù hợp từ đó có những tác động tốt nhất khi dạy tăng
cường tiếng Việt cho trẻ.
Thực tế hiện nay, phần lớn học sinh dân tộc thiểu số còn nhút nhát, rụt rè,
ngại giao tiếp. Bên cạnh đó vốn tiếng Việt của các em rất ít, hàng ngày các em
giao tiếp với bố mẹ, cộng đồng bằng tiếng mẹ đẻ, môi trường giao tiếp hạn hẹp.
Các em chỉ nói tiếng Việt khi ở trường còn khi về với gia đình các em lại sống
trong gia đình thuần tiếng dân tộc. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc hình
thành và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt của các em gặp nhiều khó khăn.

cứu của E.Arkin). Những đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn
này là: Ngôn ngữ của trẻ được xây dựng từ câu ngắn đến câu có nhiều âm tiết.
Ngôn ngữ của trẻ thể hiện giọng điệu rõ nét. Ngôn ngữ của trẻ thường kèm theo
các hình thức hoạt động tư duy khác nhau, kích thích hành động. Thường nhắc
đi nhắc lại một từ trong câu trọn vẹn. Ngôn ngữ mang màu sắc cảm xúc rõ nét.
- Ngôn ngữ của trẻ có ưu thế rõ nét thể hiện hứng thú cá nhân, hoạt động
cá nhân của trẻ.
Về đặc điểm ngôn ngữ và những khó khăn của trẻ em người dân tộc thiểu số
khi sử dụng tiếng Việt trong học tập và giao tiếp: [4]
“Trẻ không dễ dàng phát âm chuẩn các âm và các thanh tiếng Việt: từ khi
sinh ra trẻ người dân tộc thiểu số chỉ quen với việc nghe, nói các âm và các
thanh các kết hợp âm thanh của tiếng mẹ đẻ, trong khi các âm và các thanh
tiếng Việt có sự khác biệt so với tiếng mẹ đẻ của trẻ. Vì vậy trẻ em người dân tộc
thiểu số phát âm tiếng Việt dễ sai lệch do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng mẹ
đẻ”.
+ Khả năng nhận biết và sử dụng từ loại, mẫu câu tiếng Việt: trẻ nhỏ vốn
kinh nghiệm hiểu biết về cuộc sống và kỹ năng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ còn nghèo
nàn, nên ảnh hưởng đến việc tiếp nhận tiếng Việt.
+ Môi trường giao tiếp tiếng Việt: Trẻ em người dân tộc thiểu số thường
sống ở những địa bàn xa xôi, hẻo lánh, ít có điều kiện tiếp xúc với sách vở, các
phương tiện truyền thông nên nhiều chủ đề rất khó đối với khả năng nhận thức
của trẻ.”
Muốn khắc phục điều này, trẻ em người dân tộc thiểu số trước khi đến
trường ít nhất phải có những hiểu biết ban đầu về tiếng Việt. Muốn đạt được
điều đó thì công tác này phải được duy trì thường xuyên và có khoa học, vừa
đảm bảo tính lâu dài, tính kế hoạch, xuyên suốt cả quá trình từ gia đình đến nhà
trường, nhưng vẫn không để trẻ mất đi bản sắc văn hóa của dân tộc mình mà trẻ
được tiếp thu kiến thức bằng ngôn ngữ tiếng Việt một cách tự nhiên, dễ hiểu,
nhanh nhất, đồng thời tạo hứng thú cho trẻ đến trường mạnh dạn, tự tin tham gia
tốt vào các hoạt động. Góp phần phát triển toàn diện cho trẻ.

- Giáo viên thiếu kinh nghiệm nên còn lúng túng trong lựa chọn các biện
pháp tổ chức các hoạt động giáo dục tăng cường tiếng Việt cho trẻ.
- Môi trường để tăng cường tiếng Việt cho trẻ còn nghèo nàn, giáo viên
chưa chú trọng đến việc sưu tầm và làm đồ dùng đồ chơi để hỗ trợ tăng cường
tiếng Việt cho trẻ.
- Công tác tuyên truyền tăng cường tiễng Việt cho trẻ đến các bậc phụ
huynh hiệu quả chưa cao.
- Giáo viên chưa nhanh nhạy, sáng tạo trong việc tiếp cận những vấn đề
mới của bậc học.
2.3. Kết quả của thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến
Để làm tốt đề tài “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số” tôi đã
bắt tay vào khảo sát khả năng về ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số của
lớp.
Kết quả mới chỉ đạt được như sau:

4


TT

Nội dung khảo sát

TS
trẻ
được
KS

Kết quả trước khi áp
dụng sáng kiến
Đạt

16
62
ngữ tiếng Việt, đề nghị người khác
đọc sách cho nghe.
Trẻ tự tin biết bày tỏ cảm xúc và ý
4
26
11
42
15
58
kiến cá nhân, đoàn kết với bạn bè.
3. Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi người dân
tộc thiểu số ở trường mầm non Sông Âm
3.1. Tự học tập, bồi dưỡng để nâng cao kiến thức về phương pháp
“Tăng cường tiếng Việt cho trẻ”
Việc tự học tập, tham khảo tài liệu để nâng cao nhận thức về tầm quan
trọng của việc “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số” là việc làm
cần đặt lên hàng đầu. Bởi người giáo viên mầm non được xem là người thầy đầu
tiên dạy trẻ trong quá trình học nói theo ngôn ngữ chung, ngôn ngữ tiếng Việt và
nhất là đối với trẻ vùng dân tộc thiểu số, trẻ thường nhút nhát. Cô giáo, đôi khi
cũng như là người bạn, là người mẹ, luôn gần gũi, dạy bảo, lắng nghe và chia sẻ,
khơi gợi tính tò mò, lòng ham hiểu biết của trẻ, có những tác động giúp ngôn
ngữ tiếng Việt của trẻ phát triển hơn, trẻ sẽ tích cực tham gia các hoạt động, tiếp
thu kiến thức một cách có hiệu quả.
Chính vì vậy, bản thân tôi thường xuyên trao đồi kiến thức qua các lớp tập
huấn của huyện, của trường, qua tham khảo sách báo để không ngừng nâng cao
năng lực chuyên môn của mình, trau dồi thêm kiến thức để tăng cường tiếng
Việt cho trẻ dân tộc thiểu số.
Sưu tầm các nguồn tài liệu như:

cầu mình phải làm gì? Chỉ có như thế mới giúp trẻ cảm nhận được vấn đề một
cách tốt nhất.
Qua việc tự học tập, tự nghiên cứu tài liệu và tự bồi dưỡng những kiến
thức làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo tôi đã nhận thấy bản thân mình đã học hỏi và
tích lũy được nhiều kiến thức hơn mở mang tầm mắt hơn và nâng cao được kỹ
năng hơn trong việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Ngoài ra bản thân còn hiểu
biết và nắm bắt kịp thời được tâm lý của trẻ lớp mình, khả năng phát âm chuẩn
tiếng Việt của trẻ. Từ đó xây dựng kế hoạch tăng cường tiếng Việt cho trẻ một
cách cụ thể hơn, sát với thực tế hơn.
3.2. Gần gũi, thương yêu trẻ, tôn trọng tiếng mẹ đẻ của trẻ và đối xử
công bằng với trẻ, tăng cường tiếng Việt cho trẻ mọi lúc, mọi nơi.
Khi trẻ bất đồng về ngôn ngữ với cô, với các bạn trẻ sẽ thấy mình lạc
lõng, tự thu mình lại, không trò chuyện, không tham gia vào các hoạt động tập
thể. Vì vậy, việc gần gũi, yêu thương, tôn trọng và đối xử công bằng với trẻ có
vai trò rất quan trọng trong việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Khi cô giáo gần
gũi, quan tâm và yêu thương trẻ, làm cho trẻ hoàn toàn tin tưởng thì trẻ sẽ rất
hứng thú và hợp tác cùng cô trong mọi hoạt động. Khi được tôn trọng, trẻ cũng
dần thể hiện sự tôn trọng và luôn yêu thích được cùng làm việc với người mà trẻ
tin yêu.
Chính vì vậy, để giúp trẻ nhanh chóng hòa nhập với các bạn, với cô, tôi
luôn gần gũi tôn trọng, thân thiện đối xử công bằng với trẻ, luôn động viên
khuyến khích trẻ, để trẻ ham muốn được đến trường, muốn được gặp cô, được
vui chơi cùng các bạn. Cô sử dụng cả hai ngôn ngữ để trò chuyện với cháu.
Ví dụ: Tại lớp tôi có cháu Bùi Văn Nam nhà cháu ở mãi trong núi, xa
trung tâm, không tiếp xúc với mọi người xung quanh, ngôn ngữ khi cháu bắt đầu
học nói thì chỉ có ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt là hoàn toàn mới lạ đối với
6


cháu, bởi vậy khi trẻ được đưa đến trường trẻ cảm thấy xa lạ và khóc đòi về, “ó

Qua trò chuyện với trẻ tôi nắm được khả năng nhận thức và phát âm của
mỗi trẻ, trẻ nào còn sử dụng câu cụt, trẻ nào còn nhút nhát để từ đó tôi có những
biện pháp phù hợp cũng như dành nhiều thời gian cho những trẻ đó hơn.
- Giờ trả trẻ cũng như giờ chơi tự do tôi tạo mọi tình huống cho trẻ tiếp
xúc với tiếng Việt, như tổ chức một số trò chơi và cô cùng tham gia với trẻ. Cho
trẻ hát hoặc đọc các bài thơ có trong chương trình…không những vậy tôi luôn
tìm mọi cách để thay đổi hình thức giúp trẻ không thấy nhàm chán khi tham gia
các hoạt động.
Qua vận dụng biện pháp này, tôi thấy trẻ ở lớp tôi đã có sự chuyển biến
tốt, trẻ đã mạnh dạn hơn trong giao tiếp, không rụt rè mỗi khi cô gọi. Biết sử
dụng tiếng Việt để giao tiếp cùng cô, cùng bạn, hòa nhập với bạn, không nhút
nhát khi chơi với bạn.
7


3.3. Tạo môi trường tiếng Việt trong và ngoài nhóm lớp.
Môi trường lớp học đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy và học, nó
quyết định phần lớn tới chất lượng dạy học của nhóm lớp. Đối với dạy chương
trình tăng cường tiêng Việt thì việc tạo môi trường tiếng Việt trong và ngoài lớp
học lại càng có ý nghĩa lớn lao hơn đối với trẻ, tạo cho trẻ có nhiều cơ hội học
tập và được hoạt động với môi trường tiếng Việt.
* Xây dựng môi trường tiếng Việt trong lớp.
Các khu chơi của lớp được sắp xếp hợp lý có sự phân chia rõ ràng, phù
hợp với diện tích của lớp, bố trí tranh ảnh ở các góc chơi luôn đảm bảo thẩm
mỹ, mang tính mở, trang trí những hình ảnh gần gũi với cuộc sống của trẻ. Ở
mảng chủ đề tôi trang trí bằng những sản phẩm của cô và trẻ cùng làm trong quá
trình khai thác chủ đề, tạo sự mới mẻ, hấp dẫn, kích thích trẻ hoạt động.
Hình ảnh: Mảng chủ đề chính.
Nội dung trang trí các góc chơi phải phù hợp với tên gọi của góc để trẻ dễ
dàng nhận biết. Tên các góc chơi luôn được viết to theo đúng quy định mẫu chữ

học cho trẻ.

Hình ảnh Khu thiên nhiên ở hiên lớp và ngoài vườn trường.
Tôi sử dụng hiên lớp và một góc nhỏ của vườn để xây dựng khu thiên
nhiên của lớp mình. Khu thiên nhiên được sưu tầm các loại hoa gần gũi với trẻ.
Mỗi chậu hoa được gắn với tên gọi để cung cấp từ cho trẻ.
Qua việc tạo môi trường tăng cường tiếng Việt cho trẻ trong và ngoài lớp,
tôi thấy rằng. Trẻ rất thích được tham gia các hoạt động cùng cô trang trí môi
trường trong và ngoài lớp học sinh động, xanh – sạch – đẹp. Trẻ có thể được làm
quen với các từ, chữ cái tiếng Việt ở mọi lúc, mọi nơi một cách tự nhiên, nhẹ
nhàng, không gò bó, không áp đặt.
3.4 Lồng ghép tăng cường tiếng Việt hợp lý vào chương trình giáo dục
trẻ hàng ngày.
Việc lồng ghép tăng cường tiếng Việt vào chương trình giáo dục trẻ hàng
ngày, tạo cơ hội cho trẻ được làm quen với tiếng Việt mọi lúc, mọi nơi. Trẻ tiếp
thu một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, không gò bó, không áp đặt. Chính vì vậy tôi
lựa chọn nội dung lồng ghép tiếng Việt vào từng hoạt động cụ thể như sau:
* Lồng ghép vào các hoạt động mang tính tập thể để giúp trẻ tích cực,
hứng thú hoạt động học tập và nói tiếng Việt.
Hoạt động nhận thức của trẻ mầm non chủ yếu lĩnh hội qua vui chơi dưới
sự hướng dẫn của người lớn. Vì vậy cô giáo cần biết cách sáng tạo trong tổ chức
các trò chơi cho trẻ. Đối với trẻ dân tộc thiểu số rất nhút nhát, rụt rè, hầu hết các
em rất thụ động trong các hoạt động mang tính tập thể. Nắm được đặc điểm này
tôi đã phải tăng cường tổ chức các hoạt động tập thể trong các hoạt động hàng
ngày như: giao nhiệm vụ chung cho cả lớp (hoặc) phân nhóm, chia tổ hoạt động
thực hiện một yêu cầu nhiệm vụ nào đó của cô giáo. Khi phân chia trẻ cô chú ý
ghép các trẻ có tính mạnh dạn với trẻ nhút nhát, rụt rè với nhau. Yêu cầu trẻ
mạnh dạn làm nhóm trưởng hoặc chủ trò. Kết quả của nhóm sẽ được đánh giá
vào sự hợp tác hoạt động tích cực của cả nhóm.
Ví dụ: Trò chơi “Ném còn”, “Kéo co”......

- Phương pháp hướng dẫn: tôi chỉ vào từng bông hoa và nói tên ví dụ cô
chỉ vào “Bông hoa Ban” cho trẻ nhắc lại “Bông hoa Ban” mỗi từ như vậy nhắc
lại 3- 4 lần. Sau khi trẻ nắm vững từ mới thì dạy trẻ nói cả câu “Đây là bông hoa
Ban”. Sau đó đưa ra từ mệnh lệnh “Cắm bông hoa Ban vào lọ”. Khi trẻ thực
hiện đúng yêu cầu của cô giáo có nghĩa là trẻ đã hiểu được nghĩa của từ.
- Sử dụng đồ dùng truyền thống gần gũi của địa phương bằng vật thật
giúp trẻ tăng cường tiếng Việt có hiệu quả hơn như cái dón, hông xôi, váy
Mường, khung cửi, cái ná, cái cung, ....
Bộ váy Mường

Cái dón

Cái hông- cái niếng
Cái nỏ
Như vậy, qua việc lồng ghép tăng cường tiếng Việt vào các hoạt động giáo
dục phù hợp đã tạo điều kiện để trẻ được tham gia các hoạt động tập thể cùng
nhau, được trao đổi, thảo luận. Ngôn ngữ tiếng Việt đến với trẻ nhẹ nhàng
hơn, phù hợp hoàn cảnh, giúp trẻ ghi nhớ dễ dàng. Nhờ vậy mà vốn ngôn ngữ
tiếng Việt của trẻ đã phong phú hơn, trẻ đã bắt đầu tự tin hơn trong hoạt động.
10


3.5. Kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc
tăng cường tiếng Việt cho trẻ.
Việc kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc chăm
sóc giáo dục trẻ và nhất là trong việc “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi
vùng dân tộc thiểu số” là một việc làm không thể thiếu.
Bởi như chúng ta đã biết trong các hoạt động trên lớp trẻ được phát triển
ngôn ngữ tiếng Việt qua cô giáo. Nhưng chúng ta biết phối hợp với gia đình
trong việc cung cấp thêm vốn tiếng Việt cho trẻ ở nhà lại càng tốt hơn vì thời

Việt, tiếp thu bài học tốt hơn.
4. Kết quả đạt được sau khi áp dụng sáng kiến
Sau khi sử dụng một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 3
- 4 tuổi người dân tộc thiểu số, tôi thấy rằng :
* Đối với trẻ: Kết quả khảo sát đạt được như sau:
11


T
T

Nội dung khảo sát

TS
Kết quả trước
Kết quả sau khi
trẻ khi áp dụng sáng
áp dụng sáng
MG
kiến
kiến
đượ
Đạt
Chưa
Đạt
Chưa
c
đạt
đạt
KS Số

nghe.
Trẻ tự tin biết bày tỏ cảm
4 xúc và ý kiến cá nhân, 26 11 42 15 58 26 100
đoàn kết với bạn bè
Qua bảng khảo sát cho thấy rằng, kết quả trên trẻ đã có chuyển biến rõ rệt
- Trẻ đã hiểu nghĩa các từ khái quát, biết lắng nghe, trao đổi với người đối
thoại bằng ngôn ngữ tiếng Việt.
- Biết dùng ngôn ngữ tiếng Việt để diễn đạt thành những câu có nghĩa.
- Biết kể chuyện theo tranh minh họa theo cách nghĩ của mình, đề nghị
người khác đọc sách cho nghe. Tự tin khi giao tiếp với mọi người.
* Đối với cô:
- Nắm vững các phương pháp để tổ chức hoạt động cho trẻ.
- Biết tạo môi trường phù hợp để tăng cường tiếng Việt cho trẻ.
- Có sự sáng tạo trong việc tổ chức hoạt động và xử lý các tình huống.
- Phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh trong mọi hoạt động.
*Đối với phụ huynh:
Đã hoàn yên tâm khi gửi con đến lớp, phụ huynh đã đóng góp tinh thần
cũng như vật chất giúp tôi thực hiện tốt việc dạy tiếng Việt cho trẻ.
Tôi tin tưởng rằng, khi tiếp tục áp dụng các biện pháp này trong suốt quá
trình chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc thiểu số thì kết
đạt được ở các năm học sẽ còn cao hơn nữa
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
12


1. Kết luận
Từ những kết quả đã đạt được trong việc đưa ra một số biện pháp nhằm
nâng cao chất lượng tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số, bản thân
tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
Giáo viên phải thật sự yêu thương gần gũi trẻ. Luôn tạo tình cảm cho trẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status