BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BẠC THỊ TỎA
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN Ở TRƢỜNG MẦM NON
MƢỜNG GIÔN, QUỲNH NHAI, SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BẠC THỊ TỎA
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN Ở TRƢỜNG MẦM NON
MƢỜNG GIÔN, QUỲNH NHAI, SƠN LA
Chuyên ngành: Khoa học Giáo dục
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: NGƢT. TS. Vũ Tiến Dũng
Sơn La, năm 2018
Bác Gấu Đen và hai chú thỏ
2
NXB
Nhà xuất bản
3
TC1
Tiêu chí 1
4
TC2
Tiêu chí 2
5
TC3
Tiêu chí 3
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Kết quả nhóm đối chứng theo các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển
ngôn ngữ của trẻ trƣờng mầm non Mƣờng Giôn………………….……………45
1.1.2. Khái niệm, chức năng, vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ ............ 9
1.1.3. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi ...................................... 13
1.1.4. Khái niệm, phân loại, vai trò của kể chuyện đối với việc phát triển ngôn
ngữ cho trẻ ....................................................................................................... 15
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................................. 18
1.2.1. Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động kể chuyện ở trƣờng mầm non cho
trẻ 5 - 6 tuổi ở trƣờng Mầm non Mƣờng Giôn. ................................................. 18
1.2.2. Kết quả khảo sát………………………………………………………... 19
Tiểu kết chƣơng 1 ............................................................................................ 22
CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6
TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN .................................................... 24
2.1. Một số yêu cầu trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động
kể chuyện ......................................................................................................... 24
2.2. Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể
chuyện .............................................................................................................. 24
2.2.1. Khái niệm biện pháp ............................................................................... 24
2.2.2. Biện pháp sử dụng các phƣơng tiện trực quan trong giờ kể chuyện ............ 24
2.2.3. Biện pháp kể chuyện diễn cảm ............................................................... 30
2.2.4. Biện pháp đàm thoại ............................................................................... 31
2.2.5. Sử dụng phƣơng pháp giảng giải ............................................................ 33
2.2.6. Sử dụng hình thức đóng kịch phân vai các nhân vật .............................. 33
2.2.7. Biện pháp dạy trẻ tự kể lại truyện ........................................................... 35
2.2.8. Biện pháp giúp trẻ vận dụng ngôn ngữ mạch lạc trong giờ kể chuyện .... 36
2.2.9. Biện pháp kết hợp kể chuyện trong các hoạt động khác .......................... 37
2.2.10. Biện pháp thực hiện công tác tuyên truyền ........................................... 38
2.2.11. Vận dụng phƣơng pháp mới để tổ chức kể chuyện cho trẻ mẫu giáo
......................................................................................................................... 39
Tiểu kết chƣơng 2 ............................................................................................ 42
tuổi cuối cùng của tuổi mẫu giáo là giai đoạn then chốt để chuẩn bị cho trẻ vào
trƣờng phổ thông, sự phát triển tâm sinh lí gần nhƣ hoàn chỉnh. Vì vậy, trẻ cần
phải đƣợc trang bị hết sức cẩn thận để đảm bảo cho lứa tuổi này vững tin bƣớc
vào môi trƣờng học tập mới.
1.3. Dạy trẻ từ những cái gần gũi, quen thuộc, đẹp đẽ, tƣơi sáng, giúp trẻ dễ
tiếp thu và nhớ lâu, là nguồn cảm xúc lành mạnh, tƣởng tƣợng phong phú và tƣ
duy đúng hƣớng, giúp trẻ lĩnh hội tốt hơn những giá trị lớn của văn hóa dân tộc
và loài ngƣời. Câu ca dao mẹ ru, truyện cổ tích bà kể, trò chơi dân gian chơi
cùng bạn, cảnh sắc quê hƣơng đƣợc thấy… những cái đó đã góp phần xây dựng
nên tính cách tốt đẹp của bao thế hệ. Do vậy phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông
qua hoạt động kể chuyện là rất phù hợp với trẻ. Kể chuyện ở đây không đơn
thuần là giáo viên kể và trẻ nghe, mà là lấy trẻ làm trung tâm, trẻ đƣợc tích cực
hoạt động, đƣợc tự cảm nhận, trẻ đƣợc thỏa mãn xúc giác, nhãn quan và thể hiện
sự sáng tạo của mình.
Ở độ tuổi này trẻ rất thích nghe những câu chuyện cổ tích, thần thoại, đồng
thoại giữa các em và các nhân vật trong những câu chuyện có sự đồng điệu về
tâm hồn và tình cảm, trẻ thích đƣợc thể hiện theo tính cách cũng nhƣ ngôn từ
của những nhân vật trong các câu chuyện mà trẻ đƣợc nghe, đƣợc xem.
Những câu chuyện là một phần của cuộc sống gợi lên cho trẻ những xúc cảm
lành mạnh, giúp trẻ nhận biết thế giới xung quanh, những mối quan hệ giữa
con ngƣời với con ngƣời... góp phần giáo dục thẩm mĩ. Sự lôi cuốn, hấp dẫn
của những câu chuyện làm trẻ say mê, chăm chú lắng nghe từ đó nhớ đƣợc
1
tình tiết của chuyện, tích cực hoạt động trong kể chuyện, điều đó giúp cho
quá trình nhận thức, chú ý, tƣ duy của trẻ phát triển, mở rộng vốn từ phát
triển ngôn ngữ cho trẻ.
Kể chuyện giúp trẻ phát triển năng lực tƣ duy, óc tƣởng tƣợng sáng tạo,
biết yêu quý cái đẹp, hƣớng tới cái đẹp. Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một
2
học khác nhau nhƣ: triết học, tâm lí học, xã hội học, giáo dục học và đã đạt đƣợc
những thành công to lớn.
Liên Xô (cũ) là một trong những đất nƣớc mà phƣơng pháp phát triển ngôn
ngữ đƣợc nghiên cứu rất kỹ lƣợng với rất nhiều nhà sƣ phạm nổi tiếng mà chúng
ta biết nhƣ: Chikhieva.E.I một tác giả có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu về sự
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo. Ngoài ra còn có rất nhiều tác giả có những
đóng góp quan trọng vào việc hình thành chuyên ngành phát triển ngôn ngữ của
trẻ ở nƣớc ta có thể kể đến các tác giả nhƣ:
- V.X.Mukhina với Tâm lí học mẫu giáo đã đi sâu nghiên cứu về tâm lí của
trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo.
Winhem Preyer với Trí óc của trẻ em đã miêu tả chi tiết về sự phát triển
của trẻ em, phát triển về vận động, hình thành ngôn ngữ và trí nhớ cụ thể thông
qua cậu bé Alex.
- A.B.Watson với Cơ sở tâm lí học của giáo dục mẫu giáo đã có những
nghiên cứu chuyên biệt về trẻ nhỏ từ mới sinh đến 6 tuổi.
- M.M.Konoxva với Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học đã chỉ ra các hình
thức, biện pháp để nhằm dạy nói cho trẻ trƣớc khi vào tuổi đi học.
- A.N.Xookolop với Lời nói bên trong và tư duy đã nghiên cứu những vấn
đề lý luận về ngôn ngữ và tƣ duy của trẻ em.
Ở Việt Nam, vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng đƣợc đông đảo các
nhà giáo dục quan tâm và đi vào nghiên cứu nhƣ:
Các tác giả nhƣ Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lƣu Thị Lan,
Nguyễn Thanh Hồng với công trình Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời
nói cho trẻ, đề cập tới tiếng Việt dựa vào đó tác giả xây dựng các phƣơng pháp
nhằm phát triển và hoàn thiện lời nói cho trẻ.
Tác giả Hoàng Thị Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với
mầm non.
Các công trình nghiên cứu trên là những định hƣớng và là cơ sở quý báu để
chúng tôi thực hiện đề tài khóa luận.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Xác định hoạt động kể chuyện đang thực hiện ở trƣờng mầm non.
- Triển khai hình thức tổ chức kể chuyện qua việc soạn giáo án và kết hợp
kể chuyện trong nhiều hoạt động khác nhằm phát triển ngôn ngữ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên
cứu và khảo sát thực trạng sử dụng hoạt động kể chuyện cho trẻ 5 - 6 tuổi ở
trƣờng mầm non.
- Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 5 - 6
tuổi thông qua hoạt động kể chuyện.
4
- Tổ chức thực nghiệm để ứng dụng đề xuất tính khả thi của các biện pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện.
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động kể chuyện ở
trƣờng mầm non Mƣờng Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La thông qua hoạt động kể
chuyện.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tôi đã tiến hành điều tra ở trƣờng mầm non Mƣờng Giôn, Quỳnh Nhai,
Sơn La.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
Đọc sách, báo và các tài liệu có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu. Từ
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, cấu trúc
của khóa luận bao gồm có 3 chƣơng, cụ thể:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt
động kể chuyện
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ 5 - 6 tuổi
1.1.1.1. Xúc cảm, tình cảm của trẻ
Cảm xúc là những rung cảm xảy ra nhanh chóng, nhƣng mạnh mẽ và rõ rệt
hơn so với màu sắc xúc cảm của cảm giác. Nó mang tính chất khái quát hơn và
đƣợc chủ thể ý thức ít nhiều rõ rệt hơn so với màu sắc, xúc cảm của cảm giác.
Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con ngƣời đối với
những sự vật, hiện tƣợng có liên quan đến nhu cầu và động cơ của họ.
Xúc cảm và tình cảm là nét tâm lí nổi bật của trẻ thơ, đặc biệt là trẻ lứa tuổi
mẫu giáo. Nhìn chung ở lứa tuổi này, tình cảm thống trị các mặt hoạt động tâm
lí của trẻ. Chính vì vậy, nhận thức của trẻ mang đậm màu sắc cảm xúc, trẻ luôn
có nhu cầu đƣợc ngƣời khác quan tâm và cũng luôn bày tỏ tình cảm của mình
đối với mọi ngƣời xung quanh và ngỡ ngàng trƣớc những điều tƣởng chừng nhƣ
rất đơn giản. Một bông hoa, một chiếc lá rơi, một con kiến tha mồi, hay một
đêm trăng sáng cũng có thể làm trẻ xúc động một cách sâu sắc. Chính đặc điểm
đẹp đẽ nhạy cảm này, làm cho trẻ khi nghe kể chuyện, đọc thơ có thể dễ dàng
hóa thân vào các nhân vật trong tác phẩm. Trẻ thƣờng có những phản ứng trực
tiếp ngay lập tức thì khi tiếp xúc với tác phẩm trẻ có thể cƣời hoặc khóc, có thể
nói trẻ em có lợi thế trong tiếp nhận cái đẹp trong văn học nghệ thuật.
Ta thấy trong tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ ở lứa tuổi mầm non vấn
đề tri thức và kinh nghiệm là rất cần, nhƣng quan trọng hơn vẫn là cảm xúc, đó
là năng lực hóa thân của các nhân vật với cái ngây thơ, đơn giản về sự giống
nhau giữa các tác phẩm văn học cũng là hiện thực ngoài đời nên dễ dàng muốn
chia sẻ.
1.1.1.2. Trí tƣởng tƣợng của trẻ
Tƣởng tƣợng là một quá trình tâm lí phản ánh những cái chƣa từng có trong
kinh nghiệm của mỗi cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ
sở những biểu tƣợng đã có.
Sự phong phú về trí tƣởng tƣợng cũng là một nét tâm lí nổi bật của lứa tuổi
mẫu giáo. Sức tƣởng tƣợng các em dƣờng nhƣ vô tận. Chúng dùng trí tƣởng
tƣợng để khám phá thế giới và thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình. Trí tƣởng
tƣợng là một là một phần quan trọng của quá trình tâm lí, nó góp phần tích cực
vào hoạt động tƣ duy và nhận thức của trẻ. Theo nghiên cứu của các nhà tâm lí
học, tƣởng tƣợng của trẻ lứa tuổi mầm non mang tính chất sáng tạo, tƣởng tƣợng
của trẻ gắn chặt với cảm xúc, đó là quan hệ hai chiều. Tƣởng tƣợng phụ thuộc
vào sự phát triển của cảm xúc, cảm xúc càng sâu sắc thì tƣởng tƣợng càng phát
triển để phù hợp với cảm xúc đó và ngƣợc lại tƣởng tƣợng cũng giữ vai trò làm
giàu thêm những kinh nghiệm, cảm xúc của trẻ. Việc hình thành và phát triển trí
tƣởng tƣợng của trẻ cũng gắn chặt với hình thành và phát triển ngôn ngữ. Nhờ
có ngôn ngữ mà trẻ có thể hình dung ra đƣợc những gì trẻ nhìn thấy. Vì thế, nếu
một trẻ mà ngôn ngữ kém phát triển thì trí tƣởng tƣợng cũng nghèo nàn. Tƣởng
8
tƣợng giúp trẻ xâu chuỗi đƣợc những sự vật, hiện tƣợng bằng trí tƣởng tƣợng
phong phú của mình và tích lũy đƣợc vốn biểu tƣợng trong từng hoạt động, sau
đó những thời điểm, hoàn cảnh cụ thể, trẻ sẽ có sự liên tƣởng cần thiết. Trẻ thơ
cần có trí tƣởng tƣợng vì vậy việc nuôi dƣỡng trí tƣởng tƣợng cho trẻ là một
9
1.1.2.2. Chức năng của ngôn ngữ
Ngôn ngữ có hai chức năng quan trọng nhất là hai chức năng: giao tiếp và
tƣ duy.
a. Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời
Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ ngƣời này đến ngƣời khác với một
mục đích nhất định nào đó. Khi giao tiếp, ngƣời ta truyền đạt nhận thức, tƣ
tƣởng tình cảm… với nhau và tác động với nhau về mặt nhận thức, tình cảm và
hành động. Giao tiếp đƣợc thực hiện nhờ một công cụ chủ yếu và hữu hiệu nhất
là ngôn ngữ.
Ngôn ngữ giúp cho con ngƣời lƣu giữ những kinh nghiệm sản xuất để
truyền từ đời này sang đời khác. Ngôn ngữ giúp trao đổi tƣ tƣởng tình cảm, xác
lập các mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội. Thông qua sự
kết nối tập thể này, ngôn ngữ là một thứ công cụ để tổ chức xã hội, duy trì mối
quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong xã hội (công cụ đấu tranh sản xuất và đấu
tranh xã hội, giai cấp). Ngôn ngữ là công cụ giúp cho con ngƣời giao tiếp, trao
đổi và đi đến hiểu biết lẫn nhau. Không có sự hiểu biết ấy, không thể có hành
động chung của con ngƣời trong cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên và xã hội.
Cho nên nếu không có một thứ ngôn ngữ chung cho cả cộng đồng dùng để giao
tiếp, để thắt chặt các mối quan hệ thì xã hội cũng không thể tồn tại đƣợc. Với ý
nghĩa này, ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp thì đồng thời cũng là một công cụ
đấu tranh phát triển xã hội.
b. Ngôn ngữ là phƣơng tiện tƣ duy của con ngƣời
Ngôn ngữ và tƣ duy cùng xuất hiện một lúc. Ngôn ngữ là hiện tƣợng trực
tiếp của tƣ duy và chỉ có con ngƣời - động vật cao cấp mới có tƣ duy. Nói
cách khác, chúng ta không thể tƣ duy nếu không có ngôn ngữ (không thể tƣ
duy bằng các công thức hóa học, đƣờng nét, nốt nhạc mà chỉ có thể tƣ duy
Giao tiếp là một hoạt động đặc trƣng quan trọng của con ngƣời. Ngôn ngữ
là phƣợng tiện giao tiếp quan trọng nhất. Nhờ có ngôn ngữ mà con ngƣời có thể
hiểu đƣợc nhau, cùng nhau hành động vì những mục đích chung: Lao động,
đấu tranh, xây dựng và phát triển xã hội. Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu
đặc biệt, có khả năng biểu hiện đến độ vạn năng và vô hạn những lời nói
trong xã hội, ngôn ngữ là phƣơng tiện đƣợc dùng phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc
trong sinh hoạt xã hội. Con ngƣời dùng ngôn ngữ làm công cụ chung và chủ
yếu để giao tiếp. Không dùng ngôn ngữ, lập tức hoạt động giao tiếp sẽ bị kém
hiệu quả hoặc ngƣng trệ. Cũng vì vậy, hầu hết kho tàng trí tuệ, tƣ tƣởng, tình
cảm đồ sộ của loài ngƣời đã đƣợc ngôn ngữ lƣu trữ, truyền đi và phát huy tác
dụng to lớn của nó.
Do đó, ngôn ngữ chính là một trong những phƣơng tiện thúc đẩy trẻ trở
thành một thành viên của xã hội loài ngƣời, là một công cụ hữu hiệu để trẻ có
thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ, để ngƣời lớn có thể
chăm sóc, giáo dục trẻ - là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào hoạt
động và trong hoạt động hình thành nhân cách trẻ.
11
b. Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tƣ duy, nhận thức cho trẻ
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi. Đây chính là hoạt động chủ
đạo của trẻ mầm non. Giống nhƣ việc dạy trẻ tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác,
phát triển lời nói cho trẻ ở trƣờng mầm non thực hiện mục tiêu “kép”. Đó là, trẻ
học để biết tiếng mẹ đẻ, đồng thời sử dụng nó nhƣ một công cụ để vui chơi, học
tập. Ngôn ngữ đƣợc tích hợp trong tất cả các loại hình hoạt động giáo dục, ở mọi
lúc, mọi nơi. Nhƣ vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động và ngƣợc lại, mọi
hoạt động tạo cơ hội cho ngôn ngữ trẻ phát triển.
Quá trình trƣởng thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ. Công cụ để phát
triển tƣ duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là hiện thực (sự hiện
Nhìn chung đến cuối tuổi mẫu giáo (5 - 6 tuổi), trẻ đã có khả năng nắm
đƣợc ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúng sự phát âm của ngƣời
lớn (tức là phát âm chuẩn), biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
và đặc biệt là nắm đƣợc hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật
ngôn ngữ tinh vi nhất về phƣơng tiện cú pháp và phƣơng tiện tu từ, trẻ nói năng
mạch lạc và thoải mái.
1.1.3.1. Đặc điểm vốn từ
Vốn từ của trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) tăng lên đáng kể. Trẻ có khoảng 3000 4000 từ vào cuối tuổi thứ 6. Trẻ nắm đƣợc cách dùng trong thực tế ngữ pháp
tiếng mẹ đẻ, cấu trúc ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ tiếp tục đƣợc hoàn thiện.
Ngôn ngữ của trẻ đã có nội dung phong phú hơn và có cấu tạo phức tạp hơn so
với trƣớc đó. Trẻ không chỉ trò chuyện về cái đang trực tiếp tri giác mà còn về
cái đã tri giác trƣớc đây hoặc về điều cha mẹ, cô giáo, các em khác kể lại. Việc
mở rộng giao lƣu ngôn ngữ nhƣ thế dẫn đến sự biến đổi cấu tạo ngôn ngữ của
trẻ. Bên cạnh tên, sự vật hành động, trẻ bắt đầu sử dụng rộng rãi các vị ngữ khác
nhau: Cái ca là dùng để uống nƣớc, cái ghế là dùng để ngồi, con ngựa dùng để
kéo xe, cƣỡi,…
- Về danh từ: nội dung ý nghĩa của từ đƣợc mở rộng phong phú hơn
ở những từ có ý nghĩa rộng. Những từ chỉ nghề nghiệp ngƣời lớn tăng. Ở trẻ còn
có những danh từ mang tính văn học: áng mây, đóa hoa… trẻ biết sử dụng một
số từ chỉ những khái niệm trừu tƣợng mặc dù trẻ chƣa biết hết khái niệm của nó.
- Về động từ: phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển
thêm những nhóm từ mới nhƣ: nhảy nhót, leo trèo, rơi lộp bộp,… những từ chỉ
sắc thái khác nhau nhƣ: chạy vèo vèo, chạy lung tung, chạy loạn xạ. Xuất hiện
thêm những động từ có ý nghĩa trừu tƣợng nhƣ: giáo dục, khánh thành.
- Về tính từ: phát triển về số lƣợng từ cũng nhƣ chất lƣợng từ. Trẻ
sử dụng nhiều những từ có tính chất biểu cảm: chua chua, chua loét, ngọt lịm,
tròn vo,…
Từ tƣợng hình, tƣợng thanh: bập bùng, rì rào,…
Trẻ biết sử dụng từ trái nghĩa: dày - mỏng, khỏe - yếu, đẹp - xấu,…
Về trạng từ: trẻ đƣợc mở rộng, sử dụng đúng các trạng từ: ngày
phƣơng tiện tƣ duy nhạy cảm dễ vui, dễ buồn.
Đặc điểm nổi bật nhất trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn là
sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Ngôn ngữ mạch lạc là dấu hiệu của sự phát
triển tƣ duy của trẻ. Nếu trƣớc đây trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu
thì giờ đây, trẻ ít sử dụng ngôn ngữ tình huống, thay vào đó là ngôn ngữ ngữ
cảnh. Ngƣời lớn có thể hình dung đƣợc những điều mà trẻ định mô tả mà không
cần tình huống trƣớc mặt trẻ. Đồng thời với ngôn ngữ ngữ cảnh là ngôn ngữ giải
thích. Ở độ tuổi này, trẻ có nhu cầu giải thích cho các bạn cùng độ tuổi về nội
dung trò chơi, cách tạo ra đồ chơi và nhiều điều khác. Không những thế, trẻ còn
muốn giải thích cho ngƣời lớn những điều mà trẻ cần họ hiểu. Ngôn ngữ giải
14
thích đòi hỏi đứa trẻ phải trình bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất định,
phải nêu bật những điểm chủ yếu và những mối quan hệ liên kết các sự vật, hiện
tƣợng một cách hợp lí để ngƣời hiểu đƣợc. Có nghĩa là phải có tính chặt chẽ,
mạch lạc. Sang tuổi thứ 6, trẻ có thể đặt các câu chuyện miêu tả hay theo một
chủ đề nào đó cho trƣớc một cách tƣơng đối tuần tự và rõ ràng nhƣng vẫn cần
đến mẫu lời nói của cô giáo. Kỹ năng truyền đạt trong lời kể, thái độ xúc cảm
của mình đối với các sự vật, hiện tƣợng trong câu chuyện của trẻ vẫn còn chƣa
phát triển đầy đủ. Ngôn ngữ mạch lạc là điều kiện, phƣơng tiện quan trọng để
phát triển nhân cách nói chung, tƣ duy nói riêng của trẻ.
Có thể nói tuổi mẫu giáo lớn là ngƣỡng cửa để phát triển trí tuệ một cách
thuận lợi để hƣớng trẻ dần vào hoạt động học tập và ngôn ngữ là chìa khóa giúp
trẻ bƣớc đầu vào thế giới tri thức.
1.1.4. Khái niệm, phân loại, vai trò của kể chuyện đối với việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ
1.1.4.1. Khái niệm
Truyện kể là những tác phẩm nghệ thuật đƣợc tác giả sắp xếp các tình
huống và xây dựng hệ thống nhân vật theo dụng ý chủ quan của tác giả nhƣng
Đồng thoại là thể loại truyện cho trẻ em trong đó loài vật và các vật vô tri,
vô giác đƣợc nhân cách hóa để tạo nên một thế giới thần kỳ, thích hợp với trí
tƣởng tƣợng của các em.
Bằng những hình tƣợng ngộ nghĩnh ngây ngô của các con vật, truyện đồng
thoại đã khơi dậy ở trẻ những cảm xúc thú vị, khiến cho trẻ từ một thính giả thụ
động trở thành một ngƣời tham gia tích cực vào các sự kiện của các nhân vật
vốn chỉ là cây cỏ, vật vô tri vô giác mà trở thành ngƣời bạn thân thiết cùng vui
cùng buồn.
Nhƣ trong truyện “ Bồ công có hiếu” khi bồ công mẹ không còn kiếm đƣợc
mồi cho con thì vạch bụng ra cho con mổ thức ăn trong bụng mình, nó tự nguyện
chết cho đàn con đƣợc sống. Khi trẻ nghe câu chuyện này trẻ đã có những biểu hiện
cảm xúc của mình nhƣ: trẻ buồn, có trẻ khóc khi bồ công mẹ chết.
Nhƣ vậy, có thể nói rằng truyện đồng thoại tác động mạnh mẽ đến đời
sống tình cảm của trẻ, trẻ hòa nhập vào tác phẩm mà quên đi ranh giới giữa
hƣ và thực.
c. Truyện cƣời
Là truyện kể về những nhân vật, những tình huống đáng cƣời, gây cƣời để
phê phán, để đả kích.
Truyện cƣời có những tình huống gây cƣời, chính vì thế sẽ tạo cho trẻ có đƣợc
tâm trạng vui vẻ, những tiếng cƣời sảng khoái, không khí lớp học trở sôi động.
Nhƣ trong truyện “ Lợn cƣới áo mới” yếu tố gây cƣời là ngƣời muốn đƣợc
mời đi ăn cỗ nên nói dối là đi tìm con lợn cƣới, còn ngƣời muốn khoe áo mới thì
nói rằng “ kể từ lúc tôi mặc cái áo mới này không có con lợn cƣới nào chạy qua
đây cả”.
16
d. Truyện lịch sử
Truyện lịch sử là truyện nói về một nhân vật lịch sử đƣợc truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác.
giao tiếp có văn hóa. Chúng ta đều biết rằng các tác phẩm chuyện kể vốn là
các văn bản nghệ thuật, văn bản thẩm mĩ chứa đựng những nội dung, tƣ
17