BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÙI THỊ HƯƠNG NHÀI
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
THÔNG QUA THƠ CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÙI THỊ HƯƠNG NHÀI
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
THÔNG QUA THƠ CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Khổng Cát Sơn
SƠN LA, NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Khổng Cát Sơn người đã
: Đối chứng
TN
: Thực nghiệm
TB
: Trung bình
MGL
: Mẫu giáo lớn
ĐHQG
: Đại học quốc gia
NXB
: Nhà xuất bản
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 4
5. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 4
2.3.1. Biện pháp đàm thoại giúp trẻ hiểu bài thơ ................................................ 33
2.3.2. Đọc thơ cho trẻ nghe và cho trẻ học thuộc lòng bài thơ ........................... 36
2.3.3. Giảng giải, giải thích từ khó ...................................................................... 38
2.3.4. Sử dụng các phương tiện trực quan trong việc đọc thơ cho trẻ nghe ....... 39
Tiểu kết chương 2................................................................................................ 43
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................................................... 44
3.1. Những vấn đề chung .................................................................................... 44
3.1.1. Mục đích thực nghiệm............................................................................... 44
3.1.2. Thời gian, khách thể và địa bàn thực nghiệm ........................................... 44
3.1.3. Điều kiện thực nghiệm .............................................................................. 44
3.1.4. Nội dung thực nghiệm ............................................................................... 45
3.1.5. Kết quả thực nghiệm ................................................................................. 45
3.1.6. Nhận xét quá trình thực nghiệm ................................................................ 47
Tiểu kết chương 3................................................................................................ 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 50
1. Kết luận ........................................................................................................... 50
2. Kiến nghị ......................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 52
PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống, nó thức tỉnh và làm phát triển tâm hồn
con người. Văn học là một loại hình nghệ thuật, là một bộ phận hoạt động tinh
thần cơ bản làm nên sự phong phú của nhân cách, đặc biệt là làm nảy sinh tư
tưởng, tình cảm, trí tưởng tượng, niềm tin và hành động nhân đạocủa con người
trong môi trường xã hội và tự nhiên.
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, phản ánh cuộc sống bằng hình tượng, là
nguồn suối quan trọng của tri thức, kinh nghiệm sống của nhân loại mà con
Nhu cầu nhận thức của trẻ tăng dần theo lứa tuổi, để đáp ứng nhu cầu
chính đáng đó thì những người trực tiếp quản lí và giáo dục trẻ phải luôn luôn
làm mới kiến thức và mở rộng kho tàng tri thức cho trẻ. Thông qua các tác phẩm
văn học kết hợp với hình ảnh trực quan sinh động.
Trẻ 5 - 6 tuổi có nhu cầu tiếp nhận tác phẩm văn học rất lớn, về cơ bản trẻ
đã phát âm chính xác tất cả các âm vị, thanh điệu của tiềng mẹ đẻ. Trẻ đã nói
năng tương đối lưu loát, biểu cảm. Về mặt ngữ pháp hầu hết các mẫu câu tiềng
Việt trẻ cũng đã sử dụng vào lúc 6 tuổi. Nhu cầu đó vừa phản ánh sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ vừa cho thấy khả năng giao tiếp của trẻ cũng phát triển, rèn
cho trẻ năng lực cảm thụ tính nghệ thuật của tiếng Việt thông qua các tác phẩm
thơ truyện. Phát triển tính linh hoạt, tính nghệ thuật trong lời nói của trẻ.
Chính vì những lí do trên, bằng sự tìm hiểu và tâm huyết của mình, đồng
thời dựa trẻ những tiếp thu, học hỏi những thành tựu nghiên cứu thành công, tôi
mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ (5 - 6 tuổi)
thông qua thơ của Trần Đăng Khoa”. Hi vọng việc nỗ lực tìm hiểu và điều tra
của tôi sẽ nhận được sự đồng tình góp ý của thấy cô và bạn đọc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trải qua quá trình tìm hiểu việc đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ
mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi và việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học nhằm xây
dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua thơ của Trần Đăng
Khoa một cách hiệu quả nhất, tôi đã tìm hiểu một số nghiên cứu khoa học có đề
cập đến những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình.
Cuốn “Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học một số vấn đề lí luận và
thực tiễn” của Hà Nguyễn Kim Giang, cũng đã nêu ra những kết quả nghiên cứu
2
cơ bản của các nhà khoa có tên tuổi trên thế giới như: P.M Iacop sơn, E.I
Trikhieva, A.V Zaporoze... về khả năng, năng lực tiếp nhận văn học của trẻ mầm
non: Trẻ mầm non hoàn toàn có thể hiểu sâu sắc (ở mức độ của trẻ) nội dung và
suốt giai đoạn trẻ ở bậc học mầm non, từng đồi tượng trẻ với trình độ khác nhau,
cũng chưa nêu các biện pháp cụ thể để phát triển ngôn ngữ phù hợp với từng đối
tượng như đã nói trên. Nhận thấy đây là một khoảng trống có thể tiến hành khảo
sát, nghiên cứu và đề xuất các biên pháp mang tính ứng dụng, tôi chọn nghiên
cứu vấn đề “Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi qua
thơ của Trần Đăng Khoa”
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu nhằm tìm hiểu:
Thực trạng nhận thức của giáo viên ở Trường Mầm non Tô Hiệu T.P Sơn La
- Tỉnh Sơn La trong việc cho trẻ làm quen tác phẩm thơ của Trần Đăng Khoa
cho đối tượng trẻ MGL 5 - 6 tuổi nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách
hiệu quả nhất.
Mức độ nhận thức và hừng thú của trẻ MGL tại trường mầm non trên khi
được nghe và đọc thơ những tác phẩm thơ của Trần Đăng Khoa trong chương
trình giáo dục mầm non hiện hành.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số đề tài nghiên cứu khoa học và thực tiễn có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu.
- Xây dựng một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) phát triển
ngôn ngữ thông qua thơ của Trần Đăng Khoa.
- Tổ chức thực nghiệm để khẳng định tính khả thi của các biện pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ MGL (5 - 6 tuổi) thông qua thơ của Trần Đăng Khoa.
- Xử lí kết quả thực nghiệm.
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Địa bàn nghiên cứu
Trường mầm non Tô Hiệu T.P Sơn La - Tỉnh Sơn La.
5.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ MGL (5 - 6 tuổi) thông qua
thơ Trần Đăng Khoa.
5
9. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ (5 - 6 tuổi) thông
qua thơ của Trần Đăng Khoa.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Thế giới trẻ thơ trong thơ Trần Đăng Khoa
a. Thế giới trẻ thơ từ cuộc sống hàng ngày
Thơ Khoa cho chúng ta biết cuộc sống khá vất vả và nguy hiểm nhưng
không thiếu niềm vui của những cậu bé, cô bé sinh ra và lớn lên ở nông thôn,
trong hoàn cảnh chiến tranh. Đó là những em bé chăm ngoan hiếu thảo, biết lao
động giúp đỡ gia đình, kính yêu cha mẹ, chăm sóc các em nhỏ, yêu quý thầy cô
giáo. Các em thật xứng đáng là con ngoan trò giỏi cháu ngoan Bác Hồ.
Trong bài Khi mẹ vắng nhà, Khoa đã liệt kê hàng loạt các công việc em đã
làm để san sẻ cho mẹ : luộc khoai, giã gạo, thổi cơm, nhổ cỏ vườn và quét ngõ.
Xem ra như thế đã được việc lắm rồi, nhưng mà em thực sự chưa thỏa mãn, em
thấy mình còn làm được ít quá, tuy lúc đó em mới tròn chín tuổi:
“Không mẹ ơi! Con chưa ngoan đâu
Áo mẹ mưa bạc màu
Đầu mẹ nắng cháy tóc
Ở ao ven làng
Bên ruộng lúa xanh non
Những chị lúa phất phơ bím tóc
Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Đàn cò áo trắng
Khiêng nắng
Qua sông...”
b. Thế giới trẻ thơ trong chiến tranh
Thế giới trẻ thơ của Khoa trong chiến tranh và các bạn cùng thời có biết
bao nhiêu niềm vui nhưng cũng thật khốc liệt trong hoàn cảnh chiến tranh với
những suy nghĩ và việc làm đến quá sớm.
Thử tưởng tượng một em nhỏ vừa bi bô nói cười, đã “dạy khôn” người
khác cách làm quen với những giấc ngủ không yên, quen với tiếng gầm rú của
máy bay:
8
“Chú ơi, nếu còn bom Mỹ
Chú phải bịt tai thế này
Cháu bỗng xoay nghiêng trên ghế
Như vừa có tiếng máy bay
Chú này buồn cười lắm nhé
Bom rùng cháu lại ngủ mê
Cứ tưởng tay bà đưa võng
Như ngày ru cháu ở quê”
Nhưng chúng ta đều biết rằng các em đã tìm cho mình những ngày không
sợ hãi. Như bé Thúy Giang em gái của Khoa, tuy mới 6 - 7 tuổi đã có thể tự
chăm sóc mình, cho người lớn yên tâm làm việc. Ở nhà một mình không có ai
chơi cùng, em đã kết thân với chú mèo, và biết nịnh chú ra phết. Em bày trò
đứng lên cầm súng bảo vệ tự do độc lập. Điều đó như tự chảy trong huyết quản
dân tộc Việt Nam bao đời nay:
“Em lắng nghe thầy giảng từng lời
Rung động bao điều suy nghĩ
Nghe âm vang bàn chân đi đánh Mỹ
Nghe âm vang tiếng gọi của chiến trường
Em đi suốt chiều dài yêu thương
Chiều sâu đất nước
Theo những dấu chân người thầy đi trước”.
Dẫu vậy các em vẫn bộc lộ mình còn rất nhỏ, nhưng nếu như được thả sức
chơi đùa, các em vẫn chơi không thiếu một trò gì, vẫn hồn nhiên với những
niềm vui thơ trẻ. Vì vậy các em rất dễ bị tổn thương tình cảm, khi mà những
niềm vui nhỏ nhoi ấy bị đánh cắp.
Như thế, chiến tranh quả thực đã gây cho các em bao điều thiệt thòi, tổn
thất. Cảnh ngộ đó là một tiềng nói gián tiếp tố cáo tội ác của giặc Mỹ. Những
bài thơ này, phụ họa với nhiều bài thơ khác viết về chiến tranh của trẻ thơ Việt
Nam nói riêng và toàn thế giới nói chung.
1.1.2. Thể thơ thấm đẫm hồn thơ người Việt, hấp dẫn lứa tuổi thiếu nhi
a. Thể thơ lục bát
Thể thơ lục bát trước hết là thơ của dân gian dùng cho các bà mẹ ru con, trẻ
em hát đố, trai gái hát đối đáp, ví von, hò trong lao động, trong các làn điệu dân
10
ca... Thơ lục bát như tiếng nói dùng để giao tiếp hàng ngày giúp chúng ta thể
hiện được tâm hồn người Việt, thơ lục bát mang hương vị ca dao thấm đẫm
trong lời ru của mẹ, của bà qua những trang Kiều đã để lại dấu ấn sâu sắc trong
tâm trí Trần Đăng Khoa.
Tuổi thơ Trần Đăng Khoa hầu như chỉ quanh quẩn trong lũy tre làng, một
vùng quê nông thôn yên ả, thanh bình, tươi mát, trong trẻo. Chính cái hồn quê
Cật chẳng tới trời
Lơ lửng nửa vời
Mà đeo bụng nước
Trần Đăng Khoa đã chuyển thành tứ thơ lục bát rất hay về hình ảnh cây dừa:
Ai mang bao giọt nước lành
Ai mang bao hũ rượu quanh cổ dừa
(Cây dừa)
Đọc bài thơ “Đám ma bác giun” ta cũng thấy thấp thoáng những câu ca
dao cổ:
Con cò mắc giò mà chết
Con quạ ở nhà mua nếp làm chay
Con cu đánh trống bằng tay
Chào mào đội mũ làm thầy đọc văn
Chiền chiện vừa khóc vừa lăn
Một bầy se sẻ đội khăn chở cò
(Ca dao)
Còn ở “Đám ma bắc Giun”:
Bác giun đào đất suốt ngày
Trưa nay chết dưới bóng cây sau nhà
Họ hàng nhà kiến kéo ra
Kiến con đi trước kiến già đi sau
Cầm hương Kiến Đất bạc đầu
Khóc than Kiến Cánh khoác màu áo tang
Kiến Lửa đốt đuốc đỏ làng
Kiến Kim chống gậy, Kiến Càng nặng vai
12
Đám ma đưa đến là dài
Qua những vườn chuối, vườn khoai, vườn cà
Chúng em lòng những là buồn
Vẫn cười vẫn hát, thầy còn đi xa
(Thầy giáo đi bộ đội)
Trần Đăng Khoa còn thể hiện tình cảm thắm thiết của các em thiếu nhi đối
với các chú bộ đội:
Đứa nào anh cũng xoa đầu
Đứa nào anh cũng bế lâu trong lòng
Hiểu rõ công lao của Bác Hồ ngày đêm lo lắng cho các em, mong cho các
em được vui tươi hạnh phúc không phải lo nghĩ tới chiến tranh, Trần Đăng khoa
đã thay mặt bạn bè thế giới cùng thế hệ hứa với Bác Hồ:
Cháu thề phấn đấu suốt đời
Như lời Bác dạy nên người Bác mong.
(Cháu thề phấn đấu suốt đời)
Thơ lục bát thường có sự chuẩn mực về câu lục dòng 6 tiền, câu bát dòng 8
tiếng. Tiếng cuối câu lục gieo vần xuống xuồng tiếng thứ 6 câu bát, tiếng cuối
câu bát gieo vần xuống tiếng tiếng cuối câu lục tiếp theo. Trần Đăng khoa đã
tiếp nhận cách gieo vần theo dân gian là nhịp chẵn, mỗi nhịp hai tiếng hoặc bốn
tiếng (ngắt 2/2/2 ở câu lục, ngắt 4/4 ở câu bát). Tuy nhiên có thể gặp lối ngắt
nhịp lẻ mỗi nhịp 3 tiếng cho câu lục (3/3).
Có thể thấy, ở các bài thơ này Khoa vẫn giữ nhịp truyền thống của lục bát:
Tiếng chim / vách núi / nhỏ dần
Rì rầm tiếng suối / khi gần khi xa
( Đêm Côn Sơn)
Nhưng có khi Trần Đăng khoa lại phá cách gieo nhịp 2/4 ở câu lục, có
khi là nhịp 2/6, 3/5 hoặc 5/3 ở câu bát, hoặc có khi câu thơ không còn “kích
thước” thông thường mà có thể thêm hoặc bớt một số tiếng tạo nên nét mới
trong thơ mình:
14
Mày làm chúa tao
Tao làm chúa mày
15
Tao không hái ngày
Thì tao hái đêm
(Lời đề tựa của bài thơ)
Đã dậy chưa hả trầu?
Ta hái vài lá nhé
Cho bà và cho mẹ
Đừng lụi đi trầu ơi!
(Đánh thức trầu)
Chỉ hái mấy lá trầu thôi nhưng lời thơ sao tha thiết “Tao hái vài lá nhé,
đừng lụi đi trầu ơi” bài thơ bắt nguồn từ một quan niệm dân gian: Khi hái trầu
nhất là hái về đêm thì phải đánh thức trầu dậy nếu không giàn trầu sẽ lụi tàn.
Với tư duy ngộ nghĩnh cùng sự lém lỉnh hồn nhiên theo chiều ý của tuổi
thơ, bài thơ “Kể cho bé nghe” là một chuỗi lời hỏi đáp, cứ một câu hỏi lại có
một câu trả lời cân đối, gọn ghẽ, xúc tích với âm hưởng đồng dao, bài thơ có thể
đọc vòng trở lại gợi hứng thú cho mọi người khi đọc bài thơ:
Hay nói ầm ĩ
Là con vịt bầu
Hay hỏi đâu đâu
Là chú chó vện
Hay chăng dây điện
Là con nhện con
Ăn no quay tròn
Là cối xay lúa
Mồm thổi ra gió
Là cái quạt hòm
Tiếng những nồi cơm
Chín vội
Liềm hái
Va nhau
Hương cau
Thoang thoảng...
(Tiếng trống làng)
17
Tiếng trống làng phản ánh cuộc sống vui vẻ ở đồng quê. Đây là tiếng trống
tàn canh buổi sáng, trong tiếng gà gáy, chó sủa lẫn vào tiếng gọi nhau ra đồng
làm việc. Lời thơ ngắn gọn dễ đi vào lòng người. Bài thơ có âm thanh rộn rã, có
hương sắc của cỏ cây làm thức dậy những hoạt động của ngày mới với khung
cảnh lao động ồn ào, náo nhiệt của người dân:
Bài thơ “Mưa” cũng thế:
Ông trời
Mặc áo giáp đen
Ra trận
Muôn nghìn cây mía
Múa gươm
Kiến
Hành quân
Đầy đường
Lá khô gió cuốn
Bụi bay
Cuồn cuộn
Vũ trụ giống hệt một đoàn quân ra trận, còn cây cối thì chẳng khác con
người một chút nào qua những nét sinh hoạt rất đặc trưng. Bằng biện pháp nhân
đồng nội. Chỉ sử dụng những câu thơ với độ dài ngắn khác nhau mới có thể
chuyển tải hết những ý nghĩa ấy:
Sáng nay bọn em đánh dậm
Ở ao ven làng
Bên ruộng lúa xanh non
Những chị lúa phất phơ bím tóc
Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Đàn cò áo trắng
Khiêng nắng
Qua sông
(Em kể chuyện này)
Các em còn rủ nhau đi câu cá bên bờ ao. Ở đó có lũ cá rất đông: cá ngào, cá
mương, cá rô, cá diếc... thật là thú vị. Ta biết đây là bài thơ qua trí tưởng tượng
nhưng là sự tái hiện chuyện đi câu cá của các chú nhỏ:
19