VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC TÂN
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC TÂN
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG
HÀ NỘI, 2019
THỰC THI PHÁP LUẬT VÊ XƯ LY HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY...56
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật xư ly hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ơ Việt Nam hiện nay...........................................56
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật xư ly hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo ơ Việt Nam hiện nay.....................................................57
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật xư ly hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ơ Việt Nam.......................................73
KẾT
..............................................................................................................78
LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................79
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là một đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Một nền kinh tế
thị trường sẽ không phát triển nếu không có cạnh tranh, và để thúc đẩy cạnh
tranh thì quảng cáo là một yếu tố hàng đầu của mỗi doanh nghiệp. Do đó, hoạt
động quảng cáo không chỉ đơn thuần là một hành vi thương mại mà nó cũng là
một biện pháp, một hành vi cạnh tranh không thể thiếu trong kinh doanh.
Hoạt động quảng cáo ơ Việt Nam được hình thành cùng với sự chuyển
hướng của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường,
quảng cáo là một hành vi thương mại tuy không còn mới mẻ, nhưng hiện tại có
rất loại hình quảng cáo khiến lĩnh vực này đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp ảnh
Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Trần Dũng Hải về “Hoạt động quảng cáo
thương mại ơ Việt Nam. Những vấn đề lý luận và thực tiễn”; Luận văn thạc sĩ
Luật học về “Pháp luật quảng cáo với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”
của tác giả Đào Thị Tuyết Vân; “Pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo so sánh
của Liên minh Châu Âu và Việt Nam- Nghiên cứu dưới góc độ so sánh luật” của
tác giả Trương Hồng Quang….
Ngoài ra có ít công trình nghiên cứu về Cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo theo pháp luật hiện nay, vì luật cạnh tranh 2018 có hiệu
lực là ngày 1/7/2019 hiện tại khi làm luận văn vẫn chưa có hiệu lực cho nên
chưa nắm rõ tình hình thực trạng của luật, mặt khác luật cạnh tranh 2004 vẫn còn
nhiều điểm bất cập,chưa hợp lý, chưa rõ ràng cụ thể và thiếu tính thực thi vì vậy
đề tài nghiên cứu “Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là cần thiết và có ý nghĩa.
3. Mục đích và nhiệmvụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứ : Phát hiện những nguyên nhân, bất cập, mâu thuẫn,
chồng chéo, những vấn đề còn chưa rõ ràng hay bất hợp lý, thiếu khả năng thực
thi trong thực tiễn của các quy đinh pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo
nhằm đảm bảo cạnh tranh lành mạnh. Từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp
tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ơ Việt Nam
cũng như pháp luật về quảng cáo.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện
các nhiệm vụ sau đây:
Một là: Làm rõ những vấn đề về mặt lý luận, về mặt khái niệm, vai trò,
những tác động của quảng cáo đối với sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường.
Hai là: phân tích, nghiên cứu pháp luật thực định về quảng cáo, tính hiệu
quả của cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo.
Ba là: Phát hiện, phân tích những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong nội
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại. Luận văn có thể
được sử dụng làm tài liệu trong tham khảo trong việc điều chỉnh hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp,
người tiêu dùng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
thương mại tại Việt Nam.
Luận văn có thể sử dụng để tham khảo, xây dựng giải pháp nhằm khắc
phục tìnhtrạng quảng cáo gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh ơ
Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mơ đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn có kết cấu gồm ba chương sau:
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo và pháp luật điều chỉnh
Chương 2: Thực trạng chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo ơ Việt Nam theo quy định của pháp luật
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ơ Việt Nam hiện nay
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
1.1. Những vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh.
a. Khái niệm về cạnh tranh
Khi nền kinh tế thị trường xuất hiện thì khái niệm cạnh tranh ra đời. Nền
sản xuất hàng hóa ra đời cùng với cạnh tranh và trơ thành đặc trưng của kinh tế
thị trường. Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế vừa là môi trường,
vừa là động lực nội tại thúc đẩynền kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế thị
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau và định nghĩa có thể là khái
quáthay cụ thể đi nữa thì nhìn chung, cạnh tranh có những điểm đặc trưng sau:
- Là sự ganh đua, tranh giành quyền lợi, ảnh hương;
- Chủ thể là các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh trong cùng một
thịtrường liên quan;
- Các chủ thể cạnh tranh đểu có chung một mục đích sinh lời.
Tóm lại, bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham gia vào thị trường đều có
chung một mục đích là phát triển sản xuất kinh doanh. Hoạt động cạnh tranh
luôn diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định. Do vậy, cạnh tranh
được xem là một hiện tượng xã hội mang bản chất kinh tế và xã hội riêng có.
Bản chất kinh tế củacạnh tranh thể hiện mục đích vì lợi nhuận và chi phối thị
trường. Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức kinh doanh và uy tín kinh
doanh của mỗi chủ thể cạnhtranh trong quan hệ đối với những người lao động
trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh.
Như vậy qua các khái niệm đã nêu ơ trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ:
Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để
chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh
giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường.
b. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh.
Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế-xã hội, cạnh tranh có tính hai mặt,
hai mặt mâu thuẫn nhưng cùng thống nhất trong một hiện tượng khách quan.
Cạnh tranh có tính tích cực khi nó là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển thông
qua việc đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm....
Nhưng nó sẽ là tiêu cực khi trơ thành công cụ để triệt tiêu nhau giữa các doanh
nghiệp bằng nhũng thủ đoạn mà không phải bằng chính năng lực cạnh tranh thực
sự của mình. Dựa vào mục đích và tính chất của các phương thức thực hiện hành
vi cạnh tranh đó, người ta phân cạnh tranh thành hai loại: hành vi cạnh tranh biểu
trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh
doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của các doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” [9].
Tóm lại, dù được định nghĩa dưới hình thức nào thì những hành vi cạnh
tranh không lành mạnh thường được thể hiện dưới các kiểu điển hình như,
Xâm phạm đến quyền sơ hữu công nghiệp (sử dụng không xin phép tên doanh
nghiệp; nhái nhãn hiệu hàng hoá, biểu tượng... của doanh nghiệp khác đã được
đăng ký; nhái kiểu dáng, bao bì sản phẩm của doanh nghiệp khác gây nhầm lẫn
cho khách hàng…); Quảng cáo so sánh, quảng cáo gian dối gây nhầm lẫn;
Khuyến mại bất hợp pháp; Dèm pha bôi nhọ đối thủ; Xâm phạm bí mật kinh
doanh; Phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp khách hàng; Cản trơ, can thiệp
vào sự lựa chọn của khách hàng trong quá trình mua bán hàng hoá...
Những hành vi này đều dẫn đến hậu quả là vì lợi ích của mình mà gây tổn
hại đến lợi ích của người khác. Nên nó là một hành vi cần phải điều chỉnh bơi
pháp luật để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh.
1.1.2. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo.
1.1.2.1 Khái niệm quảng cáo, vị trí, vai trò của quảng cáo.
a. Khái niệm và đặc điểm của quảng cáo.
Trong nền kinh tế thị trường phát triển mạnh như hiện nay thì một trong
những việc thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp không thể thiếu là quảng cáo.
Quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả phí hoặc không để thực hiện việc
giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tương, quảng cáo là hoạt
động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đó người muốn
truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa
thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận thông tin.
Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua
hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp
bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán.
Hoa định nghĩa: “ Quảng cáo là việc mà một nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ trả
tiền cho việc giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của họ một cách trực tiếp hay giántiếp
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng dưới mọi hình thức để thông
tintrên diện rộng” [11].
b. Đặc điểm của quảng cáo.
Mặc dù có nhiều khái niệm pháp lý khác nhau về quảng cáo thương
mại,nhưng nhìn chung các định nghĩa đều thể hiện được nhũng đặc điểm cơ bản
saucủa hành vi quảng cáo:
+ Quảng cáo là hoạt động quảng bá, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của nhà
sản xuất.Trong nền kinh tế sản xuất, không có sản phẩm nào sản xuất ra lại tự nó
đi đến tay người tiêu dùng và được người tiêu dùng chấp nhận một cách vô điều
kiện.Bất kỳ một nhà sản xuất nào muốn tiêu thụ được hàng hoá đều phải có hoạt
động quảng bá, giới thiệu về sản phẩm của mình về tính năng, chất lượng, mẫu
mã nhận biết của sản phẩm. Giới thiệu hàng hoá, dịch vụ ơ đây được hiểu là giới
thiệu về các tính năng, công dụng, sự thiết yếu của sản phẩm đối với người tiêu
dùng. Chính vì vậy, hoạt động quảng cáo sẽ có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực
kinh tế xã hội khác,như liên quan đến vấn đề sơ hữu công nghiệp (nhãn mác
hàng hoá, kiểu dáng côngnghiệp...),y tế (chất lượng sản phẩm), văn hoá (hình
thức giới thiệu có vi phạm đạo đức xã hội, truyền thống văn hoá dân tộc hay
không)...
+ Quảng cáo được thực hiện thông qua các phương tiện quảng cáo.Quảng
cáo là một khái niệm trừu tượng tổn tại dưới dạng âm thanh, chữ viết,lình ảnh.
Do đó, phải được thể hiện trên một vật mang thông tin nhất định là phương tiện
quảng cáo. Các phương tiện quảng cáo ơ đây được hiểu là phương tiện thông tin
đại chúng như radio, truyền hình, báo chí, bảng, biển, panô, áp phích.. .hay các
vật thể di động như ô tô, tàu hoả, xe điện, xe đẩy hàng rong... Quảng cáo được
thực hiện thông qua nhiều phương tiện quảng cáo khác nhau, nhưng việc thực
hiện thông qua phương tiện thông tin đại chúng là một đặc trưng ưu thế của
- Quảng cáo có vai trò xúc tiến thương mại, quảng cáo tên tuổi của doanh
nghiệp, của sản phẩm làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ
đó,quảng cáo tạo nên sự đe doạ đối thủ cạnh tranh, tạo vị thế độc quyển cho
hàng hoá, dịch vụ của mình trên thương trường. Để đạt được mục đích nói trên,
quảng cáo sẽ tác động theo hai xu hướng đến môi trường cạnh tranh: quảng cáo
trung thực và quảng cáo gian dối. Quảng cáo trung thực có tác động tích cực đến
thị trường thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo sân chơi bình đẳng giữa các doanh
nghiệp. Ngược lại, quảng cáo gian dối là một biểu hiện của hành vi cạnh tranh
không lành mạnh có tác động xấu đến quyền tự do kinh doanh của các doanh
nghiệp khác và ảnh hương đến quyền lợi của người tiêu dùng.
- Quảng cáo khuyên khích nhu cầu và quyết định của khách hàng vào
hàng hoá hoặc dịch vụ được cung cấp. Vai trò ban đầu của quảng cáo là chức
năng truyền tải thông tin về hàng hoá và dịch vụ đến người tiêu dùng. Thị hiếu
người tiêu dùng thường quyết định phương pháp, cách thức tiếp cận của nhà sản
xuất. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thì người tiêu dùng cũng như
người bán hàng có rất nhiều cách tiếp cận thông tin một cách dễ dàng và đa dạng.
Vì vậy, trong kinh doanh các doanh nghiệp phải cực kỳ tỉnh táo, cần có những
nghệ thuật quảng cáo tinh vi.Ngày nay, quảng cáo đã trơ thành vai trò định
hướng cho tiêu dùng. Điều này làm che mờ các khái niệm truyền thống về quảng
cáo do người tiêu dùng ngày càng có xu hướng sử dụng sàn phẩm, dịch vụ không
phải vì chức năng của nó mà vì vai trò của nó. Quảng cáo có thể tạo ra sự lệ
thuộc của khách hàng vào hàng hoá, dịch vụ được cung cấp.
- Quảng cáo mang tính định hướng thẩm mỹ, kích thích sáng tạo của các
doanh nghiệp, làm đa dạng hoá phương thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
Vai trò này của quảng cáo là hệ quả của vai trò khuyến khích nhu cầu người tiêu
dùng nói ơ trên. Bơi lẽ quảng cáo muốn thu hút khách hàng chú ý đến sản phẩm,
dẫn dụ người tiêu dùng thì nó phải thể hiện được sức hấp dẫn, lôi cuốn nội dung
cũng như hình thức của quảng cáo. Theo một học giả người Pháp thì người ta
mua một sản phẩm tức là người ta mua một sự thích thú. Phải chăng vì lý do đó
là hành vi cạnh tranh lành mạnh hay hành vi cạnh tranh không lành mạnh.Theo
đó, quảng cáo không lành mạnh là những hành vi quảng cáo gian dối, sai sựthật
bằng các thủ pháp như so sánh, đưa thông tin quảng cáo quá lời...với mụcđích
xâm hại trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và đối thủ
cạnhtranh.
1.2. Những vấn đề lý luận pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
1.2.1. Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
Theo quan điểm lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, “ điều chỉnh
pháp luật là việc Nhà nước dựa vào pháp luật, sử dụng các phương tiện pháp lý
đặc thù quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật, quan hệ pháp luật, hành
vi thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý) để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác
dộng đến các quan hệ xã hội theo phương hướng nhất định.
Hiểu theo nghĩa này, điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo tại Việt Nam là việc Nhà nước định
ra luật và ban hành pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực quảng cáo để dựa vào pháp luật điểu chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực
hoạt động quảng cáo tại Việt Nam, nhằm xác lập những quyền và nghĩa vụ cụ
thể của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ này, đổng thời tạo cơ chế để thực
hiện các quyền và nghĩa vụ
Cơ chế điều chỉnh pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong bất
kỳ lĩnh vực chuyên ngành nào cũng bao gồm các quy phạm pháp luật xác định
hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh; trách nhiệm pháp lý của các chủ
thể thực hiện hành vi; trình tự, thủ tục khiếu nại và thủ tục giải quyết; các biện
pháp chế tài được áp dụng.
Cơ chế điều chỉnh pháp luật cạnh tranh đối với hành vi quảng cáo không
lành mạnh là một hệ thống các biện pháp pháp luật có mối quan hệ mật thiết với
1.2.2.2. Phạm vỉ điểu chỉnh.
Phạm vi điều chinh của pháp luật là phạm vi các quan hệ xã hội được
pháp luật nói chung điều chỉnh. Xác định phạm vi điều chỉnh là xác định “ranh
giới” của việc sử dụng pháp luật vào việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Giới
hạn cho phép đó chứa đựng khả năng lựa chọn hành vi của các chủ thể. Việc xác
định phạm vi điều chỉnh đối với bất kỳ một lĩnh vực pháp luật nào cũng có ý
nghĩa rất quan trọng. Nó định hướng cho sự phát triển của đối tượng điều chỉnh.
Và nói một cách khác phạm vi điều chỉnh của pháp luật được xác định bằng
chính các quan hệ giữa các chủ thể phát sinh bơi nhóm các hành vi thuộc đối
tượng điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực đó.
Phạm vi điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo là phạm vi các quan hệ xã hội được pháp luật quảng
cáo vàcác luật chuyên ngành có liên quan khác điều chỉnh. Theo đó, phạm vi
điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáođược xác định bơi các quan hệ giữa các chủ thể là Nhà nước, người
quảng cáo và khách hàng phát sinh bơi nhóm các hành vi quảng cáo so sánh,
quảng cáo gian dối...
Các hành vi đó được thể hiện thông qua các mối quan hệ xã hội sau:
- Mối quan hệ giữa chủ quảng cáo với người tiêu dùng và đối thủ cạnh
tranh;
- Mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể cạnh tranh
trong lĩnh vực quảng cáo, kinh doanh;
- Mối quan hệ giữa cơ quan tài phán và các chủ thể cạnh tranh.
1.2.2.3. Đối tượng điều chỉnh.
Đối tượng điều chỉnh được xác định bơi nhóm các hành vi quảng cáo sai
lệch, quảng cáo gian dối do các chủ thể kinh doanh tiến hành vì mục đích mục
đích xâm hại trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và đối thủ
cạnh tranh. Việc xác định được rõ đối tượng điểu chỉnh của pháp luật đối với
ttriển hiệu quả, công bằng và có trật tự thì không thể thiếu được “ bàn tay vô
hình” của thị trường và “ bàn tay hữu hình” của Nhà nước. Bơi vì: “ Cơ chế thị
trường xác định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh vực, trong khi đó, Nhànước
điều tiết thị trường bằng các chính sách thuế, chi tiêu, trật tự phân phối lưu thông
và luật lệ. Cả hai bên thị trường và Nhà nước đều có tính chất thiết yếu. Điều
hành một nền kinh tế không có Nhà nước hoặc không có thị trường thì cũng như
con người định vỗ tay bằng một bàn tay.
Hình ảnh minh họa
Tóm lại, quyền tự do kinh doanh là quyền bất khả xâm phạm của mỗi chủ
thể kinh doanh, sự tự do này không phải là sự tự do tuỳ tiện mà nó phảilàm trong
khuôn khổ pháp luật của nhà nước trên tinh thần được làm những gì mà pháp
luật không cấm. Tuy nhiên, sự can thiệp của Nhà nước phải phù hợp với các
nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường, phải tôn trọng các quy luật khách quan
của nền kinh tế thị trường.
Quyền tự do kinh doanh là một quyền được thừa nhận và tôn trọng ơ hầu
hết các nước trên thế giới, nó được coi là nguyên tắc hiến định của nhiều nước,
trong đó có Việt Nam. Điều 33 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2013 đã nêu rõ: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những
ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm
2014 cũng quy định một trong các quyền của doanh nghiệp là “Tự do kinh
doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm” [13].
Để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh tế theo quy định
của Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014 và các văn bản
hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý để ghi nhận quyền tự do kinh doanh
của người dân, giúp doanh nghiệp chủ động thực hiện kinh doanh các ngành,
nghề mà pháp luật không cấm. Quyền tự do kinh doanh được coi là nguyên tắc
của các nguyên tắc khác trong môi trường pháp lý kinh doanh. Quảng cáo thương
mại là một hành vi kinh doanh, do vậy nguyên tắc này cũng được coi là nguyên
cáo, các chủ thể tham gia vào quan hệ này bao gồm: