Quản lý hoạt động đào tạo trình độ thạc sĩ ngành công nghệ thông tin tại học viện khoa học và công nghệ - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI KIM CHI

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ THẠC SĨ
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI HỌC VIỆN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Hà Nội 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI KIM CHI

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ THẠC SĨ
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI HỌC VIỆN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8 14 01 14

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VŨ NGỌC HÀ

Hà Nội 2019


mình.
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
TRÌNH ĐỘ THẠC SĨ NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ......................11
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài ................................................................11
1.2 Nội dung quản lý hoạt động đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Công nghệ thông
tin tại Học viện .....................................................................................................17
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đào tạo thạc sĩ ngành Công
nghệ thông tin .......................................................................................................23
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRÌNH
ĐỘ THẠC SĨ NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI HỌC VIỆN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ .......................................................................28
2.1 Khái quát chung về Học viện Khoa học và Công nghệ .................................28
2.2 Hoạt động đào tạo trình độ thạc sĩ mang tính đặc thù ...................................37
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Công nghệ
thông tin................................................................................................................38
2.4. Thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động đào tạo thạc sĩ
ngành Công nghệ thông tin tại Học viện ..............................................................46
2.5. Đánh giá về quản lý hoạt động đào tạo thạc sĩ ngành Công nghệ thông tin tại
Học viện Khoa học và Công nghệ........................................................................48
Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
TRÌNH ĐỘ THẠC SĨ NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI HỌC
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ............................................................50
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp .......................................................................52
3.2. Giải pháp quản lý hoạt động đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Công nghệ thông
tin tại Học viện Khoa học và Công nghệ .............................................................53

Viết đầy đủ

CNTT

Công nghệ thông tin

Học viện

Học viện Khoa học và Công nghệ

Khoa CNTT&VT

Khoa Công nghệ thông tin và Viễn thông

Viện CNTT

Viện Công nghệ thông tin

Viện CNVT

Viện Công nghệ viễn thông

Viện CHTHUD

Viện Cơ học và Tin học ứng dụng

Viện Hàn lâm KHCNVN

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam


trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của
nước ta hiện nay.
Chúng ta đang sống trong thời đại cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc
phát triển tri thức khoa học và công nghệ hiện đại là vấn đề trọng tâm trong
chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo hiện nay. Công nghệ thông tin (CNTT)
đang được sử dụng rộng khắp trên mọi lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội của mỗi
người và đem lại hiệu quả, chất lượng lao động tốt nhất trong công tác quản lý

1


kinh tế - xã hội. Nhu cầu thông tin và được truy cập vào các kho dữ liệu thông
tin là tất yếu đối với mỗi người. Mọi lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội
đều cần tới sự tác động của CNTT để nâng cao hiệu quả và chất lượng. Trong
giai đoạn phát triển kinh tế tri thức, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt
Nam coi ngành CNTT là ngành kinh tế mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển đất nước
và mang lại nhiều thay đổi tích cực cả trong đời sống xã hội và đời sống kinh tế.
Việt Nam đang chứng kiến một làn sóng đầu tư CNTT với quy mô chưa từng có.
Chỉ riêng 5 tập đoàn hàng đầu trong lĩnh vực CNTT trên thế giới như Samsung,
Electronics, Apple Inc, Hitachi, Sony,… đã đầu tư hàng trăm tỷ USD vào Việt
Nam để phát triển ngành CNTT. Điều này dẫn đến nguồn nhân lực CNTT chất
lượng cao trong những năm tới sẽ cần một số lượng rất lớn. Không chỉ thị trường
lao động trong nước mà trên thế giới nhiều nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản,
Hàn Quốc… cũng đang thiếu trầm trọng. Đây là môi trường tiềm năng cho
nguồn nhân lực CNTT Việt Nam có thể vươn ra thị trường thế giới. Vì thế tập
trung đào tạo nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao là vấn đề cần thiết và cấp
bách trong giai đoạn hiện nay và tương lai.
Cuộc sống hiện đại khiến sự phụ thuộc của con người vào các sản phẩm
công nghệ ngày một lớn. Vì là xu hướng phát triển cho tương lai, Công nghệ
thông tin vẫn luôn thu hút lượng lớn các bạn trẻ đang muốn xâm nhập sâu vào

mình.
Ngoại ngữ là một kỹ năng bắt buộc phải có đối với nguồn nhân lực ngành
Công nghệ thông tin. Bởi đa số các tài liệu, văn bản hướng dẫn kỹ thuật, phần
mềm ứng dụng đều bằng tiếng Anh. Hơn nữa, Việt Nam hiện nay là một đối tác
đầu tư chiến lược lớn của nhiều quốc gia. Nên, kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ
trong lĩnh vực Công nghệ thông tin ngày càng được chú trọng.
Thế nhưng, đây lại là rào cản lớn nhất với nguồn nhân lực ngành Công
nghệ thông tin Việt Nam. Theo khảo sát của JobStreet.com năm 2015, chỉ 5%
lao động ra trường tự tin với khả năng tiếng Anh. Đây là một yếu điểm của sinh

3


viên ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam. Và là một trở ngại lớn của Việt
Nam khi tham gia vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang sục sôi trên toàn cầu.
Nguồn nhân lực CNTT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền
CNTT nước ta. Trong suốt thời gian qua, việc thúc đẩy phát triển nguồn nhân
lực CNTT đã được khuyến khích mở rộng, nhiều chương trình đào tạo quốc tế đã
được đưa vào Việt Nam dưới hình thức liên kết, hợp tác đào tạo, các loại hình
đào tạo ngày càng đa dạng, phong phú. Số lượng nhân lực CNTT và sử dụng
nguồn nhân lực CNTT đã tăng nhanh chóng. Tuy nhiên, việc đào tạo và sử dụng
nguồn nhân lực CNTT hiện nay còn nhiều bất cập, tình trạng “thừa về số lượng,
yếu về chất lượng” vẫn là bài toán khó hiện nay. Số lượng sinh viên, học viên tốt
nghiệp ra trường lớn nhưng còn thiếu nhiều kiến thức và khả năng tư duy, làm
việc độc lập, chưa đáp ứng được yêu cầu của đơn vị tuyển dụng và sử dụng. Chất
lượng đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở nước ta chưa cao, khả năng trình bày,
làm việc theo nhóm, cập nhật công nghệ mới và chuyên môn còn yếu.
Từ những lý do phân tích ở trên, việc thực hiện đề tài: “Quản lý hoạt
động đào tạo trình độ Thạc sĩ ngành Công nghệ thông tin tại Học viện Khoa
học và Công nghệ” là vấn đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn, cung cấp luận cứ

dạy học”: Một nền giáo dục tiên tiến không đặt trọng tâm vào việc giúp người
đọc tiếp thu các tri thức khoa học mà nhà trường đưa lại cho họ. Ngược lại, mục
tiêu của nền giáo dục đó là giúp người học nhận ra được những năng lực trí tuệ
của mình để đi tìm tiếp những lời giải cho những vấn đề chưa hẳn hoàn toàn đã
biết theo con đường phù hợp nhất với năng lực trí tuệ của cá nhân [40]. Tác giả
muốn nói đến vai trò của người thầy - như là một người nghệ sĩ đa tài, linh hoạt,
vừa nghệ thuật lại vừa khoa học để làm sao thổi được ngọn lửa đam mê vào học
trò để học trò tự tìm được hướng đi cho chính mình.
Ở Việt Nam:
Trong tác phẩm “Lý luận đại cương về quản lý” của các tác giả Nguyễn
Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí cũng đề cập đến vấn đề quản lý là một yếu tố
quan trọng không thể thiếu trong quá trình hoạt động đào tạo của một cơ sở đào
tạo, nó thể hiện hiệu quả và chất lượng đào tạo của cơ sở đó [20].

5


Hơn lúc nào hết, giáo dục - đào tạo luôn là vấn đề nóng bỏng, nhận được
sự quan tâm của toàn xã hội nói chung và các nhà nghiên cứu giáo dục học nói
riêng. Nhà khoa học giáo dục Đặng Quốc Bảo quan niệm “Bất kỳ ai cũng là
người làm giáo dục, giáo dục để nâng cao trình độ cho chính bản thân mình, cho
con cháu mình và cho xã hội”, “nhà trường tồn tại vĩnh viễn trong giáo dục, bởi
vì người ta đến trường là để học “tư duy”, nếu chỉ cần học sự kiện thì ngồi nhà
cũng có thể học bằng Google” [31]. Ông có rất nhiều tác phẩm nghiên cứu về
vấn đề quản lý nhà trường, các cơ sở giáo dục - đào tạo như: “Một số khái niệm
về quản lý giáo dục”; “Một số vấn đề lý luận và những ứng dụng vào việc xây
dựng chiến lược giáo dục”; “Một số lý luận và thực tiễn”; “Vấn đề và giải pháp”;
“Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường” [2,3,4,5,6].
Quản trị các cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn là xu thế tất yếu của cả hệ
thống giáo dục trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là đối với các trường đại học,

Trên thực tế, ở nước ta có rất nhiều công trình luận văn, luận án đề cập
đến lĩnh vực quản lý hoạt động đào tạo. Các nội dung nghiên cứu chủ yếu là
quản lý hoạt động đào tạo nghề; quản lý hoạt động đào tạo bồi dưỡng đội ngũ
giảng viên; quản lý hoạt động đào tạo theo tín chỉ; quản lý hoạt động đào tạo
theo phương thức liên kết; quản lý hoạt động đào tạo hệ trung cấp, hệ vừa học
vừa làm, … Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập đến quản lý hoạt động đào
tạo trình độ Thạc sĩ nói chung và ngành CNTT nói riêng. Vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài “Quản lý hoạt động đào tạo trình độ Thạc sĩ ngành CNTT tại Học viện
Khoa học và Công nghệ” là rất mới mẻ và cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tiễn
và phù hợp với sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Học viện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về
hoạt động quản lý chương trình đào tạo trình độ Thạc sĩ ngành CNTT của Học
viện. Từ đó đề xuất một số biện pháp về quản lý hoạt động đào tạo trình độ Thạc
sĩ ngành CNTT tại Học viện.

7


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động đào tạo trình độ
Thạc sĩ.
- Phân tích thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ Thạc sĩ ngành
CNTT tại Học viện.
- Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động đào tạo trình độ
Thạc sĩ ngành CNTT tại Học viện.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo trình độ Thạc sĩ
ngành CNTT tại Học viện.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn được nghiên cứu, tổng hợp và hệ thống hóa những vấn đề cơ sở
lý luận về quản lý hoạt động đào tạo trình độ Thạc sĩ ngành CNTT (các khái
niệm, đặc điểm quản lý đào tạo trình độ Thạc sĩ) cũng như các yếu tố ảnh hưởng
đến quản lý hoạt động đào tạo Thạc sĩ ngành CNTT. Từ đó, xây dựng một số
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động đào tạo trình độ Thạc sĩ
ngành CNTT tại Học viện.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn sẽ phân tích thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ Thạc
sĩ ngành CNTT tại Học viện. Trong đó, nêu rõ tính đặc thù của Học viện về hoạt
động đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất. Hơn nữa, qua nghiên cứu sẽ
phân tích thực trạng quản lý mục tiêu đào tạo, thực trạng quản lý nội dung
chương trình đào tạo, thực trạng quản lý phương thức tổ chức đào tạo, thực trạng
quản lý đội ngũ giảng viên và thực trạng về quản lý học viên, chỉ rõ những ưu
điểm, những bất cập của vấn đề quản lý đào tạo trình độ Thạc sĩ ngành CNTT để
có những đánh giá chính xác làm cơ sở để đề xuất một số biện pháp mang tính
khả thi. Với hy vọng kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận văn là tài liệu tham
khảo cho cán bộ làm công tác quản lý đào tạo, giảng viên của Học viện trong
quá trình tác nghiệp.

9


7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu
tham khảo, và được trình bày chi tiết, rõ ràng qua 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo trình độ Thạc sĩ
ngành Công nghệ thông tin
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ Thạc sĩ ngành

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân cho rằng: “Hoạt động đào tạo là hoạt
động truyền thụ kiến thức, huấn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ nhằm giúp
người học chiếm lĩnh được một năng lực nghề nghiệp hoặc một năng lực liên
quan đến một mặt nào đó của cuộc sống” [33, tr 22].

11


Hoạt động đào tạo là một hoạt động xã hội đặc biệt, là đặc trưng của giáo
dục (nghĩa rộng), mà ở đó thế hệ sau được thế hệ trước truyền lại các kỹ năng
trong các công việc cụ thể như trồng lúa, làm đường, khâu vá quần áo,… dần
dần theo sự phát triển của xã hội các kỹ năng cũng trở nên phong phú hơn, hiện
đại hơn, có thể lập trình các phần mềm trên máy tính, thời trang may mặc,… cũng
là những kỹ năng có được qua quá trình hoạt động đào tạo. Như vậy các kỹ năng
thường được đúc kết từ hai yếu tố là tri thức cơ bản và kinh nghiệm thực tiễn.
Trên cơ sở tham khảo và kế thừa quan niệm của các tác giả đi trước,
chúng tôi cho rằng: Hoạt động đào tạo là sự thống nhất giữa quá trình dạy và học
được tổ chức trong một cơ sở giáo dục, mà trong đó quy trình của hoạt động, cấu
trúc, trình độ được quy định cụ thể từ mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo,
phương thức đào tạo, tổ chức đào tạo đến cơ sở vật chất,… nhằm đáp ứng mục đích
là truyền tải những thông điệp về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, chuyên môn cả về
thực hành và lý thuyết. Bên cạnh đó là sự rèn giũa, nâng cao năng lực, tu dưỡng
phẩm chất đạo đức cần thiết cho người được đào tạo có đủ “đức và tài” để tự tin
bước vào cuộc sống, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
1.1.2. Quản lý hoạt động đào tạo
* Quản lý
Quản lý là hoạt động thiết yếu trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, ở bất kỳ một tổ chức, tập thể, thậm chí trong một gia đình nhỏ đều có sự
hiện diện của hoạt động quản lý. Chức năng của quản lý là điều hành, phân công,
giám sát và kiểm tra quá trình thực hiện và tổ chức thực hiện.

* Các chức năng của quản lý
- Chức năng lập kế hoạch: Là chức năng cơ bản, đầu tiên của hoạt động
quản lý. Đây là công việc của nhà quản lý và ở mọi lĩnh vực. Lập kế hoạch bao
gồm việc xác định mục tiêu hoạt động của đơn vị, đưa ra các biện pháp thực hiện
để đạt được mục tiêu đề ra.
- Chức năng tổ chức: Trong hoạt động quản lý chức năng tổ chức là quá trình
cung cấp đầy đủ nhân lực (số lượng, chất lượng) cũng như cơ chế phát huy tối đa
sức mạnh nhân lực nhằm đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất.

13


- Chức năng lãnh đạo: Là một trong những chức năng của quá trình quản
lý, lãnh đạo là động viên, hướng dẫn, chỉ đạo các hoạt động của đơn vị để đạt
được mục tiêu.
- Chức năng kiểm tra: Là khâu cuối cùng của quá trình thực hiện mục tiêu,
kiểm tra để phát hiện ra sai lệch, tìm ra nguyên nhân và điều chỉnh nhằm đảm
bảo chất lượng.
* Quản lý hoạt động đào tạo
Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động đào tạo là sứ mệnh của các cơ sở đào
tạo, là yếu tố cơ bản quyết định sự thành công, phát triển của cơ sở đào tạo. Cũng như
mọi hoạt động khác của xã hội, hoạt động đào tạo cũng cần được tổ chức, quản lý
nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích và mục tiêu đào tạo phù hợp với từng thời kỳ
phát triển của cơ sở giáo dục cũng như của xã hội.
Theo Nguyễn Thị Hồng Vân: Quản lý hoạt động đào tạo là quá trình tác
động có hướng đích của chủ thể quản lý đào tạo ở các cấp khác nhau đến tất cả
các khâu, các yếu tố của quá trình đào tạo cũng như quy trình đào tạo nhằm đạt
đến mục tiêu đào tạo đã đề ra [33].
Như vậy: Quản lý hoạt động đào tạo là quá trình tác động có hệ thống, có
mục đích, giữa các chủ thể quản lý đào tạo ở nhiều cấp độ khác nhau đến đối

tư duy sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc ngành,
chuyên ngành được đào tạo [9].
Tóm lại: Trình độ Thạc sĩ là bậc đào tạo sau đại học, đào tạo có tính
chuyên sâu vào một chuyên ngành cụ thể, người có trình độ Thạc sĩ là người có
khả năng thích ứng và thực hành tốt những vấn đề về chuyên ngành được đào tạo.
1.1.4. Công nghệ thông tin
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: CNTT là thuật ngữ chỉ chung cho tập
hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và các
quá trình xử lý thông tin. Theo nghĩa đó, CNTT cung cấp cho chúng ta các quan
điểm, phương pháp khoa học, các phương tiên, công cụ và giải pháp kỹ thuật
hiện đại chủ yếu là các máy tính và phương tiện truyền thông nhằm tổ chức, khai

15


thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực
hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người [19].
Thuật ngữ "CNTT" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất
bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và
Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ
gọi là CNTT” [39].
Tại Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu như sau: “CNTT là tập hợp các
phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là
kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả
các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực
hoạt động của con người và xã hội” [35].
Theo định nghĩa của Luật CNTT “CNTT là tập hợp các phương pháp
khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu
thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”. Đây có thể coi là một khái niệm khá
hoàn chỉnh và đầy đủ về CNTT [28].

ngành, từng khóa đào tạo và mục tiêu của từng môn học. Các mục tiêu này có
mối liên hệ mật thiết với nhau và tạo thành một hệ thống mục tiêu chung.
Xác định mục tiêu đào tạo chính là xác định chất lượng, hiệu quả của sản
phẩm đào tạo của Học viện cũng như của ngành CNTT. Mục tiêu đào tạo phải
được điều chỉnh định kỳ để phù hợp với nhu cầu của nhà tuyển dụng và nhu cầu
của xã hội. Từ mục tiêu đào tạo chúng ta xây dựng, thiết kế chương trình đào
tạo, phương thức tổ chức đào tạo phù hợp với mục tiêu đề ra.
Đối tượng đào tạo của ngành CNTT là sinh viên đã tốt nghiệp đại học
ngành CNTT hoặc ngành học gần với CNTT. Do vậy, mục tiêu đào tạo trình độ
Thạc sĩ ngành CNTT là:
* Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Có năng lực nghiên cứu khoa học, đưa ra những sáng kiến, ý tưởng, vận
dụng một cách linh hoạt các kiến thức CNTT vào thực tiễn;

17


+ Vận dụng, phát triển các kiến thức và cập nhật hóa để khám phá, giải
quyết vấn đề, rút ra những nguyên tắc, quy luật, lý giải các cơ sở khoa học và kết
luận của các nghiên cứu, đề tài, dự án trong lĩnh vực CNTT;
+ Thực nghiệm đúng quy chuẩn, an toàn và không vi phạm đạo đức với
thái độ trung thực, chuyên nghiệp và trách nhiệm;
+ Có khả năng tự định hướng, thích nghi với môi trường nghề nghiệp thay
đổi và môi trường làm việc hội nhập quốc tế;
+ Có khả năng hướng dẫn người khác thực hiện nhiệm vụ và khả năng
quản lý, đánh giá, cải tiến các hoạt động trong lĩnh vực CNTT để nâng cao hiệu
quả hoạt động nghề nghiệp.
* Về kỹ năng:
+ Tích hợp lý thuyết và thực hành để giải quyết các vấn đề trong hoặc
ngoài phạm vi chuyên môn; thực hành tốt các kỹ thuật, phương pháp phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status