SKKN một số biên pháp nâng cao chất lượng viết đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 2 - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU.
1.1. Lý do chọn đề tài :
Ở chương trình tiểu học, phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt quan
trọng trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt. Đây là phân môn sử dụng và tổng
hợp các kiến thức, kỹ năng Tiếng Việt từ các phân môn Tập đọc, Tập viết, Chính
tả, Luyện từ và câu. Tập làm văn giúp cho học sinh vận dụng các hiểu biết và kĩ
năng về Tiếng Việt do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp. Để làm
được một bài văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn thiện các kĩ năng nghe,
nói, đọc, viết phải vận dụng các hiểu biết kiến thức về Tiếng Việt. Trong quá
trình vận dụng này, các kĩ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và nâng cao
dần. Do đó, Tiếng Việt không chỉ xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân
môn mà trở thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp. Phân môn Tập làm văn
thực hiện mục tiêu quan trọng nhất của dạy học là dạy học sinh sử dụng Tiếng
Việt để giao tiếp, tư duy, học tập. Việc học tốt môn Tập làm văn giúp cho học
sinh phát triển tư duy lôgic, có sự hiểu biết, có tình cảm yêu mến, gắn bó với
thiên nhiên, gắn bó với con người và vạn vật xung quanh. Từ đó, tâm hồn và
nhân cách của các em sẽ được hình thành và phát triển. Việc dạy cho học sinh
cách viết và trình bày một đoạn văn ngắn rất quan trọng, nó góp phần giúp cho
học sinh học tốt hơn phân môn Tập làm văn ở các lớp trên.
Trên thực tế hiện nay tôi thấy việc dạy học sinh viết đoạn văn ngắn trong
phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 2 còn nhiều khó khăn vì các em vừa
mới lớp Một lên, mới tập làm quen với phân môn này, các em còn nhiều bỡ ngỡ,
chưa có phương pháp học hợp lý. Mặt khác vốn sống của các em còn nghèo nàn,
vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn hạn chế, các em còn ít xúc cảm nên ngay từ
những tiết học đầu tiên về viết đoạn văn ngắn, mặc dù đã được giáo viên hướng
dẫn cụ thể cách viết, các em chưa tiếp nhận được mà các em còn nghĩ sao viết
vậy, không theo trật tự lôgic nào, thậm chí không sử dụng dấu câu trong quá
trình viết văn, có em chỉ trả lời câu hỏi gợi ý cộc lốc, gạch đầu dòng, xuống
dòng tùy tiện, không rõ ý, rõ câu, không thành đoạn. Tôi rất băn khoăn, trăn trở
về vấn đề này và đã quyết định chọn đề tài : “Một số biện pháp nâng cao chất
lượng viết đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 2 ”

Đối với lớp 2, dạy Tập làm văn trước hết là rèn luyện cho học sinh các kỹ
năng phục vụ học tập và giao tiếp hằng ngày. Bước đầu dạy cách làm quen với
đoạn văn thông qua nhiệm vụ kể một số việc đơn giản hoặc tả sơ lược về người,
vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh hoặc bằng câu hỏi. Vì vậy cần dạy cho học
sinh biết cách sử dụng lời nói, tạo ra động cơ, nhu cầu nói, kích thích học sinh
tham gia vào quá trình giao tiếp (nói, viết).
Để tạo lập một văn bản (đoạn văn) phải tạo nên tính thống nhất thể hiện cả
hai mặt: Sự liên kết về nội dung và sự liên kết về hình thức. Sự liên kết này có
được là nhờ tính định hướng mục đích của văn bản. Vì vậy để rèn luyện kỹ năng
viết đoạn văn ngắn cho học sinh chúng ta phải giúp học sinh xác định được mục
đích của đoạn viết thông qua việc tìm hiểu đề. Phải xác định được đề bài yêu cầu
ta làm gì? Nói, viết về cái gì? Xác định được chủ đề của bài viết và duy trì chủ
đề này trong suốt bài viết để bài văn, không lan man bằng cách tìm ý, sắp xếp ý
theo một trình tự nhất định, đồng thời phải chọn từ ngữ để dùng từ đặt câu cho
chính xác, rõ ý, có hình ảnh, có cảm xúc.
Mặt khác sự liên kết nội dung là liên kết bên trong khó nhận thấy trong dạy
bài Tập làm văn, nhiều người thường chú ý đến hình thức ngôn từ mà không coi
trọng đúng mức đến lôgic của các ý trong bài. Khi sửa bài cho học sinh, nhiều
giáo viên thường chú ý sửa lời (khi nói) mà không sửa ý (khi viết).
2.2.Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến.
Qua nhiều năm công tác, cùng với việc thăm lớp, dự giờ và các buổi sinh
hoạt chuyên môn trong tổ, tôi thấy thực tế của vấn đề này là như sau :
* Về phía giáo viên :
- Một số giáo viên trong quá trình dạy bản thân chưa thực sự coi trọng việc
rèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh, cách dạy của giáo viên còn đơn điệu, lệ
thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên. Sự sáng tạo cũng như linh hoạt của
3


giáo viên chưa có hoặc có song chưa được nhiều nên chưa cuốn hút được học

giáo lớp 1 của em làm nghề cô giáo. Cô rất thương em. Cô có mái tóc dài. Cô
còn hướng dẫn em làm toán…
Đôi khi học sinh viết câu dùng từ diễn đạt nội dung có hình ảnh song chưa
chính xác. Có em viết : “Mỗi khi cô cười cô đều nhe chiếc răng to ra trông rất
xinh.”
4


- Học sinh hầu như chưa nắm được cấu trúc của một đoạn văn ngắn, chưa có
năng lực tư duy, sáng tạo. Do tâm lý lứa tuổi và chưa được rèn luyện thường
xuyên nên các em chưa có cách quan sát cụ thể chi tiết. Các em chỉ quan sát
thoáng qua, hời hợt, thậm chí có em còn không để ý đến đối tượng cần quan sát.
Thêm vào đó khả năng tưởng tượng còn hạn chế. Do vậy khi viết đoạn văn còn
có những câu văn lạc lõng không sát thực với yêu cầu của đề bài. Các em không
biết viết thế nào, viết từ đâu để thành một đoạn văn. Một số em chưa có kỹ năng
sắp xếp câu thành đoạn. Từ chỗ nói chưa thành câu, nói câu cộc lốc nên khi viết
các em bị chi phối nhiều. Hơn nữa các em còn không biết viết câu nào trước, câu
nào sau, viết chưa thành câu đã chấm hết câu, do vậy nhiều bài văn của các em
viết không thành đoạn theo nội dung yêu cầu.
- Học sinh hay trả lời câu hỏi máy móc, câu văn thiếu sự hấp dẫn, sinh động.
Ví dụ : Tập làm văn (tuần 8 –trang 69 – TV2 tập 1 ) Viết đoạn văn nói về cô
(hoặc thầy)giáo lớp 1, trong sách giáo khoa có mấy câu hỏi gợi ý trong đó có
câu hỏi :
+ Cô giáo (hoặc thầy giáo) lớp 1 của em tên là gì?
+ Tình cảm của cô (hoặc thầy) đối với học sinh như thế nào?
+ Em nhớ nhất điều gì ở cô (hoặc thầy)?
+ Tình cảm của em đối với cô giáo (hoặc thầy giáo) như thế nào?
Có học sinh đã viết : “ Cô giáo lớp 1 của em tên là Vân. Tình cảm của cô đối
với học sinh rất tốt. Em nhớ khuôn mặt hơi đen của cô. Tình cảm của em đối với
cô là rất tốt…”.

cảm.
SL
TL
15
51,8%

Chưa biết viết
văn, gạch đầu
dòng, xuống
dòng tùy tiện,
không rõ ý, rõ
câu.

Không sử
dụng dấu câu
khi viết văn.

5
SL
10

TL
34,4%

SL
4

TL
13,8%


trường sống xung quanh. (tuy nhiên hình thức dạy học này phụ thuộc vào từng
loại bài.)
Ví dụ : Khi viết về một loài cây, tôi đã cho các em ra sân trường quan sát có
mục đích theo yêu cầu của bài tập phải đạt được:
+ Quan sát bao quát ( hình dáng, màu sắc) của cây.
+ Qua sát chi tiết (từ ngữ miêu tả các chi tiết, các bộ phận) của cây.
+ Viết và sửa lỗi từ, câu,... miêu tả cho học sinh.
6


Sau khi các em nắm được mục đích, yêu cầu khi quan sát, các em đã nhanh
chóng lựa chọn đối tượng khác nhau để làm bài (cây bàng, cây cau, cây phượng,
cây xà cừ ...), thấy được vai trò của loại cây đó đối với mọi người, với cảnh quan
nhà trường. Từ đó các em nâng cao ý thức chăm sóc, bảo vệ... Và điều quan
trọng nhất là các em rất hào hứng học tập, hoàn thành đoạn văn một cách dễ
dàng hơn.
Bên cạnh đó, giáo viên cần phải tăng cường tích cực hoá trong hoạt động học
tập. Nếu các em tiến bộ, giáo viên cần động viên, khích lệ một cách kịp thời
sẽ góp phần quan trọng trong việc tạo hứng thú để cho học sinh học tập, rèn
luyện và phát triển.
Ví dụ: Tả cây bàng
+ Tả bao quát: Cây cao khoảng 10m. Tán lá xòe rộng như một chiếc ô khổng
lồ,..
+ Tả chi tiết: Từng chiếc rễ cây nổi lên mặt đất như những hình thù quái lạ.
Thân cây sần sùi, màu nâu sẫm,...
+ Cho học sinh nêu từ các em đã chọn để tả, từ đó giáo viên giúp học sinh phân
tích, chọn lọc những từ ngữ, câu văn hay để sử dụng vào viết đoạn văn.
Qua cách hướng dẫn học sinh quan sát như trên, đã giúp các em viết được
đoạn văn đúng yêu cầu và viết có sáng tạo (về các sự vật, hiện tượng) theo yêu
cầu.

Ví dụ : Kể về người thì đoạn văn phải đảm bảo giới thiệu được người đó là ai,
hình dáng (nước da, đôi mắt, hàm răng, quần áo...) như thế nào? Có những cử
chỉ như thế nào với em? Tình cảm của người đó dành cho em và của em dành
cho người đó?
Cụ thể : Hệ thống câu hỏi ở sách giáo khoa như sau :
a, Ông, bà (hoặc người thân) của em bao nhiêu tuổi?
b, Ông, bà (hoặc người thân) của em làm nghề gì?
c, Ông, bà (hoặc người thân) của em yêu quý chăm sóc em như thế nào?
Tôi đã hướng dẫn các em dựa vào câu hỏi gợi ý trên. Ngoài ra, tôi bổ sung
thêm câu hỏi để học sinh viết và hoàn thành các đoạn văn không giống nhau đó
có thể :
- Tính tình của người đó ra sao? Người đó có thói quen gì? Sở thích của người
đó là gì?
Ví dụ : Bố em là người rất nghiêm khắc hoặc Mẹ em là một người dịu dàng…
- Cử chỉ, lời nói, việc làm của người như đó thế nào?
Ví dụ : Mẹ em người luôn quan tâm, lo lắng cho gia đình. Ngoài công việc ở cơ
quan, mẹ còn phải làm bao nhiêu là việc…
- Tình cảm của em đối với Ông, bà (hoặc người thân) của em?
Hướng dẫn các em nêu nhận xét hay cảm nghĩ của em về người thân hoặc
trong bài làm các em viết xen lẫn cả đặc điểm và tính tình, tính tình và cảm
nghĩ..
* Đối với dạng bài: Kể ngắn về bốn mùa.
- Yêu cầu học sinh khi kể phải đảm bảo giới thiệu mùa đó bắt đầu từ bao giờ?
Mùa đó có điểm gì nổi bật về thời tiết, về bầu trời, về cây cối xung quanh...? Em

8


và các bạn có những việc làm gì hay niềm vui gì khi mùa đó về? Em có thích
mùa đó không?....

vú sữa có da căng mịn, xanh óng ánh… để phục vụ cho bài Kể về một loại cây.
Khi học song bài Tập đọc “Chuyện bốn mùa”
Học sinh đã nắm thêm về đặc điểm của các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Từ đó
giúp học sinh viết đoạn văn tả về một trong các mùa được thuận tiện hơn…
9


Nhờ thực hiện biện pháp này mà tôi đã góp phần giúp các em mở rộng thêm
một số chi tiết, hình ảnh phục vụ cho những tiết Tập làm văn có nội dung liên
quan.
Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả của dạy học tích hợp, tôi đã tăng cường
luyện nói, luyện kể, cho học sinh thông qua phân môn Tập đọc, Kể chuyện. Qua
mỗi tiết học, phải rèn cho học sinh được nói ít nhất là một đến hai câu, nhất là
những câu chuyện liên quan đến Tập làm văn.
Biện pháp 4 : Trang bị cho học sinh một số từ ngữ, hình ảnh thuộc chủ đề.
Học sinh Tiểu học (nhất là học sinh lớp 2) vốn từ của các em còn hạn. Vì vậy,
giáo viên nên bổ sung thêm cho các em dựa vào từng chủ đề.
Ví dụ :
+ Tả nắng của mùa hè có thể dùng hình ảnh : nắng chói chang; nắng như thiêu
như đốt; nắng như đổ lửa; nắng cháy da, cháy thịt…
+ Tả về tiếng hót của chim : líu lo, véo von, vang lừng, ríu rít…
+ Tả thân hình : mảnh khảnh, mảnh mai, gầy gò, béo tròn, thon thả …
+ Nước da : đen sạm, trắng hồng, bánh mật, xanh xao, ngăm đen …
+ Mái tóc : đen bóng, óng mượt, bồng bềnh, đen óng ả, mượt mà…
+ Khuôn mặt : Trái xoan, đầy đặn, tròn trịa, xương xương....
+ Tả mặt biển : xanh, rộng, mênh mông , xanh ngắt …
+ Tả giọt sương : long lanh, lấp lánh, lung linh…
Tuy nhiên bản thân tôi cũng đã tùy theo chủ đề mà học sinh có cách lựa chọn
cho phù hợp.
Biện pháp 5 : Hướng dẫn học sinh viết đoạn văn đủ ý, đúng ngữ pháp có cảm

người nhưng người em yêu nhất là bố. Bố em năm nay đã 32 tuổi rồi. Với nước
da ngăm đen và dáng người cao trông bố thật khỏe mạnh. Bố em làm công an
nên công việc rất vất vả. Mặc dù bận rộn nhưng bố luôn quan tâm đến em, chăm
lo cho gia đình. Em hứa sẽ cố gắng chăm ngoan học giỏi để bố vui lòng...” (hoặc
thể hiện tình của em đối với bố với những câu văn đầy cảm xúc như : Em yêu bố
của em nhất trên đời! – Bố em quả là một người tuyệt vời! …).
hay Khi viết về con vật có học sinh đã viết như sau : “Nhà em có nuôi một chú
chó. Nó có bộ lông màu vàng lẫn nâu. Nó rất hỗn. Em rất yêu nó”.
Từ những ý đã có của học sinh, giáo viên có thể khuyến khích và hướng dẫn
các em hình thành một đoạn văn hay hơn như sau : “Nhà em có nuôi một chú
chó, em đặt tên cho chú là Mic. Toàn thân Mic phủ một lớp áo màu vàng pha lẫn
chút nâu trông mới đẹp làm sao! Hai tai lúc nào cũng vểnh lên như đang nghe
ngóng điều gì đó. Mic rất thính, chỉ cần nghe tiếng động là chú lao ngay ra và
sủa gâu…gâu, nghe rất dữ tợn. Nhờ tiếng sủa của Mic mà những tên trộm không
dám bén mảng tới gần. Gia đình em đã hoàn toàn yên tâm mỗi khi vắng nhà bới
ở nhà đã có Mic trông coi. Em rất yêu chú chó nhà em!”.
hay Khi kể về các mùa trong năm, tôi đã hướng dẫn các em thể hiện cảm xúc về
một mùa nào đó như : Ôi, mùa hè thật tuyệt! – Mùa xuân sao mà đáng yêu đến
thế! - Ôi, mùa thu sao mà diệu kì đến vậy! …)
Khi đó, học sinh sẽ thấy được vẫn là ý tưởng cũ nhưng đoạn văn đã được lột
xác, thêm thắt những từ ngữ chau chuốt hơn làm cho đoạn văn hay hơn.

11


Bên cạnh đó, đối với một số học sinh có năng khiếu, tôi dã hướng dẫn mẫu các
câu văn có sử dụng hình ảnh nhân hóa, so sánh để bài viết sinh động hơn (không
đưa ra tên gọi những thuật ngữ này).
Ví dụ :
Giáo viên đưa ra hai câu văn : “Chú mèo nhà em rất tinh nghịch” và “Con

sau đó từ câu trả lời em phát triển câu văn bằng cách thêm từ ngữ chỉ hình ảnh
12


hoặc từ dùng để so sánh vào, lựa chọn từ ngữ cho sinh động sao cho nội dung
câu văn không bị thay đổi mà người đọc lại thích thú, thấy được sự sáng tạo
trong tư duy của các em. Sau đó tiếp tục sắp xếp ý cho nội dung các câu văn có
sự liên kết lôgic.
*Bước 3 : Câu kết đoạn : Nói về tình cảm, suy nghĩ, mong ước của em về đối
tượng đã kể hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi của đối tượng đó đối với mọi người (có thể
viết một câu).
Ví dụ : Viết đoạn văn ngắn khoảng từ 4 đến 5 câu nói về một con vật mà em
thích.(trang 81 – TV2 tập 2)
+ Gợi ý :
- Con vật em định tả là con vật gì?
- Nó sống ở đâu? Hình dáng nó như thế nào?
- Hoạt động của nó có gì nổi bật?
- Vì sao em thích con vật đó?
+ Giáo viên minh họa để học sinh hiểu cách làm :
* Bước 1 : Câu mở đoạn (giới thiệu về con mèo) : Nhà em có nuôi một chú mèo
rất đẹp. (có thể viết thêm : Chú ở với nhà em đã gần một năm rồi).
* Bước 2 : Các câu phát triển (kể cụ thể về con mèo) : Chú mèo này em đặt tên
là Miu. Chú nhỉnh hơn quả mướp một chút. Hai cái tai như hai hai cánh mộc nhĩ
xinh xinh, lúc nào cũng dựng đứng lên như đang nghe ngóng điều gì đó. Bộ lông
của chú màu tro, mượt mà mượt như nhung. Cái đuôi lúc nào cũng ve vẩy. Miu
bắt chuột rất giỏi, chỉ cần nghe động là chú lao rất nhanh…
* Bước 3 : Câu kết thúc (tình cảm của em đối với con mèo) : Em rất thích chú
vì chú rất đáng yêu và còn có ích nữa.
Ví dụ: Hãy viết một đoạn văn từ 3 đến 5 câu nói về mùa hè. (Tuần 20 – trang
21- TV2 tập 2)

các em không dưạ vào bài giáo viên chỉnh sửa để làm lại bài mà lại làm mới).
Khi sửa bài, tôi giới thiệu những bài làm hay ở năm học trước, hoặc những
bài hay của học sinh trong lớp cho các em tham khảo, từ đó học sinh nhận thấy
sự khác nhau về cách diễn đạt trong cùng một đề tài để các em hiểu rằng những
bài làm thể hiện suy nghĩ độc lập của cá nhân luôn được khích lệ và tôn trọng.
Biện pháp 8 : Tổ chức cho các em sinh hoạt câu lạc bộ “Em yêu Tiếng Việt”.
Trong những năm gần đây, ngoài việc giảng dạy theo chương trình của Bộ
GD&ĐT. Dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của Phòng GD&ĐT, sự đồng tình ủng hộ
của các bậc phụ huynh học sinh và sự đam mê của các em học sinh nên các
trường Tiểu học trên địa bàn huyện cũng như trường Tiểu học…. nơi tôi công
tác đã thành lập và tổ chức tốt hoạt động ngoài giờ lên lớp cho các em tham gia
sinh hoạt qua việc sinh hoạt các Câu lạc bộ : Toán; Em yêu Tiếng Việt... Bởi
trong khuôn khổ giờ học trên lớp, các em chưa bộc lộ, phát triển được năng
khiếu của mình. Vì vậy việc thành lập và tổ chức sinh hoạt các Câu lạc bộ trong
Nhà trường nhằm tạo sân chơi bổ ích, sự trải nghiệm, sự sáng tạo…tạo điều kiện
thực hành những điều đã học nhằm càng hoàn thiện mình hơn trong cuộc sống
cũng như phát triển tối đa khả năng còn tiềm ẩn trong mỗi cá nhân. Bên cạnh đó
thông qua việc sinh hoạt tập thể, sinh hoạt nhóm giúp các em học hỏi kinh
nghiệm lẫn nhau trong quá trình làm việc và học tập.
14


Trong quá trình sinh hoạt Câu lạc bộ :“Em yêu Tiếng Việt” khối lớp 2 gồm có
20 học sinh tham gia. Bản thân tôi đã được Ban giám hiệu nhà trường phân công
phụ trách nên tôi đã hiểu được những tâm lý lứa tuổi của các em. Biết được trình
độ học tập và nhận thức của các em thông qua việc trực giảng dạy trên lớp nên
trong quá trình giảng dạy Câu lạc bộ, từ đó tôi đã làm các dạng đề ôn luyện cũng
như giao lưu với lượng kiến thức vừa đủ, luôn tạo tâm lý thoải mái cho các em,
hướng các em xây dựng nhóm “Đôi bạn cùng tiến” trong quá trình sinh hoạt
nhằm giúp các em học hỏi được những câu, những ý hay của bạn trong quá trình

+ Học sinh biết cách liên hệ thực tế để viết đoạn văn ngắn đảm bảo tính loogic
trong từng chủ đề và nội dung cần tích hợp của môn học (TN-XH, Đạo đức, Âm
nhạc,…) và môn Tiếng Việt (Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện)’
+ Sự hợp tác, qua trao đổi, nhận xét, đánh giá, giúp các em sửa lỗi và viết câu
đúng, đoạn văn hay, sáng tạo.
Qua khảo sát lần cuối năm học, tôi thấy không còn tình trạng học sinh
không sử dụng dấu câu khi viết văn, biết dùng từ ngữ phù hợp hơn, diễn đạt trôi
chảy hơn…kết quả thu được như sau :
Bảng 2: Kết quả khảo sát viết đoạn văn của học sinh lớp 2 cuối năm học 20182019

Tổng
số
học
sinh

29
em

Viết câu văn
trọn ý, đảm
bảo yêu cầu,
đoạn viết giàu
hình ảnh, có
cảm xúc.
SL
TL
16
52,2%

Viết câu văn có ý theo



3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận :
Việc dạy cho học sinh biết cách học tốt phân môn Tập làm văn là môi trường
quan trọng bồi dưỡng cho trẻ những phẩm chất tốt như : tính cẩn thận, chịu khó,
tự tin, óc tư duy, sáng tạo, bồi dưỡng cho các em thế giới quan và nhân sinh
quan. Bên cạnh đó, tôi nhận thấy rằng, những em tiếp thu chậm, việc viết đoạn
văn sạch sẽ, rõ ràng là yêu cầu không quá cao nhưng muốn viết hay thì yêu
cầu trẻ phải kiên nhẫn nhiều hơn. Trong quá trình áp dụng một số biện pháp
trên, bản thân tôi rút ra bài học kinh nghiệm sau :
- Giáo viên phải có lòng nhiệt tình, quan tâm chăm sóc, gần gũi với học sinh,
phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các em thực hiện nhiệm vụ học tập.
- Lựa chọn phương pháp dạy học, có hiệu quả nhằm phát huy tính tích cực chủ
động sáng tạo của học sinh.
- Sử dụng tối đa đồ dùng dạy học và có hiệu quả trong từng tiết dạy.
- Phải tạo lớp học không khí thoải mái, sinh động để tạo sự ham thích học tập
ở học sinh thông qua một số trò chơi phục vụ bài học.
- Hình thành cho các em thói quen học tập, làm việc một cách khoa học : Đọc
kỹ đề bài, xác định yêu cầu của đề bài, quan sát thực tế, sử dụng đồ dùng dạy
học, câu hỏi gợi ý, dẫn dắt học sinh hình thành kĩ năng và kiến thức mới.
- Đặt các tình huống có vấn đề giúp học sinh luôn suy nghĩ, tìm tòi để phát
triển tư duy, khơi gợi niềm say mê ở các em, học cách ghi nhớ để nhớ lâu kiến
thức.
- Phải để các em tự do trình bày ý kiến của mình, không ngắt lời khi học sinh
đang phát biểu, tạo cho các em sự tự tin.
Theo ý kiến của cá nhân tôi, các biện pháp trên không chỉ áp dụng với phân
môn Tập làm văn ở khối lớp 2 mà có thể áp dụng với nhiều khối lớp khác. (khi
lên các lớp trên, các em sẽ dựa vào những gì đã tiếp thu được về viết đoạn văn
ngắn để phát triển, mở rộng thành những bài văn hay một cách chủ động hơn).

Xác nhận của Hiệu trưởng

Người viết

Phạm Thị Phượng

18


PHỤ LỤC
Bài viết của em : Lê Thị Thanh Thảo

Bài viết của em : Tống Hoàng Min Quân

Bài viết của em : Lê Đức Trung Anh

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status