VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ MỸ LINH
HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC
SỨC KHỎE TINH THẦN CHO CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG
LÀM VIỆC TẠI KHU CÔNG NGHIỆP HANAKA, TỈNH
BẮC NINH
Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 876 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐỖ THỊ VÂN ANH
HÀ NỘI, 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào. Các số
liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo
tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả
Hà Mỹ Linh
3.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên, cán bộ làm công tác xã hội..................71
3.3. Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và toàn xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe
tinh thần cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp........................................ 73
3.4. Xây dựng các mô hình và định hướng từng bước phát triển hệ thống thiết chế văn hóa,
thể thao phục vụ công nhân lao động......................................................................... 74
3.5. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phát triển đoàn viên, thành lập
công đoàn cơ sở, xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh........................................... 76
KẾT LUẬN............................................................................................................... 78
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNLĐ
Công nhân lao động
CTXH
Công tác xã hội
KCN
Khu công nghiệp
SKTT
Sức khỏe tinh thần
“cơm áo gạo tiền” hàng ngày vừa có nguy cơ nhận lại hệ lụy của việc làm việc
quá sức hay quá bận rộn chẳng có thời gian để chăm sóc đến sức khỏe tinh thần
của mình nữa. Trong đó, việc chăm sóc sức khỏe tinh thần cho công nhân lao
động làm việc tại các KCN - 1 bộ phận lao động quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế đất nước, đang ngày càng được chú trọng, bởi vì bảo vệ sức khỏe của
công nhân lao động chính là bảo vệ sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp.
Đời sống văn hóa tinh thần của CNLĐ tại các KCN hiện nay cũng ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe tinh thần của họ, bởi cuộc sống có đầy đủ về vật chất và tinh
thần thoải mái sẽ tạo tâm lý thoải mái cho CNLĐ làm việc, năng suất lao động mới
cao, kéo theo hiệu quả của cả một dây chuyền sản xuất, cả một doanh nghiệp phát
triển, tạo thành động lực làm việc bền vững và hiệu quả. Sau hơn 30 năm đổi mới,
đời sống văn hóa, tinh thần của công nhân lao động đã được Đảng, nhà nước quan
tâm, thể hiện trong đường lối xây dựng giai cấp công nhân và các chế độ chính sách
chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân lao động.
Theo báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam, tính đến cuối năm
2018 cả nước có khoảng 15,7-16 triệu lao động trong các loại hình doanh nghiệp
(công nhân lao động) [2]. Hiện nay, cả nước có 289 khu công nghiệp, khu chế
xuất (KCN, KCX) đang hoạt động và 98 khu công nghiệp đang trong giai đoạn
đền bù giải phóng mặt bằng, dự kiến sẽ thu hút khoảng 2,1 - 2,2 triệu lao động.
Điều này đã góp phần làm thay đổi mọi mặt đời sống của người dân, tuy nhiên
trái với mặt tích cực đó vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế.
1
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu công nhân và Công đoàn, tổng thu
nhập trung bình của công nhân lao động trong các doanh nghiệp dao động từ 4,5 triệu-5
triệu đồng/1 tháng [1]. Với tình hình lạm phát, giá cả hàng hóa dịch vụ tăng nhanh như
hiện tại, mức lương này cũng chỉ thỏa mãn được 70% nhu cầu sống của họ, chủ yếu về
những người giúp CNLĐ giải gỡ, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống đồng
tời cũng là cầu nối giữa họ với doanh nghiệp và các cấp, các ngành có liên quan.
Với thực trạng như trên đó cũng là lí do tôi chọn đề tài :” Hoạt động công
tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tinh thần cho công nhân lao động làm việc
tại KCN HANAKA, tỉnh Bắc Ninh” nhằm tìm hiểu về đời sống, sức khỏe tinh
thần của công nhân lao động tại đây để cùng với Công Đoàn doanh nghiệp, địa
phương, các cấp các ngành liên quan đưa ra những giải pháp, chương trình hành
động giúp cải thiện sức khỏe tinh thần cho công nhân lao động làm việc tại KCN
HANAKA nói riêng, công nhân lao động trong các KCN trên cả nước nói chung,
góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ mới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
-
Đề tài ” Tìm hiểu đời sống văn hóa của công nhân khu công nghiệp Khai
Quang – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc ”của Nguyễn Văn Quân (Đại học văn hóa Hà Nội)
[10]. Đề tài đưa ra một cái nhìn tổng quan về thực tiễn đời sống văn hóa công nhân tại
khu công nghiệp, cung cấp các số liệu, khảo sát và đưa ra đánh giá về đời sống văn hóa
của công nhân tại khu công nghiệp Khai Quang, chỉ ra những đặc thù riêng trong
hoạt động văn hóa tại khu công nghiệp Khai Quang, từ đó đề xuất những giải pháp
cơ bản nhằm nâng cao đời sống văn hóa công nhân khu công nghiệp Khai Quang
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nếu đề tài được áp dụng tại địa phương sẽ
góp phần vào việc nâng cao đời sống văn hóa của công nhân khu công nghiệp Khai
Quang và các khu công nghiệp khác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Đề tài khoa học cấp nhà nước ”Lối sống công nhân Việt Nam trong điều kiện
công nghiệp hóa” do PGS.TS Vũ Quang Thọ làm chủ nhiệm [11]. Dựa trên cơ sở lý
khu công nghiệp hiện nay" do ThS. Lê Thị Lan Hương làm chủ nhiệm đã hệ thống
hoá và bổ sung, phát triển lư luận về văn hóa, nhu cầu, đời sống văn hóa, đời sống
văn hóa tinh thần của công nhân khu công nghiệp[17]. Khái quát thực trạng, phát
hiện những vấn đề đặt ra đối với nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của công nhân
các khu công nghiệp hiện nay và đề xuất giải pháp và những kiến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong công tác xây dựng đời sống
văn hóa tinh thần của công nhân khu công nghiệp trong thời gian tới.
-
Đề tài “Xây dựng môi trường văn hóa trong công nhân ở thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay” của PGS.TS. Phạm Duy Đức – Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát
triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [12]. Đề tài này đã trình bày tổng quan
về thực trạng đời sống của đội ngũ công nhân ở Tp.HCM hiện nay như tình hình số
4
lượng công nhân, vấn đề tiền lương, trình độ học vấn, tay nghề…. , đã đề ra những giải
pháp xây dựng và phát triển môi trường văn hóa lành mạnh trong công nhân ở các
KCX-KCN ở địa bàn Tp. HCM hiện nay. Tuy nhiên, do công trình này nghiên cứu
trên phạm vi thành phố nên nội dung và kết quả của đề tài này mang tính khái quát,
những kiến nghị, giải pháp đề ra chỉ ở mức lý luận chung chung và tổng thể.
- Phan Thị Mai Hương Viện Tâm lý học làm chủ nhiệm (2011), “Báo cáo
kết quả nghiên cứu về công nhân”[13]. Đề tài đã thực hiện khảo sát với những
công nhân trên cả ba miền đất nước về vấn đề kinh tế - xã hội. Nghiên cứu này
đã chỉ ra rằng người công nhân có sự quan tâm đối với các vấn đề lớn của đất
của CNLĐ làm việc tại KCN HANAKA, tỉnh Bắc Ninh và sự quan tâm của chủ
doanh nghiệp cũng như chính quyền địa phương về vấn đề này.
- Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng trên, các hoạt động công tác xã hội đã có
trong việc chăm lo sức khỏe tinh thần cho CNLĐ tại đây, từ đó cùng với các cấp các
ngành có liên quan đề ra những giải pháp, chương trình hành động trợ giúp CNLĐ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa những lý thuyết, khái niệm có liên quan đến đề tài
nghiên cứu
Tìm các yếu tố liên quan tác động, ảnh hưởng đến đời sống tinh
thần của
-
Phân tích, tìm hiểu thực trạng của một số hoạt động công tác xã hội trong việc
hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tinh thần CNLĐ đã có tại KCN HANAKA để tìm ra ưu điểm,
nhược điểm và những thuận lợi, khó khăn trong tổ chức các hoạt động xã hội để
rút kinh nghiệm.
-
Đề xuất những giải pháp hỗ trợ các hoạt động CTXH phù hợp với điều
kiện của doanh nghiệp mang lại hiệu quả cao hơn.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Đây là một trong những phương pháp rất quan trọng trong mọi báo cáo cũng như
nghiên cứu, được sử dụng để lựa chọn những tài liệu, số liệu, những thông tin có liên
quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu của đề tài. Phương pháp này được sử dụng
trong suốt quá trình phân tích, đánh giá toàn diện các nội dung, các đối tượng nghiên
cứu trong đề tài nghiên cứu như: trình độ học vấn của CNLĐ, tình hình thu nhập, sức
khỏe của CNLĐ, vấn đề nhà ở, các thiết chế văn hóa, các hoạt động vui chơi giải trí,
các hoạt động về đời sống văn hóa, môi trường làm việc. Phân tích các tài liệu sẵn có,
các báo cáo của các cấp, các ngành và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để tập hợp, so
sánh, đối chứng với kết quả nghiên cứu này. Tập hợp kết quả điều tra, khảo sát dể xử
lý, phân tích theo các tiêu chí và phân mềm tương quan bằng phần mềm vi tính. Việc
nghiên cứu và phân tích tài liệu này sẽ giúp tôi có cái nhìn tổng quan từ những nghiên
cứu trước về hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tinh thần cho CNLĐ.
5.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi
Đặc trưng của phương pháp này nhằm dùng bảng hỏi được quy định chuẩn
để hỏi chung cho đối tượng nằm trong mẫu điều tra, qua đó lượng hóa các thông
tin cần thiết. Các mẫu phiếu hỏi được thiết kế cho từng đối tượng khác nhau, với
những câu hỏi được sắp xếp theo trật tự của suy luận logic. Phương pháp này là
tiền đề giúp cho việc phân tích, đánh giá tổng hợp các nội dung và đối tượng
nghiên cứu một cách khách quan và chính xác. Người nghiên cứu tiến hành thiết
kế bảng hỏi nhằm thu thập thông tin về thực trạng các hoạt động công tác xã hội
trong chăm sóc sức khỏe tinh thần cho công nhân lao động và hiệu quả cũng như
các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các hoạt động này.
Bảng hỏi được sử dụng để trưng cầu ý kiến trong phạm vi 80 CNLĐ, gồm 36
nam và 44 nữ công nhân tại KCN HANAKA nhằm khảo sát nhận thức của CNLĐ,
7
doanh nghiệp, 01chủ tịch công đoàn của doanh nghiệp.
8
- Phỏng vấn chủ doanh nghiệp, nội dung chủ yếu về:
+
Suy nghĩ của chủ doanh nghiệp về vấn đề chăm lo đời sống vật chất,
tinh thần
cho người lao động
+ Cách đầu tư, quan tâm cụ thể chăm lo đời sống tinh thần, đặc biệt là đời
sống SKTT cho CNLĐ
+
Đánh giá của chủ doanh nghiệp về hoạt động CTXH trong doanh
nghiệp
+
Kiến nghị với cấp trên về cơ chế chính sách hỗ trợ các hoạt động
CTXH cho
người lao động.
- Phỏng vấn chủ tịch công đoàn của doanh nghiệp:
+
Đánh giá điều kiện cơ sở vật chất và sự quan tâm của doanh nghiệp
đối với
người lao động
+
Sự tạo điều kiện của doanh nghiệp để cho công đoàn hoạt động, chế
độ đãi
góp phần vào việc có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về các hoạt động CTXH
trong chăm sóc sức khỏe tinh thần cho CNLĐ.
9
- Đề tài có sự tham khảo của một số tài liệu và số liệu có liên quan đến
vấn đề thực trạng các giải pháp về đời sống công nhân của môt số công trình
nghiên cứu trước, đồng thời cũng vận dụng một số lý thuyết trong công tác xã
hội như lý thuyết nhu cầu, lý thuyết hệ thống để có thể tiếp cận và nghiên cứu
các quy luật tác động, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu.
- Kết quả của cuộc nguyên cứu này sẽ làm sáng tỏ và phong phú thêm về
luận điểm lý thuyết công tác xã hội nói chung và các lý thuyết được vận dụng
trong đề tài này nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
-
Giúp tác giả thấy được thực trạng chăm sóc sức khỏe tinh thần cho CNLĐ tại
KCN HANAKA, các hoạt động CTXH đã diễn ra trong thực tiễn hỗ trợ cho CNLĐ và
những tác động ảnh hưởng đến hoạt động CTXH.
-
Đây là cơ sở thực tiễn để công đoàn và chính quyền địa phương căn cứ vào đó
để có sự can thiệp, đề ra những chính sách kịp thời để đưa các hoạt động CTXH trong
chăm sóc sức khỏe tinh thần
7.
cường sức khỏe thể chất và sức chịu đựng . Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
không có định nghĩa chính thức về sức khỏe tinh thần. Các nền văn hóa khác nhau,
các đánh giá chủ quan và các giả thuyết khoa học khác nhau đều có ảnh hưởng tới
định nghĩa về khái niệm sức khỏe tinh thần. Hiểu một cách thông thường thì mọi
người trong chúng ta đều hiểu (ít nhất là cảm nhận) sức khỏe tinh thần là tâm trạng
thoải mái, thanh thản, “ăn ngon, ngủ yên”, không có bệnh tật gì về tâm lý...
Gọi là có SKTT có nghĩa là sức khỏe ấy có thể tạo ra những giá trị nhất định –
linh hoạt vượt qua những thách thức, thể hiện khác nhau trong những hoàn cảnh khác
nhau, và theo các tác giả Mỹ (Myers, Sweeny, Witmer), nhất là trong lĩnh vực tâm linh,
làm việc và nghỉ ngơi, quan hệ bạn bè, yêu đương và định hướng cá nhân, nói cụ thể
hơn, thể hiện trong các công việc : coi trọng giá trị, khả năng kiểm tra, niềm tin hiện
thực, xúc cảm và đương đầu, giải quyết vấn đề và khả năng sáng tạo, tính khôi hài, ăn
11
uống luyện tập, tự chăm sóc, khả năng điều khiển tình trạng căng thẳng (stress),
bản sắc giới, bản sắc văn hóa, làm sao giải quyết được các tình huống, giữ được
tinh thần khỏe mạnh.[6]
Sức khỏe tinh thần là yếu tố vô cùng quan trọng trong đời sống cảm xúc lành
mạnh của con người, đó là niềm hạnh phúc tự tại từ bên trong, một cảm giác vững
chắc về bản thân và khả năng kiểm soát bản thân dù đang ở trong bất cứ một tâm
trạng nào. Mặt khác phải thấy rằng, sự tồn vong của doanh nghiệp phụ thuộc rất
nhiều vào yếu tố con người. Vậy nếu doanh nghiệp có nguồn nhân lực đạt yêu cầu
để thực thi cho một mục tiêu nào đó thì tất nhiên “sức khỏe tinh thần” của mỗi
thành viên sẽ ảnh hưởng hoặc tác động không nhỏ đến việc hoàn thành mục tiêu.
Kết luận chung lại theo quan điểm cá nhân của tôi, “Sức khỏe tinh thần là khái niệm ám
chỉ tình trạng tâm thần và cảm xúc tốt của mỗi cá nhân, là một trạng thái khỏe mạnh mà
trong đó, mỗi cá nhân nhận biết được khả năng của bản thân, có thể ứng phó với sự
căng thẳng thông thường, làm việc hiệu quả và có sự đóng góp cho cộng đồng”.
*
Khái niệm CNLĐ:
CNLĐ là người lao động phổ thông, theo nghĩa rộng là người kiếm sống bằng
cách làm việc thể xác (lao động chân tay), bằng cách của mình – cung cấp lao động
để lãnh tiền công (tiền lương) của chủ nhân (người sử dụng lao động), để nỗ lực tạo
ra sản phẩm cho người chủ và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo)
để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng.
1.1.2 Một số biểu hiện của sức khỏe tinh thần lành
mạnh - Khả năng tự bản thân
Cảm nhận được con người họ khỏe mạnh và tươi mới, mỗi ngày đi làm đều
bắt đầu với nguồn năng lượng dồi dào. Không bị phụ thuộc quá nhiều vào cảm
xúc, không bị cuốn hút, không bị sở hữu hoặc bị kiểm soát, biết cách đương đầu
với rắc rối của bản thân và trong cuộc sống hàng ngày.
Không sợ đơn độc và cũng không sợ người lạ, không muốn người khác
giúp mình cũng không cố cứu giúp hoặc thay đổi người khác.
Không dựa vào người khác để kiểm soát cảm xúc của bản thân, cũng không thể
hiện cảm xúc của họ cho người khác.
- Tôn trọng sức khỏe bản thân
Thỉnh thoảng quan tâm sức khỏe bản thân quá nhiều bị nhầm lẫn với trạng
thái yêu bản thân thái quá (đặc trưng bởi: tự tin vào bản thân, có hành vi tự cao
tự đại, khát vọng được người khác ngưỡng mộ, tự tin bản thân có tiền, sức mạnh,
thiếu đồng cảm) và ngược lại.
Nhận thức, chấp nhận điểm mạnh và điểm yếu của bản thân. Học cách để tự đánh
giá bản thân và tự công nhận giá trị của bản thân một cách chính xác, để bản thân
13
bản thân có thể nhận thấy chính xác điều mà mình cảm thấy và điều đó nghĩa là
trong mối quan hệ của bạn với cuộc sống hiện tại của bạn.
Không sống vội. Giành thời gian nhìn lại và suy ngẫm về điều đang diễn ra bên
trong nội tâm và bên ngoài con người bạn. Nghĩ về điều đã xảy ra với bản thân trong
14
cuộc sống hoặc điều đang diễn ra và chủ động đưa ra quyết định về cách cư xử
của cá nhân dựa trên cảm xúc đích thực và thực tại.
Có thể giải quyết hiệu quả những tổn thương trong quá khứ và phát triển
như một con người bình thường.
-
Đồng cảm và tràn đầy tình yêu thương
Người có sức khỏe tinh thần khỏe mạnh có một sự đồng cảm sâu sắc và lan
tỏa sự thông cảm đến người khác. Đồng cảm không cần thiết phải đồng ý với
người khác hoặc đồng ý hành động của họ, nhưng hiểu được cách người khác
cảm nhận, suy nghĩ, xử sự và tại sao họ làm vậy.
Đồng cảm trong chính bản thân mình sẽ lan tỏa phát triển thành tình yêu
thương con người bao la. Hiểu được những gì bản thân tự cảm nhận và hiểu cách
người khác cảm nhận, giành nhiều tình yêu thương con người cho những người
đang rất cần sự yêu thương
-
Khả năng thích ứng
Khả năng thích ứng là một trong những đặc điểm tiêu biểu cần có. Người
có sức khỏe tinh thần khỏe mạnh có thể thích nghi để thay đổi nhanh chóng và
quan tâm về bạn.
Nếu bạn muốn thứ gì đó, bạn phải hành động để đạt được. Bạn cũng chấp
nhận rằng thỉnh thoảng cuộc sống không công bằng và không phải mọi người
đều bắt đầu giống nhau, bao gồm bạn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng
bạn xử sự không công bằng với người khác.
-
Giúp đỡ người khác hết mình
Căn bản là mọi người chịu trách nhiệm cho cuộc sống của mình. Theo mặc
định, bạn không nợ ai bất cứ gì, giống người khác cũng không nợ bạn.
Người có SKTT tốt thì rất biết xem xét và hay giúp đỡ. Tuy nhiên, với họ
cho đi và giúp đỡ người khác là một hành động thể hiện sự tử tế, không phải là
một nghĩa vụ.
Bạn giúp người khác và quan tâm họ, nhưng bạn không cảm thấy bạn phải chịu
trách nhiệm cho sức khỏe của họ, giống như người khác không chịu trách nhiệm
với bạn.
- Có được mối quan hệ tốt
Nền tảng của mối quan hệ tốt là những ranh giới. Đối xử công bằng với
người khác, nghĩa là bạn yêu và tôn trọng họ và không lãng phí công sức cho
những người không đáng hoặc chịu đựng hành vi quấy rầy của họ.
16
Nếu bạn vượt qua những điều không tốt, bạn nên đưa ra quyết định về việc
đó thay vì phản ứng lại hoặc chủ động chấp nhận nó. Bạn tái đánh giá mối quan
hệ của bạn với người khác theo quy tắc cơ bản và đi đến kết luận rằng sẽ cố duy
trì ranh giới mối quan hệ.
hoạt động tập thể, tham vấn tâm lý... những nhu cầu đó đều phản ánh hiện trạng
SKTT của CNLĐ đang ở mức độ nào, nếu nhu cầu của CNLĐ chưa được đáp
ứng đầy đủ thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến SKTT của họ. Như việc thường xuyên
cảm thấy stress, mệt mỏi, không tập trung trong giờ làm, các mối quan hệ của
CNLĐ tại nơi làm việc với nhau cũng sẽ đánh giá hiện trạng SKTT của họ.
Ngược lại, khi những nhu cầu chính đáng được đáp ứng sẽ là những động lực để
CNLĐ cống hiến tốt nhất những gì họ có cho công việc và xã hội.
1.2 Lý luận về hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tinh
thần cho công nhân lao động
1.2.1 Khái niệm công tác xã hội
Theo Từ điển Công tác xã hội (R.Barker), 1999, tr.455) “CTXH là một
khoa học ứng dụng nhằm giúp con người phát huy có hiệu quả chức năng của
mình và tạo ra những thay đổi xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho
tất cả mọi người” [15].
Theo Hiệp hội những người làm công tác xã hội quốc gia (NASW): CTXH
là một hoạt động chuyên nghiệp trong việc giúp đỡ các cá nhân, tập thể hoặc
cộng đồng nhằm phục hồi khả năng của họ về chức năng xã hội nhất định và tạo
ra những điều kiện thích hợp cho mục đích này.[4]
Năm 2004, tại Canada, Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế họp đã bổ
sung và khẳng định: CTXH là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay
đổi của toàn xã hội, bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội
(vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) và quá trình tăng cường năng lực,
giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. CTXH đã giúp
con người phát triển hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi
người dân. [16]
Từ những khái niệm và quan điểm trên, có thể nhận thấy: CTXH là một khoa
học, nghề chuyên môn mang tính ứng dụng cao nhằm trợ giúp các đối tượng yếu
18
và hướng giải quyết phù hợp.
19