SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LÊ LỢI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC
SINH THÔNG QUA DẠY BÀI TẬP “QUANG HÌNH” VẬT LÍ 11
Người thực hiện: Nguyễn Văn Bảy
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn : Vật lý
THANH HOÁ NĂM 2018
Mục lục
Nội dung
1.MỞ ĐẦU
1.1.Lý do chọn đề tài
1.2.Mục đích nghiên cứu
1.3.Đối tượng nghiên cứu
1.4.Phương pháp nghiên cứu
1.5. Những điểm mới của SKKN
2.NỘI DUNG
2.1.Cơ sở lý luận
2.2.Thực trạng vấn đề
2.3.Giải pháp sử dụng
2.4.Hiệu quả của sáng kiến mang lại
3.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong đó nhấn mạnh đổi
mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, khung chương trình đào tạo ở
bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hướng phát huy tư duy sáng tạo,
năng lực tự học, tự nghiên cứu, tăng thời gian thực hành, tập trung vào những
nội dung, kỹ năng người học .
Năng lực giải quyết vấn đề không chỉ bao gồm kĩ năng giải quyết vấn đề mà
còn có kĩ năng tư duy, sáng tạo và đánh giá. Thực tiễn cuộc sống luôn xuất hiện
những vấn đề khác nhau, đòi hỏi mỗi cá nhân phải có phương án giải quyết tối
ưu nhất. Vì vậy, bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh là nhiệm vụ
quan trọng của quá trình dạy học .
Trong dạy học Vật lí, để nâng cao chất lượng học tập và phát triển năng lực
giải quyết vấn đề của học sinh có nhiều phương pháp khác nhau. Trong đó, giải
bài tập vật lí với tư duy là một phương pháp dạy học, có tác động tích cực đến
việc giáo dục và phát triển học sinh. Đồng thời cũng là thước đo thực chất, đúng
đắn sự nắm vững kiến thức, kĩ năng của học sinh. Mặc khác, số lượng bài tập vật
lí trong sách giáo khoa và các sách bài tập khá nhiều, việc lựa chọn và sử dụng
hiệu quả, giúp bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh, đòi hỏi giáo
viên phải có sự chuẩn bị tốt nhất để đạt được hiệu quả mong muốn.
Bài tập vật lí là một công cụ có thể sử dụng trong các gia đoạn khác nhau của quá
trình dạy học, bằng nhiều dạng bài tập, nhiều cách khai thác khác nhau, sẽ tạo ra
nhiều biện pháp sử dụng bài tập nhằm bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề cho
học sinh. Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào viết về việc sử dụng bài tập vật
lí để bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh một cách đầy đủ.
Với những lý do trên tôi lựa chọn đề tài “Bồi Dưỡng Năng Lực Giải Quyết Vấn
Đề Cho Học Sinh Thông Qua Dạy Bài Tập “Quang Hình” Vật Lí 11”
để làm đề tài nghiên cứu.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế thế giới (OPEC) quan niệm: “Năng
lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một
bối cảnh cụ thể”.
Theo Denyse Tremblay: “Năng lực là khả năng hành động, thành công và
tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để
đối mặt với các tình huống trong cuộc sống” .
Giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, xếp năng lực vào
phạm trù hoạt động khi giải thích: “Năng lực là sự huy động tổng hợp các
kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như: hứng thú, niềm tin, ý
chí … để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”
Như vậy, năng lực là khả năng của cá nhân thực hiện một công việc chuyên
môn và được thể hiện trong hoạt động thực tiễn. Trong đó, năng lực được hình
thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép
con người thực hiện thành công một hoạt động nhất định, đạt kết quả mong
muốn trong điều kiện cụ thể.
2.1.2.Năng lực giải quyết vấn đề
2.1.2.1.Khái niệm
Theo Pisa 2003: “Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng một cá nhân có thể
sử dụng các quy trình nhận thức để đối mặt và giải quyết những vấn đề thật
mang tính chất liên ngành trong khi giải pháp không phải luôn rõ ràng và
những mảng kiến thức cần thiết để giải quyết vấn đề, không chỉ nằm riêng rẽ
trong một lĩnh vực toán học, khoa học hay đọc hiểu” .
Như vậy, năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân tham gia vào
quá trình nhận thức để phát hiện, hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề,
mà ở đó học sinh chưa thể tìm ra ngay giải pháp để giải quyết vấn đề đó, bao
gồm cả thái độ sẵn sàng tham gia vào các tình huống có vấn đề.
2.1.2.2. Cấu trúc của năng lực giải quyết vấn đề
- Tìm hiểu vấn đề: Phát hiện, nhận biết vấn đề; làm rõ bản chất của vấn đề;
đó, học sinh cần xem xét, phân tích, đánh giá các mặt của vấn đề để lựa chọn
được phương án tối ưu nhất.
- Thực hiện và đánh giá giải pháp: Thực hiện giải pháp; trình bày, đánh giá kết
quả và giải pháp đã thực hiện; khái quát hóa cho những vấn đề tương tự.
+ Thực hiện giải pháp: Sau khi lựa chọn được phương pháp tối ưu, học
sinh cần lập kế hoạch thực hiện giải pháp: tiến trình thực hiện, phân bổ, cách
sử dụng các nguồn lực. Từ đó, thực hiện kế hoạch đề ra để tiến hành giải
quyết vấn đề.
+ Trình bày, đánh giá kết quả, giải pháp đã thực hiện: Từ những kết quả
thu được, học sinh cần đối chiếu với mục tiêu ban đầu để đánh giá kết quả
thực hiện. Nêu kết quả chưa phù hợp, cần tìm ra lí do để khắc phục, hoàn
thiện vấn đề. Từ những kết luận đã nêu cho vấn đề vừa giải quyết, cần khái
quát hóa lý thuyết, để áp dụng cho những vấn đề tương tự, rút kinh nghiệm
cho những hoạt động tiếp theo.
2.1.2.3.Vai trò của bài tập vật lí trong việc bồi dưỡng năng lực giải quyết
vấn đề cho học sinh
- Bài tập giúp cho việc ôn tập đào sâu, mở rộng kiến thức.
-Bài tập có thể được dùng tạo tình huống có vấn đề.
-Bài tập vật lí là một trong những phương tiện rất quý báu để rèn luyện kĩ năng, kĩ
xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái
quát đã thu nhận được để giải quyết các vấn đề của thực tiễn.
-Giải bài tập là một trong những hoạt động để phát triển năng lực giải quyết vấn đề
-Giải bài tập vật lí góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh
-Bài tập vật lí cũng là một công cụ để đánh giá năng lực học sinh.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1.Thực trạng
Hiện nay, việc bồi dưỡng năng lực cho học sinh đang được chú trọng ở các
trường phổ thông. Để tìm hiểu thực trạng bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn
2.2.2.Nguyên nhân và giải pháp
Nguyên nhân
-Học sinh có thói quen học để thi, nên không chú trọng đến việc rèn luyện năng lực,
hay khi gặp một bài tập, học sinh chỉ quan tâm đến việc tìm ra kết quả cuối cùng
mà chưa quan tâm đến quá trình giải bài tập đó như thế nào. Hơn hết, học sinh chưa
thật sự thấy được sự cần thiết của việc bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề với sự
hỗ trợ của bài tập.
-Học sinh thường nhờ sự hỗ trợ của Giáo viên và các bạn cùng lớp khi gặp một vấn
đề khó, thay vì tìm tòi, suy nghĩ phương án giải quyết. Điều này làm cho học sinh
mất đi hứng thú, động cơ trong học tập và có xu hướng ỷ lại vào người khác.
-Giáo viên chưa nắm chắc, đầy đủ, rõ ràng về việc bồi dưỡng các năng lực cho học
sinh, tiêu chí đánh giá năng lực để thực hiện.
-Hầu hết Giáo viên quan tâm đến hình thức thi, kết quả thi của học sinh như thế nào,
để dạy theo nhu cầu của học sinh, ít chú trọng đến việc bồi dưỡng năng lực cho học
sinh, cũng như rèn luyện cho học sinh những năng lực cần thiết để giúp phát triển
năng lực “giải quyết vấn đề” cho học sinh.
Giải pháp
Trên cơ sở những nguyên nhân vừa đề cập, cần có một số biện pháp thiết
thực hỗ trợ Giáo viên và học sinh trong việc bồi dưỡng và phát triển năng lực
học sinh, đáp ứng yêu cầu nhân lực trong thời đại mới.
Thứ nhất, phải bồi dưỡng Giáo viên những kiến thức và kĩ năng cần thiết cho
việc bồi dưỡng, phát triển, đánh giá năng lực học sinh.
Thứ hai, nên đầu tư các thiết bị, phương tiện cần thiết, hỗ trợ cho hoạt động
dạy và học.
Thứ ba, đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh phù hợp
với đặc thù bộ môn, để tránh tình trạng học để thi.
mô tả được
vật, hiện
Phát
hiện tượng,
phát
hiện
hiện,
được
nhận biết
vấn đề.
thuẫn
có
trong vấn đề.
tượng nhưng tượng quan được sự vật,
sát
được hiện tượng
chưa mô tả
bằng ngôn ngữ
bằng ngôn ngữ
được và chưa của bản thân.
vật lí, xác
xác
dưới dạng các
kí hiệu vật lí.
Biểu đạt
vấn đề.
Phân tích kỹ
vấn đề, tìm
ra
được
điểm cốt lõi
Làm rõ của vấn đề,
bản chất đưa ra được
của vấn mối liên hệ.
đề.
Biểu đạt
vấn đề.
Diễn đạt nội
dung theo
ngôn
ngữ
vật lí hay
biểu diễn
dưới dạng
các kí hiệu
vật lí.
Mức I
cốt lõi của
vấn đề nhưng
có sự hướng
dẫn của Giáo
viên.
Chưa diễn Diễn
đạt
đạt được nội
được
nội
dung
của
dung dưới
vấn đề.
dạng các kí
hiệu vật lí
nhưng công
thức, định
luật đưa ra
chưa phù
hợp.
Mức III
Diễn
được
Mức IV
các
định
luật vật lí
cho vấn đề.
Phân
tích Phân tích
đúng thông tin, đúng thông
chỉ sai sót một tin, dữ kiện
phần nhỏ của trong vấn
vấn đề, tìm ra đề, rút ra
bản
được điểm cốt được
lõi của vấn đề chất, những
điểm cốt lõi
nhưng còn
của vấn đề
chậm.
một
cách
nhanh
chóng.
Diễn đạt được Viết được
nội dung dưới
nội
dung
dạng các kí
của vấn đề
hiệu vật lí, đưa
dưới dạng
ra đúng được
được
Mức II
Xác
Mức III
định Xác
Mức IV
định
mục được mục
Xác định định hướng tiêu nhưng tiêu, đưa ra
mục tiêu việc cần làm chưa đưa ra được một số
nhiệm vụ
của vấn trong quá nhiệm
vụ
cần
thực
đề.
trình
tìm cần thiết.
hiện.
kiếm thông
tin, tài liệu.
chính
thông tin
với kiến
thức đã
biết.
Đề xuất
và lựa
chọn giải
pháp tối
ưu.
Tìm ra mối
liên hệ giữa
kiến thức đã
biết với vấn
đề.
Chưa nêu ra
được
mối
liên hệ giữa
kiến thức đã
biết với vấn
đề.
Xác
định
được một số
mối liên hệ
giữa
xuất
được
phương án
giải quyết
vấn đề dưới
sự
hướng
dẫn của GV.
Tự đề xuất
được phương
án giải quyết
vấn đề và có
giải
thích
phương án đề
xuất nhưng
chưa đầy đủ.
Xác định
đúng nguồn
thông tin, thu
thập đầy đủ
thông tin cần
thiết, phân
tích , lập luận
các thông tin
chặt chẻ để
giải quyết
vấn đề
Thành tố
Chỉ số hành vi
Mức I
Mức II
Thực hiện Thực hiện Tự
thực
kế hoạch
giải
pháp hiện
giải
theo giải dưới sự đúng pháp theo và
giúp đỡ
kế hoạch đã đề khắc phục
của Giáo
ra, chưa giải được một số
viên.
quyết được
khó
khăn
Thực
hiện
giải pháp
Ý thức,
đã đề xuất.
thái độ
trong quá
mong muốn
chiếm lĩnh
kiến thức để
giải
quyết
vấn đề .
Trình bày Trình bày
kết quả thực kết quả thực
hiện
giải hiện được
pháp nhưng giải pháp và
chưa
phù được
mọi
hợp.
người lắng
nghe, nhưng
có nhiều bạn
không đồng
tình.
Chưa biết
dựa vào các
tiêu chuẩn
để đánh giá.
So sánh kết
quả
thực
hiện
mong muốn
tham gia quá
trình nghiên
cứu phát hiện
và giải quyết
vấn đề .
Trình
bày
được kết quả
thực hiện giải
pháp và được
đa số các bạn
đồng tình và
lắng nghe.
Có thái độ
tích cực, tự
lực
trong
nghiên cứu,
phát hiện và
giải quyết
vấn đề .
Nhận
xét
được sự hợp
lý hay không
hợp lý của
kết quả.
hợp
với
chuẩn đưa
ra.
2.3.3.Qui trình biên soạn câu hỏi/ bài tập theo định hướng năng lực
Bước 1: Xây dựng các chủ đề của bộ môn đáp ứng yêu cầu tổ chức hoạt
động dạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực học sinh .
Bước 2: Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của chủ đề theo chương
trình hiện hành trên quan điểm mới là định hướng phát triển năng lực học sinh
.
Bước 3: Xác định các loại câu hỏi/ bài tập theo hướng đánh giá năng lực
(kiến thức, kĩ năng, thái độ) của học sinh trong chủ đề/ nội dung theo đặc thù
của bộ môn. Mô tả các mức yêu cầu cần đạt theo hướng chú trọng đánh giá kĩ
năng thực hiện của học sinh .
Bước 4: Biên soạn câu hỏi/ bài tập minh họa cho các mức độ đã mô tả. Với
mỗi mức độ/ loại câu hỏi/ bài tập cần biên soạn nhiều câu hỏi/ bài tập để minh
họa.
Bước 5: Xây dựng tiến trình tổ chức hoạt động dạy học chủ đề nhằm hướng
tới những năng lực đã xác định .
2.3.4.Một số bài tập được đề xuất minh họa cho giải pháp nâng cao năng
lực giải quyết vấn đề cho học sinh.
Bài tập 1: Nhúng một chiếc thìa vào trong nước, ta thấy chiếc thìa đó như bị gãy
tại mặt nước như hình vẽ. Hãy giải thích tại sao?[5]
Hướng dẫn
r
=
tanr HA
HA
n
1
AA ' = HA. 1 − ÷
n
-Học sinh giải thích được các hiện tượng
tương tự: Vào mùa hè, buổi trưa, ta
thường thấy rõ đáy ao, hồ, và nghĩ rằng
chúng rất cạn. Nhưng khi lội xuống, lại
thấy sâu hơn;Trong thực tế, người ta nhìn
thấy Mặt Trời ló ra khi nó chưa mọc thực
sự ngang đường chân trời. Và tương tự,
vào lúc hoàng hôn ta vẫn còn nhìn thấy
Mặt Trời khi nó thực sự lặn ở chân trời
Bài tập 2: Hiện nay, người ta đang sử dụng một số biển báo hiệu giao thông, biển số
xe ôtô, biển số xe mô tô,... có tính chất phản quang. Khi gặp những biển báo này, chỉ
cần những ánh sáng nhỏ chiếu vào nó cũng đủ cho ta quan sát được rất rõ. Chúng được
chế tạo như thế nào để có được công dụng đó.[3]
Hướng dẫn
Kiểm tra kỹ về cấu tạo của các
bảng này, ta thấy chúng có lớp sơn
bề mặt không giống với các lớp
sơn thông thường khác. Trên bảng
Hướng dẫn
Nguyên nhân chính là do các tia sáng đi từ các vì
sao tới mắt ta phải đi qua lớp khí quyển của Trái
Đất. Ban ngày, Trái Đất bị Mặt Trời nung nóng, nên
trong khí quyển có những dòng khí đối lưu nhỏ,
chúng có chiết suất khác nhau. Tia sáng truyền từ
các vì sao khi đi qua những dòng khí ấy bị khúc xạ,
lúc lệch sang bên này, lúc lệch sang bên kia. Kết
quả là gây cho ta cảm giác về sự lung linh của các vì
sao. Còn trên thực tế thì cường độ sáng của các vì
sao khi chiếu đến chúng ta là đồng đều.
Hiện tượng lấp lánh trên ta càng thấy rõ hơn khi nhìn
các ngôi sao càng gần phía chân trời, với các ngôi sao
đó, góc nhìn tương ứng với các vị trí đó là lớn nên ta
càng quan sát rõ hơn. Còn các ngôi sao ngay ở trên
đỉnh đầu thì ta không thể quan sát thấy hiện tượng đó.
-Học sinh tìm hiểu
về hiện tượng đối
lưu
-Chiết suất của các
dòng khí đối lưu
-Học sinh xác định
được nguyên nhân
vì sao mà các ngôi
sao gần đường chân
trời lại rõ hơn
thức có liên quan
-Rèn luyện kĩ năng sử dụng dụng
cụ thí nghiệm cho học sinh.
Bài tập 5: Trong hình dưới đây, xy là trục chính thấu kính. S là điểm vật thật, S’ là
S
điểm ảnh. Với mỗi trường hợp hãy xác định:
a.S’ là ảnh gì
x
y
b.Thấu kính thuộc loại nào?
c.Các tiêu điểm chính bằng phép vẽ .[5]
Hướng dẫn
Giáo viên có thể dùng thêm các vị trí
ảnh khác nhau cho các nhóm học
sinh khác nhau
-Phân tích thông tin đã có: S, S’ nằm
khác phía nhau so với trục chính xy
→ vật và ảnh cùng tính chất (vật
thật, ảnh thật). S’ nằm gần trục chính
hơn so với S.
→ Thấu kính hội tụ
-Nối SS’ cắt xy tại quang tâm O,
dựng thấu kính tại O
-Dựng tia tới SI và nối IS’ cắt xy tại
tiêu điểm ảnh F’
ngọn nến trên màn, sao cho ảnh và vật có kích thước bằng nhau. Hãy lựa chọn
những cách có thể tiến hành trong những cách sau đây:
a.Màn và nến đặt cùng phía so với thấu kính và nến đặt ngoài khoảng OF của
thấu kính.
b.Màn và nến đặt về hai phía so với thấu kính.
c.Màn và nến đặt về hai phía so với thấu kính và nến đặt ngoài khoảng OF của
thấu kính.
d.Màn và nến đặt đối xứng nhau qua thấu kính và nến đặt cách thấu kính một
khoảng d = 2f .[3]
Hướng dẫn
Năng lực đạt được
-Phân tích thông tin đã có: Ảnh thu
-Bài tập này rèn luyện cho học
được trên màn → ảnh thật tạo bởi
sinh năng lực phát hiện, làm rõ,
thấu kính hội tụ; Ảnh và vật có
biểu đạt vấn đề. Từ đó đưa ra các
kích thước bằng nhau → d = d’
giải pháp giải quyết vấn đề và lựa
chọn giải pháp tối ưu nhất.
-Giáo viên có thể yêu cầu HS hoạt
động nhóm để đề xuất giải pháp và
tiến hành giải quyết vấn đề . Học
sinh có nhiều hơn một cách để
giải quyết vấn đề .
Cách 1: Học sinh vẽ sự tạo ảnh
qua thấu kính hội tụ ở tất cả các
trường hợp, sau đó dùng phương
pháp loại trừ, suy luận để đưa ra
câu trả lời.
quang học bổ trợ cho mắt như kính
thức đã học về các dụng cụ quang
lúp, kính hiển vi, kính thiên văn thì
học trên để liên hệ đơn vị kiến thức
đại lượng được quan tâm hơn cả là
có liên quan.
độ bội giác. Vì vấn đề quan trọng ở
-Học sinh sẽ nắm chắc được các
chỗ dụng cụ quang học đó có khả
dụng cụ quang học bổ trợ cho mắt
năng làm tăng góc trông lên bao
làm cho mắt quan sát rõ được các vật
nhiêu lần. Chính góc trông mới
thì độ bội giác được quan tâm hơn
quyết định đến khả năng phân biệt rõ
hay không rõ các điểm trên một vật.
Bài tập 8: Trên thực tế, người ta dùng lăng kính để làm kính sửa tật “mắt lé”.
Dựa trên nguyên tắc nào mà lăng kính được sử dụng như vậy[3]
Hướng dẫn
Năng lực đạt được
-Học sinh phải tìm hiểu đặc điểm
“Mắt lé” là mắt có trục nhìn của hai
của mắt lé, về cách quan sát của mắt
mắt giao nhau (mắt bình thường các
lé
trục này song song nhau). Sửa tật mắt
lé làm cho hai trục nhìn của mắt song
song nhau.
Năng lực đạt được
-Nâng cao năng lực độc lập giải quyết
vấn đề dựa trên nền kiến thức đã biết.
-Học sinh tìm hiểu về các tậ của mắt
-Học sinh xây dựng phương án sử
dụng kính phù hợp cho Bà ngoại
Hồng để Bà vừa nhìn được vật ở xa ,
vừa nhìn được vật ở gần dựa trên các
kiến thức đã học về các tậ của mắt
người ta chế tạo loại kính có hai
tròng để người già có nhiều thuận
tiện hơn. Tròng trên dùng để nhìn xa,
tròng dưới dùng để nhìn gần.
Bài tập 10: Mắt một người có điểm cực cận và điểm cực viễn cách mắt lần
lượt là 0,15 m và 0,5 m.
a.Người này bị tật gì về mắt?
b.Phải ghép sát mắt kính có độ tụ là bao nhiêu để mắt nhìn thấy vật đặt cách mắt
20 cm mà không phải điều tiết.[2]
Hướng dẫn
Năng lực đạt được
-Phân tích thông tin đã có: điểm cực cận và
-Năng lực phân tích thông tin
điểm cực viễn cách mắt lần lượt là 0,15 m
của bài toán.
và 0,5 m.
-Vấn đề cần giải quyết: Tật của mắt và
cách khắc phục để mắt thấy vật đặt cách
một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thanh hóa.
-Tuyển chọn và xây dựng được hệ thống bài tập phần “Quang hình” Vật lí 11 THPT
theo hướng bồi dưỡng năng lực “giải quyết vấn đề” cho học sinh.
-Tạo hứng thú học tập cho học sinh và gắn học với hành một cách thực chất hơn.
-Tạo hướng xây dựng hệ thống bài tập cho các phần các chương khác theo hướng
nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho người học.
Kết quả khảo sát cho học sinh không áp dụng sáng kiến
Tìm hiểu vấn
Đề xuất và lựa
đề
chọn giải pháp
Số
học
Bài
sinh
kiểm
khảo
tra
35
1
6
1
1
Bài 2
3
37
2
5
2
0
Bài 3
4
33
Mức
ĐG
sát
42
Tổng
Điểm
Mức
ĐG
Tổng
Điểm
Thực hiện và đánh
giá giải
pháp
Mức
ĐG
Tổng
Điểm
Bài 1
3
1
9
3
3
“Mỗi học sinh ở một mức đánh giá cho 1 điểm”
Từ bảng số liệu cho thấy kết quả học sinh được áp dụng sáng kiến mà giải quyết
được các vấn đề ở các mức độ cao đã nâng lên rõ rệt.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
-Từ thực tiễn khi áp dụng áng kiến trên tôi nhận thấy sáng kiến đã cho kết quả
thực sự rõ rệt, nâng cao được năng lực giải quyết vấn đề cho người học.
-Sáng kiến gắn giữa học tập lý thuyết và giải quyết các vấn đề trong thực tế, các
vấn đề nảy sinh trong cuộc sống thực chất và hiệu quả.
-Đem lại giá trị mới cho quá trình giảng dạy và học tập, góp phần tạo sự thành
công trong cuộc cách mạng cải cách giáo dục.
3.2. Kiến nghị.
-Tạo động lực tốt hơn về vật chất và tinh thần cho đội ngũ các nhà giáo.
-Tạo cơ chế làm việc thật sự tự chủ cho các giáo viên với yêu cầu đảm bảo hệ
thống kiến thức và kỹ năng chuẩn.
-Đưa các phong trào thi đua đi vào thực chất hơn.
-Phổ biến và nhân rộng các sáng kiến của các nhà giáo đã mang lại hiệu quả cao
trong công tác giảng dạy.
Tôi xin chân thành cảm ơn!