VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ VĂN LUẬN
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG THEO
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ VĂN LUẬN
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG THEO
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. VŨ THỊ DUYÊN THỦY
RỪNG THEO PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG ... 60
3.1. Định hướng hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng .................................................... 60
3.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng .................................................... 63
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng .................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa môi trường
và sinh vật và đóng vai trò mật thiết đối với sự phát triển của nền kinh tế tại
mọi quốc gia. Trong luật Bảo vệ và phát triển rừng nước ta có ghi: “Rừng là
một trong những tài nguyên quý báu mà thiên nhiên ưu ái ban tặng cho nước
ta, rừng có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng với môi trường sinh thái,
đóng góp giá trị to lớn với nền kinh tế quốc gia, gắn liền với đời sống của
nhân dân và sự sống còn của dân tộc”[47]. Rừng là nguồn thu nhập chủ yếu
của đồng bào dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bổ dân cư, điều
tiết lao động trong xã hội giúp xóa đói giảm nghèo cho xã hội.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thì tính đến
ngày 31/12/2017, diện tích rừng trên toàn quốc đạt được hơn 14 triệu ha,
trong đó rừng tự nhiên là hơn 10 triệu ha và rừng trồng hơn 4 triệu ha. Diện
tích đủ tiêu chuẩn che phủ toàn quốc tương ứng hơn 40% [12]. Đồng thời,
theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì độ che phủ rừng có tăng
nhưng chủ yếu là rừng trồng với mức sinh học thấp, trong khi rừng tự nhiên
với mức đa sinh học cao thì lại thấp đi đáng kể. Hiện trạng mất rừng và suy
thoái rừng đã và đang gây ra nhưng hậu quả nặng nề đối với môi trường, ảnh
trồng sâm Ngọc Linh với diện tích 44,47ha và 2 đơn vị sự nghiệp của địa
phương sử dụng dịch vụ môi trường rừng để trồng sâm Ngọc Linh với diện
tích 10,9ha [36]. Đồng thời, tỉnh Quảng Nam cũng đang quy hoạch phát triển
cây quế Trà My với diện tích 10.000 ha. Đây là tín hiệu tốt để người dân có
công ăn việc làm, tạo sinh kế ổn định cho người dân đi đôi với công tác bảo
vệ và phát triển rừng [36]. Tuy nhiên, diện tích rừng trên địa bàn tỉnh tăng lên
đáng kể nhưng những thách thức phải đối mặt là chất lượng rừng vẫn ngày
càng suy giảm do khai thác rừng quá mức cho phép, khai thác bất hợp pháp,
2
chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất rừng. Trách nhiệm quản lý nhà
nước về rừng và đất rừng chưa cụ thể, pháp luật chưa tạo ra những “chủ rừng”
đích thực vì quyền hưởng lợi từ rừng của những người làm nghề rừng, chưa
giúp họ sống được bằng nghề rừng, làm giàu được từ rừng. Trong nhiều năm,
các ưu đãi dành cho người quản lý, bảo vệ rừng chủ yếu là từ khai thác lâm
sản hay sử dụng một phần diện tích đất rừng để phát triển nông nghiệp, ngư
nghiệp mà chưa có quy định nào khuyến khích họ gìn giữ, bảo vệ tài nguyên
rừng. Vì vậy, chủ thể nào được giao quản lý, bảo vệ, phát triển rừng cũng tìm
cách nhanh chóng khai thác cạn kiệt tài nguyên rừng. Để giải quyết vấn đề
này, chúng ta cần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của
chủ rừng phù hợp với các yếu tố kinh tế, xã hội , truyền thống văn hóa và lịch
sử và nâng cao hiệu quả triển khai các quy định của pháp luật vào thực tiễn cả
nước nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng.
Chính vì vậy, tôi chọn “Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp
luật về bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn tỉnh
Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng được các học giả Việt Nam và nước
cách đây 8 năm, cho nên so với hiện nay nhiều văn bản pháp luật mới ra đời
thì tính mới của nghiên cứu không còn nhiều [39].
Tác giả Hà Công Tuấn (2006), “Quản lý nhà nước bằng pháp luật
trong lĩnh vực bảo vệ rừng”, luận án Tiến sĩ đã phân tích đánh giá nh ững bài
học kinh nghiệm về quản lí rừng qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là thực
trạng quản lí nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam.
Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước bằng pháp luật
trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam trong những năm tới. Công trình này,
chủ yếu nghiên cứu pháp luật như một công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ rừng
mà chưa đề cập được toàn bộ hệ thống pháp luật về quản lý và bảo vệ tài
4
nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay [57].
Tác giả Phạm Văn Nam (2016), “Hoàn thiện pháp luật về quản lý và
bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay”, luận án Tiến sĩ, Khoa Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội. Luận án của tác giả đã làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận và sự điều chỉnh của pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở
Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật, nêu bật
các yêu cầu đặt ra, cũng như xây dưng hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh đối
với pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng; làm sáng tỏ vai trò của pháp
luật đối với việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng. Khái quát quá trình hình
thành và phát triển của pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở nước ta.
Nghiên cứu, đánh giá thưc trạng của pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên
rừng hiện hành của Việt Nam, chỉ ra nhưng ưu điểm và những mặt còn hạn
chế, bất cập cần được khắc phục. Trên cơ sở các vấn đề lý luận và thực trạng
pháp luật nêu trên, xác định các định hướng và đề xuất những giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý và
bảo vệ tài nguyên rừng của nước ta hiện nay [40].
luận văn thạc sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của
chủ rừng, thực trạng các quy định quyền và nghĩa vụ của chủ rừng tại Luật
Lâm nghiệp năm 2017 và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Nam, tìm ra
những hạn chế, nguyên nhân qua đó đề xuất, định hướng và đưa ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa
vụ của chủ rừng nói chung và tại tỉnh Quảng Nam nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng.
- Phân tích thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
6
theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 và thực tiến thực hiện tại tỉnh Quảng Nam.
- Đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm pháp
luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp luật về bảo vệ và phát triển
rừng ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo
Luật Lâm nghiệp năm 2017. Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa
vụ của chủ rừng tại tỉnh Quảng Nam .
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các quy định của pháp luật theo Luật Lâm nghiệp năm
2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này, so sánh với Luật Bảo vệ và
Phát triển rừng năm 2004.
Phạm vi nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là các hộ gia
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã luận giải nội hàm khái niệm “rừng”, các tiêu xác định rừng
theo quy định của Việt Nam; nêu và phân tích khái niệm, đặc điểm của quyền
và nghĩa vụ của chủ rừng; khái niệm, đặc điểm, vài trò, yêu cầu và nguyên tắc
thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng. Luận văn đưa ra các
định hướng hoàn thiện pháp luật quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, các giải
pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quyền và
nghĩa vụ của chủ rừng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ
quan hữu quan trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là các hộ gia đình, cá nhân và tổ
chức kinh tế ở Việt Nam. Bên cạnh đó, luận văn cũng giúp những người hoạt
động trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, các chủ rừng những kiến thức
8
cần thiết trong quá trình thực thi pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
là các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Luận văn
có thể được sử dụng như nguồn tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu
và giảng dạy khoa học luật môi trường, luật lâm nghiệp trong các trường
chuyên luật và các trường giảng dạy pháp luật lâm nghiệp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và
nghĩa vụ của chủ rừng và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực
đặc dụng). Tiếp theo họ phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét,
10
cấp quyết định giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để trồng rừng
căn cứ trên dự án đầu tư về lâm nghiệp được phê duyệt theo pháp luật về đầu
tư (đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước
ngoài), khu vực sinh sống tại địa phương có rừng (thường áp dụng đối với hộ
gia đình, cá nhân) hoặc nhu cầu sử dụng vào mục đích kinh doanh (đối với tổ
chức kinh tế), nghiên cứu (đối với tổ chức nghiên cứu khoa học), lí do an ninh
- quốc phòng (đối với đơn vị vũ trang nhân dân). Khi hoàn thành các thủ tục
cần thiết họ sẽ trở thành chủ rừng và được công nhận quyền sử dụng rừng
hoặc quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng [52].
Theo Khoản 9, Điều 2, Luật Lâm nghiệp năm 2017 của Việt Nam thì:
Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước
giao rừng, cho thuê rừng; giao đất, cho thuê đất để trồng rừng; tự phục hồi, phát
triển rừng; nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế rừng theo quy định của pháp
luật [52].
1.1.1.2. Khái niệm tài nguyên rừng
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được
hìnhthành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng
các nhucầu trong cuộc sống. Tài nguyên thiên nhiên từ rừng được hiểu như là
nguồn vậtchất hữu ích có sẵn trong tự nhiên để cung cấp cho nhu cầu kinh tế,
xã hội củaloài người và sinh vật.
Tài nguyên thiên nhiên được phân loại thành:
- Tài nguyên không tái tạo là nguồn tài nguyên khi khai thác và sử
dụng sẽbị cạn kiệt dần và không khôi phục lại trạng thái ban đầu như tài
nguyên khoángsản.
- Tài nguyên tái tạo là nguồn tài nguyên sau khi sử dụng có thể tái sinh
- Về tài nguyên đa dạng sinh học, đa dạng sinh học có vai trò cực kỳ
quantrọng trong đời sống con người và môi trường. Các loài sinh vật hoang
dại là cơsở và nguyên liệu để cải tiến và tạo ra các loại giống cây trồng, vật
12
nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng dịch bệnh... Còn rất nhiều loài
cây, loài vật hoang dã đã, đang và sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn thực phẩm
to lớn, nguồndược phẩm quý giá và nguồn gen vô cùng quan trọng trong việc
chọn giống,không những chỉ cho con người hiện nay mà còn cho cả các thế hệ
tương lai.
Trước khi dịch AIDS bùng nổ, chúng ta không hề biết rằng cây hạt dẻ
gai tạivịnh Moreton của Australia lại có thể cho chúng ta một loại chất thúc
đẩy quátrình nghiên cứu phương pháp điều trị bệnh này. Hiện nay, có rất
nhiều công tydược phẩm lớn trên thế giới đã đặt hàng hoặc tài trợ cho các
viện nghiên cứu đadạng sinh học của các nước nhiệt đới để tìm hiểu, nghiên
cứu và khai thác cácloài cây thuốc và con thuốc quý trong rừng của những
quốc gia giàu có về đadạng sinh học này.
Như vậy, nếu không quản lý tốt nguồn tài nguyên này thì hàng trăm
loàicó những công dụng khác nhau có thê bị biến mất trước khi chúng ta nhận
thứcđược tầm quan trọng của chúng.
- Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, tài nguyên đất và nước trong rừng cũng
làmột loại tài nguyên rừng. Như chúng ta đã biết, đất và nước là những nguồn
tàinguyên vô cùng quan trọng đôi với con người. Rừng bảo vệ một diện tích
đất đairất lớn tránh khỏi sự xói mòn và bạc màu, rừng còn điều hòa các dòng
chảy, giữnước, hạn chế nước đổ ra biển, làm tăng lượng nước ngầm cho các
vùng và làmlượng nước sạch được tái tạo nhanh hơn.
Việc thống nhất quản lý tài nguyên đất, trong đó có đất rừng cũng
đượcxác định là tài nguyên đặc biệt của Quốc gia, nguồn lực quan trọng phát
đảm bằng quyền lực nhà nước. Các chủ rừng có quyền sở hữu rừng sản xuất là
rừng trồng,đó là quyền được chiếm hữu, được sử dụng, định đoạt đối với cây
trồng, vật nuôi, tài sản gắn liền với rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư trong thời
hạn được giao, được thuê để trồng rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ
và phát triển rừng và các quy định khác của pháp luật có liên quan [37].
14
Nghĩa vụ chủ rừng là sự tất yếu hành động của mỗi chủ rừng vì lợi ích
của toàn thể Nhà nước và xã hội. Sự tất yếu đó được Nhà nước quy định
trongHiến pháp và bảo đảm thực hiện bằng mọi biện pháp, kể cả biện pháp
cưỡng chế [37].
1.1.2.2. Đặc điểm quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, do rừng là tài sản đặc biệt nên việc chủ sở được Nhà nước
giao rừng cho các chủ rừng cũng có những đặc điểm và tính chất riêng. Chế
độ sở hữu rừng có sự khác biệt nhất định với chế độ sở hữu đất. Rừng tự
nhiên, là rừng được phát triển bằng vốn của Nhà nước, động vật hoang dã, các
loài vi sinh, các cảnh quan và môi trường rừng được Nhà nước thống nhất
quản lý và định đoạt; rừng sản xuất(rừng sản xuất) là rừng trồng thuộc quyền
sở hữu của chủ rừng. Quy định này nhằm giúp phân biệt giữa quyền sở hữu
rừng tự nhiên và quyền sở hữu rừng trồng. Vấn đề này được quy định cụ thể
tại Điều 7 Luật Lâm nghiệp năm 2017 về sở hữu rừng.
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng gắn với chính sách lâm
nghiệp của Nhà nước. Khi thực hiện chuyển từ một nền lâm nghiệp chủ yếu
dựa vào khai thác, lợi dụng tài nguyên rừng làm chính sang bảo vệ, nuôi
dưỡng, gây trồng và làm giàu vốn rừng.Chuyển từ một nền lâm nghiệp quảng
canh và độc canh cây rừng sang nền lâm nghiệp thâm canh và đa canh cây
rừng theo phương thức lâm - nông kết hợp, kinh doanh lợi dụng tổng hợp tài
Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng có thể được hiểu cụ thể
như sau:
Thứ nhất, về đối tượng điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật bảo vệ và
phát triển rừng gồm các nhóm quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động quản lý
tài nguyên rừng của các chủ thể trong xã hội như: Nhóm quy định pháp luật
về quản lý tài nguyên rừng gồm: quản lý nhà nước và quản lý của chủ rừng
đối với tài nguyên rừng; Nhóm quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng
16
gồm: pháp luật về bảo vệ thực vật, động vật hoang dã; pháp luật về ưu đãi của
nhà nước đối với chủ thể bảo vệ tài nguyên rừng; pháp luật về vi phạm và xử
lý vi phạm các hành vi xâm hại tài nguyên rừng Nhà nước - với tư cách là chủ
thể đặc biệt thực hiện việc quản lý tài nguyên rừng bằng việc ban hành các
quy định pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quản lý,
bảo vệ, sử dụng và phát triển nguồn tài nguyên rừng; tổ chức thực hiện các
quy định pháp luật và bảo đảm cho các quy định pháp luật đó được thực thi
hiệu quả [37].
Các chủ thể khác được nhà nước giao, cho thuê tài nguyên rừng để thực
hiện hoạt động quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng như:
- Các tổ chức sự nghiệp được giao quản lý rừng để thực hiện nhiệm
vụcông ích như Ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng...
- Các tổ chức kinh tế được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để thực
hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng.
- Hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để thực
hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng.
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được giao, thuê rừng sản xuất
là rừng trồng để thực hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng.
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài được thuê rừng sản xuất là rừng trồng để
triển rừng; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư dự án vào trồng
rừng chỉ được giao có thu tiền hoặc thuê rừng sản xuất là rừng trồng, đất trồng
rừng sản xuất chưa có rừng để kinh doanh, phát triển rừng.
Chủ rừng có quyền: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; được sử dụng
rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời
hạn giao đất, cho thuê đất; được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư
nghiệp kết hợp theo quy chế quản lý rừng; được hưởng thành quả lao động,
kết quả đầu tư trên diện tích được giao, được thuê; bán thành quả lao động,
18
kết quả đầu tư cho người khác; được kết hợp nghiên cứu khoa học, kinh
doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái môi trường theo dự án được
cấp có thẩm quyền phê duyệt; được bồi thường thành quả lao động, kết quả
đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật có liên quan khi Nhà nước có quyết định thu hồi
rừng; được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà
nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi do các công trình công
cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại; được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích
hợp pháp đối với rừng được giao, được thuê.
Chủ rừng có nghĩa vụ: bảo toàn vốn rừng hiện có và phát triển rừng bền
vững theo đúng quy hoạch phát triển; sử dụng rừng đúng mục đích, đúng ranh
giới đã quy định; tổ chức bảo vệ và phát triển rừng; định kỳ báo cáo cơ quan
nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tàinguyên rừng; giao lại rừng khi Nhà
nước có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời hạn sử dụng rừng; thực hiện
nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; không
làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan.
1.2.3. Yêu cầu của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và
cầu đầu tư lớn và thu hồi vốn chậm, trong khi đó các chính sách khuyến khích
bảo vệ và phát triển rừng của nhà nước lại chưa hấp dẫn nên nhiều chủ rừng
chỉ chú trọng khai thác rừng mà chưa thực sự quan tâm đến việc bảo vệ rừng.
Vì mục tiêu lợi nhuận trước mắt nhiều chủ thể sau khi được nhà nước giao
quản lý rừng, đất rừng đã nhanh chóng tìm cách khai thác cạn kiệt nguồn tài
nguyên này, thậm chí tìm cách chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đất rừng.
Nhược điểm lớn nữa của kinh tế thị trường là luôn đặt lợi ích lên hàng
đầu nên cái gì có lãi thì làm, không có lãi thì thôi nên nó không giải quyết cái
gọi là “lợi ích công cộng hay hàng hóa công cộng” như đường xá, y tế, môi
trường, đa dạng sinh học…Vì vậy, trong những năm qua, tài nguyên rừng của
nước ta bị khai thác cạn kiệt ở nhiều mặt từ gỗ, lâm sản ngoài gỗ đến động vật
20
hoang dã, quý, hiếm… Nhiều diện tích rừng độc canh, thậm chínhiều diện
tích rừng bị chuyển đổi sang trồng cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cà
phê…
1.2.3.2. Yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với pháp luật bảo vệ và phát
triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Trong quá trình giao lưu, buôn bán quốc tế, tài nguyên rừng của Việt
Nam bị khai thác quá mức dẫn đến tình trạng suy thoái, cạn kiệt, nhiều loài
thực vật, động vật rừng có nguy cơ tuyệt chủng. Để gìn giữ, bảo vệ và phát
triển nguồn tàinguyên rừng, Việt Nam đã tích cực tham gia các công ước
quốc tế về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ rừng nói riêng. Việt Nam
đã tham gia 23 Công ước quốc tế về môi trường, trong đó các Công ước liên
quan đến bảo vệ và phát triển rừng như:
Nghị định thư bổ sung Công ước này tại Paris năm 1982. Việt Nam
tham gia Công ước này ngày 20/9/1988.Công ước về buôn bán quốc tế về các
giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa (CITES), 1973, Việt Nam tham