Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ở việt nam hiện nay từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ VĂN LUẬN

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG THEO
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ
THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG
NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ VĂN LUẬN

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG THEO
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ
THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG
NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

2.1. Thực trạng pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của
chủ rừng.......................................................................................................... 34
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng tại tỉnh
Quảng Nam..................................................................................................... 44
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ
RỪNG THEO PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG....60
3.1. Định hướng hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng....................................................60
3.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng....................................................63
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng....................................................69
KẾT LUẬN....................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa môi trường
và sinh vật và đóng vai trò mật thiết đối với sự phát triển của nền kinh tế tại
mọi quốc gia. Trong luật Bảo vệ và phát triển rừng nước ta có ghi: “Rừng là
một trong những tài nguyên quý báu mà thiên nhiên ưu ái ban tặng cho nước
ta, rừng có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng với môi trường sinh thái,
đóng góp giá trị to lớn với nền kinh tế quốc gia, gắn liền với đời sống của
nhân dân và sự sống còn của dân tộc”[47]. Rừng là nguồn thu nhập chủ yếu
của đồng bào dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bổ dân cư, điều
tiết lao động trong xã hội giúp xóa đói giảm nghèo cho xã hội.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thì tính đến
ngày 31/12/2017, diện tích rừng trên toàn quốc đạt được hơn 14 triệu ha,

lớp nhân dân là rất quan trọng. Nhất là đề cao quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Hiện nay, tỉnh Quảng Nam đang tổ chức
rà soát lại quỹ đất lâm nghiệp trên địa bàn, đẩy mạnh công tác giao đất, giao
rừng, thuê đất thuê rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, các
tổ chức cá nhân phát triển kinh tế lâm nghiệp, phát triển lâm sản ngoài gỗ, cây
dược liệu dưới tán rừng. Hiện có 4 tổ chức thuê dịch vụ môi trường rừng để
trồng sâm Ngọc Linh với diện tích 44,47ha và 2 đơn vị sự nghiệp của địa
phương sử dụng dịch vụ môi trường rừng để trồng sâm Ngọc Linh với diện
tích 10,9ha [36]. Đồng thời, tỉnh Quảng Nam cũng đang quy hoạch phát triển
cây quế Trà My với diện tích 10.000 ha. Đây là tín hiệu tốt để người dân có
công ăn việc làm, tạo sinh kế ổn định cho người dân đi đôi với công tác bảo
vệ và phát triển rừng [36]. Tuy nhiên, diện tích rừng trên địa bàn tỉnh tăng lên
đáng kể nhưng những thách thức phải đối mặt là chất lượng rừng vẫn ngày
càng suy giảm do khai thác rừng quá mức cho phép, khai thác bất hợp pháp,

2


chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất rừng. Trách nhiệm quản lý nhà nước
về rừng và đất rừng chưa cụ thể, pháp luật chưa tạo ra những “chủ rừng” đích
thực vì quyền hưởng lợi từ rừng của những người làm nghề rừng, chưa giúp
họ sống được bằng nghề rừng, làm giàu được từ rừng. Trong nhiều năm, các
ưu đãi dành cho người quản lý, bảo vệ rừng chủ yếu là từ khai thác lâm sản
hay sử dụng một phần diện tích đất rừng để phát triển nông nghiệp, ngư
nghiệp mà chưa có quy định nào khuyến khích họ gìn giữ, bảo vệ tài nguyên
rừng. Vì vậy, chủ thể nào được giao quản lý, bảo vệ, phát triển rừng cũng tìm
cách nhanh chóng khai thác cạn kiệt tài nguyên rừng. Để giải quyết vấn đề
này, chúng ta cần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của
chủ rừng phù hợp với các yếu tố kinh tế, xã hội , truyền thống văn hóa và lịch
sử và nâng cao hiệu quả triển khai các quy định của pháp luật vào thực tiễn cả

nghiệm đối với Việt Nam trong việc xây dựng chính sách pháp luật bảo vệ
rừng. Từ những phân tích trên, tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật bảo vệ rừng Việt Nam như chính sách pháp luật bảo vệ rừng;
chính sách đất đai; tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ rừng; hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực bảo vệ rừng. Mặc dù, đây cũng là công trình nghiên cứu khá
đầy đủ và chi tiết về pháp luật bảo về rừng. Tuy nhiên, nghiên cứu này đã
cách đây 8 năm, cho nên so với hiện nay nhiều văn bản pháp luật mới ra đời
thì tính mới của nghiên cứu không còn nhiều [39].
Tác giả Hà Công Tuấn (2006), “Quản lý nhà nước bằng pháp luật
trong lĩnh vực bảo vệ rừng”, luận án Tiến sĩ đã phân tích đánh giá nh ững bài
học kinh nghiệm về quản lí rừng qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là thực
trạng quản lí nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam.
Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước bằng pháp luật
trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam trong những năm tới. Công trình này,
chủ yếu nghiên cứu pháp luật như một công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ rừng
mà chưa đề cập được toàn bộ hệ thống pháp luật về quản lý và bảo vệ tài

4


nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay [57].
Tác giả Phạm Văn Nam (2016), “Hoàn thiện pháp luật về quản lý và
bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay”, luận án Tiến sĩ, Khoa Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội. Luận án của tác giả đã làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận và sự điều chỉnh của pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở
Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật, nêu bật
các yêu cầu đặt ra, cũng như xây dưng hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh đối
với pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng; làm sáng tỏ vai trò của pháp
luật đối với việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng. Khái quát quá trình hình
thành và phát triển của pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở nước ta.

Mặc dù vậy, các công trình này mới dừng lại ở việc nghiên cứu một số
khía cạnh cơ bản của pháp luật bảo vệ rừng và phát triển rừng hay đánh giá
quản lý nhà nước bằng pháp luật chứ chưa nghiên cứu cụ thể về quyền và
nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam
hiện nay cũng như thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Nam. Đây là công trình
đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện về lĩnh vực này dưới góc độ của một
luận văn thạc sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của
chủ rừng, thực trạng các quy định quyền và nghĩa vụ của chủ rừng tại Luật
Lâm nghiệp năm 2017 và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Nam, tìm ra
những hạn chế, nguyên nhân qua đó đề xuất, định hướng và đưa ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa
vụ của chủ rừng nói chung và tại tỉnh Quảng Nam nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của
chủ rừng.
Phân tích thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ
rừng


6


theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 và thực tiến thực hiện tại tỉnh Quảng Nam.
-

Đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm pháp


phân tích các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là các hộ
gia đình, cá nhân và tổ chức kinh tế... Phương pháp này còn được sử dụng để
khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề nghiên cứu trong các
chương của luận án.
Phương pháp thống kê được sử dụng trong quá trình thu thập dữ liệu
thông qua các số liệu báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước về rừng và
bảo vệ rừng tỉnh Quảng Nam, Trung ương, của các cơ quan nhà nước khác và
số liệu từ các báo cáo nghiên cứu khoa học của các tác giả khác nhau.
Phương pháp so sánh luật học được sử dụng để so sánh các quy định
pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là các hộ gia đình, cá nhân và tổ
chức kinh tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã luận giải nội hàm khái niệm “rừng”, các tiêu xác định rừng
theo quy định của Việt Nam; nêu và phân tích khái niệm, đặc điểm của quyền
và nghĩa vụ của chủ rừng; khái niệm, đặc điểm, vài trò, yêu cầu và nguyên tắc
thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng. Luận văn đưa ra các
định hướng hoàn thiện pháp luật quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, các giải
pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quyền và
nghĩa vụ của chủ rừng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ
quan hữu quan trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là các hộ gia đình, cá nhân và tổ
chức kinh tế ở Việt Nam. Bên cạnh đó, luận văn cũng giúp những người hoạt
động trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, các chủ rừng những kiến thức

8



Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm,
vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là
một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác
định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật
đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở

lên [52].
Trong phạm vi luận văn, khái niệm rừng được hiểu theo quy định tạo
Luật Lâm nghiệp năm 2017 của Việt Nam.
Điều kiện để trở thành chủ rừng đối với mỗi loại đối tượng chủ thể
cũng có nhiều điểm không giống nhau. Trước hết họ phải thuộc một trong các
nhóm đối tượng được tại Điều 8 Luật Lâm nghiệp 2017 (trừ Ban quản lý rừng
phòng hộ, rừng đặc dụng được thành lập sau khi giao rừng phòng hộ, rừng
đặc dụng). Tiếp theo họ phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét,

10


cấp quyết định giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để trồng rừng
căn cứ trên dự án đầu tư về lâm nghiệp được phê duyệt theo pháp luật về đầu
tư (đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước
ngoài), khu vực sinh sống tại địa phương có rừng (thường áp dụng đối với hộ
gia đình, cá nhân) hoặc nhu cầu sử dụng vào mục đích kinh doanh (đối với tổ
chức kinh tế), nghiên cứu (đối với tổ chức nghiên cứu khoa học), lí do an ninh
- quốc phòng (đối với đơn vị vũ trang nhân dân). Khi hoàn thành các thủ tục
cần thiết họ sẽ trở thành chủ rừng và được công nhận quyền sử dụng rừng
hoặc quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng [52].
Theo Khoản 9, Điều 2, Luật Lâm nghiệp năm 2017 của Việt Nam thì:
Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước
giao rừng, cho thuê rừng; giao đất, cho thuê đất để trồng rừng; tự phục hồi,

Tài nguyêngỗ; (2) Tài nguyên phi gỗ; (3) Tài nguyên đa dạng sinh học; (4)
Tài nguyên đất; (5) Tài nguyên nước. Ngoài ra, rừng còn cung cấp cho con
người lượng oxy dồidào, rừng điều hòa nước, chống xói mòn, giảm thiểu ô
nhiễm, cân bằng khí cacbonic/oxy [37]...
Tuy rừng có vai trò vô cùng to lớn và có giá trị đối với cuộc sống
nhưngchúng ta chưa xếp chúng vào loại tài nguyên nào, chưa đánh giá hết
những vaitrò của rừng.
-

Về tài nguyên gỗ, từ trước đến nay, gỗ được con người đánh giá là

nguồntài nguyên cơ bản của hệ sinh thái rừng, nó cung cấp nguyên liệu cho
các ngànhxây dựng, công nghiệp giấy, sản xuất các đồ gỗ, các loại dụng cụ
gia đình...Các cây gỗ còn một giá trị khác quan trọng hơn nữa là bảo vệ đất,
chống xóimòn, điều hòa khí hậu và lưu lượng nước của các dòng chảy lục địa.
-

Về tài nguyên phi gỗ, trước đây tài nguyên này thường gọi là lâm

sảnphụ nhưng ngày nay, thuật ngữ “lâm sản ngoài gỗ” được sử dụng để chỉ tất
cảcác loại tài nguyên rừng trừ tài nguyên gỗ. Lâm sản ngoài gỗ bao gồm
nhữngsản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng như
củi, thangỗ, cành ngọn, gốc cây, những dịch vụ trong rừng như săn bắn, giải
trí, dưỡngbệnh, dịch vụ du lịch sinh thái... Giá trị kinh tế do lâm sản ngoài gỗ
đem lạihàng năm cho con người không thua kém so với gỗ.
-

Về tài nguyên đa dạng sinh học, đa dạng sinh học có vai trò cực kỳ

quantrọng trong đời sống con người và môi trường. Các loài sinh vật hoang

đượcxác định là tài nguyên đặc biệt của Quốc gia, nguồn lực quan trọng phát
triển đấtnước, được quản lý theo pháp luật. Nhà nước thực hiện thống nhất
quản lý đốivới tài nguyên rừng bằng việc ban hành pháp luật, tổ chức thực
hiện pháp luật vàbảo đảm cho pháp luật được thực thi.
Việc quy định tài nguyên rừng thuộc sở hữu toàn dân của Việt Nam có

13


sựtương đồng với Trung Quốc và Liên bang Nga. Trung Quốc coi tài nguyên
rừngdo Nhà nước thống nhất quản lý và Nhà nước Trung Quốc đã thực thi rất
thànhcông pháp luật lâm nghiệp trong nhiều thập niên vừa qua. Trong khi tình
hình tàinguyên rừng thế giới tiếp tục bị giảm xuống thì diện tích rừng của
Trung Quốcđều giữ đà tăng trưởng, được Cơ quan môi trường Liên hợp quốc
xếp vào danhsách một trong 15 nước có diện tích rừng nhiều nhất thế giới
[37].
Liên bang Nga có hướng đến tư nhân hóa việc khai thác tài nguyên
rừngvà pháp luật lâm nghiệp của Nga chú trọng phát triển ngành Lâm nghiệp
thànhmột ngành công nghiệp khai thác, chế biến gỗ vì trữ lượng gỗ của Nga
rất lớn.Trong khi đó, Phần Lan được xem là quốc gia thực thi thành công
nhấtviệc bảo vệ rừng và quản lý rừng bền vững lại quy định đất đai, rừng
thuộc sở hữu tư nhân. Nhà nước chỉ quản lý những diện tích rừng, đất rừng có
vai tròquan trọng đối với đa dạng sinh học, còn lại các diện tích rừng đều
được giaocho tư nhân quản lý [37, tr.68].
Như vậy, có thể thấy rằng, tài nguyên rừng là một loại tài nguyên
thiênnhiên vô cùng quý giá, các nước trên thế giới đều rất coi trọng việc bảo
vệ, pháttriển và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên này.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
1.1.2.1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Quyền của chủ rừng là khả năng của mỗi chủ rừng được tự do hành động.

rừng theo phương thức lâm - nông kết hợp, kinh doanh lợi dụng tổng hợp tài
nguyên rừng.
Thứ ba, chủ rừng ngày càng có nhiều quyền lợi hơn và gắn với các
nghĩa vụ cụ thể hơn. Từng bước chuyển từ lâm nghiệp lấy quốc doanh làm
chính sang nền lâm nghiệp nhân dân có nhiều thành phần kinh tế tham gia
(lâm nghiệp xã hội).Từ các quan điểm trên của Đảng mà quyền và nghĩa vụ
của chủ rừng cũng được thể chế hóa, sửa đổi theo, nhất là việc xã hội hóa một

15


bộ phận rừng tự nhiên sẽ tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư bảo vê và phát triển
rừng tự nhiên nghèo kiệt và rừng non đang phục hồi trở thành rừng tốt, có giá
trị kinh tế và môi trường.
Thứ tư, quyền và nghĩa vụ có thể được chuyển đổi từ chủ rừng này cho
chủ rừng khác theo hình thức giao khoán và theo quy định của Nhà nước về
điều kiện trở thành chủ rừng.
1.2. Pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ
của chủ rừng
1.2.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng
Hệ thống pháp luật Việt Nam thường được phân chia thành các ngành
luật để nghiên cứu như: Luật hành chính, Luật dân sự, Luật hình sự, Luật kinh
tế… Tuy nhiên, khi nghiên cứu về các lĩnh vực pháp luật cụ thể thì nó có sự
liên quan đến nhiều ngành luật khác nhau. Các quy định về lĩnh vực pháp luật
lại nằm ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu
khái niệm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ
rừng như sau:
Pháp luật bảo vệ và phát triển rừng là một lĩnh vực pháp luật bao gồm
tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh có liên quan đến hoạt động quản lý, bảo vệ và phát


hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng.
-

Hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để thực

hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng.
-

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được giao, thuê rừng sản xuất

là rừng trồng để thực hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng.
-

Tổ chức, cá nhân nước ngoài được thuê rừng sản xuất là rừng trồng để

thực hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng.
Thứ hai, về phương pháp điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực quản lý
và bảo vệ tài nguyên rừng là sự kết hợp giữa các phương pháp mệnh lệnh,
phương pháp thoả thuận và phương pháp hướng dẫn.
-

Phương pháp mệnh lệnh được sử dụng điều chỉnh các quan hệ trong

việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng, trong việc giao, cho thuê rừng; cấp
phépgây nuôi, xuất nhập khẩu thực vật, động vật hoang dã, xử phạt vi phạm
pháp luật bảo vệ và phát triển rừng về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng.

17


chỉ được giao có thu tiền hoặc thuê rừng sản xuất là rừng trồng, đất trồng
rừng sản xuất chưa có rừng để kinh doanh, phát triển rừng.
Chủ rừng có quyền: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; được sử dụng
rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời
hạn giao đất, cho thuê đất; được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư
nghiệp kết hợp theo quy chế quản lý rừng; được hưởng thành quả lao động,
kết quả đầu tư trên diện tích được giao, được thuê; bán thành quả lao động,

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status