Hoạt động của hội đồng nhân dân cấp huyện từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ZƠ RÂM THỊ HAI

HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
CẤP HUYỆN TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ZƠ RÂM THỊ HAI

HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
CẤP HUYỆN TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành
Mã số

: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. VŨ THƯ

HÀ NỘI, năm 2019


cấp huyện................................................................................................................ 57
3.2. Các giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp
huyện....................................................................................................................... 60
KẾT LUẬN............................................................................................................ 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT

STT

Từ viết tắt

1

UBMTTQVN

2

UBND

3

QPPL

4

UBHC

5

văn kiện của Đảng như: Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh năm 2011, Văn kiện các
Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII và các quy định pháp luật hiện
nay, cùng với sự hoàn thiện hệ thống bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa
phương thì vai trò Hội đồng nhân dân cấp huyện đã từng bước được khẳng định.
Trong những năm vừa qua, hoạt động Hội đồng nhân dân cấp huyện trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam có nhiều chuyển biến tích cực, đổi mới về nội dung và phương
thức hoạt động, thực hiện đảm bảo các chức năng, nhiệm vụ theo luật định, thay
mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương trên các lĩnh vực
kinh tế- xã hội, quốc phòng-an ninh. Vì vậy, các vấn đề quan trọng liên quan đến lợi
ích của tập thể, lợi ích của đại bộ phận nhân dân trên địa bàn huyện đều được

1


nhân dân bàn bạc và quyết định thông qua cơ quan đại diện của mình. Chính vì
điều đó lại càng có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN “ của dân, do dân, vì dân” hiện nay.
Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng thực tế trong hoạt động của
Hội đồng nhân dân các cấp đã bộc lộ nhiều bất cập, chưa đáp ứng nhiệm vụ nhất là
Hội đồng nhân dân cấp huyện, đồng thời có những quy định pháp luật liên quan đến
hoạt động của Hội đồng nhân dân chưa đáp ứng yêu cầu về vị trí, vai trò theo Luật
định, chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Xuất phát từ thực trạng nêu trên việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt
động Hội đồng nhân dân cấp huyện là đòi hỏi có tính cấp thiết. Vì lý do trên, tác giả
chọn vấn đề: “Hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện từ thực tiễn tỉnh Quảng
Nam” để làm đề tài luận văn Thạc sĩ luật của mình. Qua nghiên cứu thực trạng hoạt
động của Hội đồng nhân dân các huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, luận văn đề
xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện
của tỉnh.
2. Tình hình nghiên cứu


bản quy phạm pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
- Thủ tướng chính phủ (2011), Quyết định số 1682/QQĐ-TT phê duyệt kế

hoạch tiếp tục thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận,
phường theo nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15 thán 11 năm 2008 của Quốc
hội khóa XII giai đoạn 2011-2014.
- Lê Minh Thông- Nguyễn Như Phát ( đồng chủ biên)( 2002), Những vấn đề

lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
- Đào Trí Úc (2007), Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Ủy ban thường vụ Quốc hội (2001), Nghị quyết 51/2001/QH10, ngày

25/12/2001của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sửa đổi , bổ sung một số điều
của Hiến phápnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Ủy ban thường vụ Quốc hội (2009), Nghị quyết số 724/2009UBTVQH12

danh sách huyện, quận, phường của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ươngthực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.
- Ủy ban thường vụ Quốc hội (2009), Nghị quyết số 725/2009UBTVQH12 điều

chỉnh nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương và quy định nhiệm vụ quyền hạn tổ chức Bộ máy

3



tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về bộ máy nhà nước, vấn đề
dân chủ...liên quan đến hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện.

4


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong luận văn là: phương
pháp thống kê, quan sát, phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu; phương pháp so sánh,
lịch sử...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ có một số đóng góp nhất định sau:
6.1. Ý nghĩa lý luận
Qua nghiên cứu đề tài sẽ khái quát làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt
động của Hội đồng nhân dân cấp huyện.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu thực tiễn về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam sẽ đánh giá đúng thực trạng về mặt ưu điểm, tồn tại, hạn
chế và nguyên nhân hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện hiện nay. Từ đó đề
xuất quan điểm, giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng
nhân dân cấp huyện trong thời gian đến.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp
huyện.
Chương 2: Thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện tại tỉnh
Quảng Nam.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
Hội đồng nhân dân cấp huyện tại tỉnh Quảng Nam.

Hiến pháp năm 1959 nghi nhận: Hội đồng nhân dân các cấp là “cơ quan quyền
lực nhà nước ở địa phương. Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân địa phương

6


bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương” (28, Điều 80). Từ năm
1959 đến 1980, Hội đồng nhân dân được tổ chức ở tất cả các đơn vị hành chính địa
phương: tỉnh, huyện, xã và tính quyền lực nhà nước ở địa phương của Hội đồng
nhân dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp và các quy định trong Hiến
pháp.
Hiến pháp năm 1980 ( sửa đổi, bổ sung năm 1989), nêu rõ: “Hội đồng nhân
dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra,
chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và chính quyền cấp trên” Với vị trí và
tính chất pháp lý của Hội đồng nhân dân như Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức
Hội đồng nhân dân và UBHC năm 1962 nhưng có bổ sung thêm nhiệm vụ thì Hội
đồng nhân dân phải chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên và nhân dân địa
phương.
Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi, bổ sung năm 2001- Điều 119), Hiến pháp năm
2013( khoản 1 - Điều 113) và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, đã kế
thừa và bổ sung rõ hơn “ Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân
do cử tri địa phương bầu ra, là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, đại diện cho
ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân

địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”.
Từ quá trình điều chỉnh pháp luật và thực tế về tổ chức và hoạt động của của
Hội đồng nhân dân, có thể nêu khái niệm về Hội đồng nhân dân cấp huyện như sau:
Hội đồng nhân dân cấp huyện là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do cử tri
của đơn vị hành chính cấp huyện bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của Nhân dân, quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương theo

nguyên tắc tập trung dân chủ". Do vậy, Hội đồng nhân dân cũng được tổ chức theo
nguyên tắc tập trung dân chủ.
Mặt khác, Hội đồng nhân dân bao gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử
tri trực tiếp bầu ra, do vậy về nguyên tắc mọi đại biểu Hội đồng nhân dân đều bình
đẳng về quyền và trách nhiệm, trong đó có quyền phát biểu ý kiến và biểu quyết
(hai quyền quan trọng nhất), nên khi quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền, Hội
đồng nhân dân phải dùng hình thức biểu quyết theo đa số.
Pháp luật cũng quy định rõ :"Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị
và quyết định theo đa số" và :"Đại biểu Hội đồng nhân dân bình đẳng trong thảo
luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân".
Đây cũng là đặc điểm của tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân khác với
UBND :" Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể Ủy ban nhân dân kết hợp
với trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân".
1.1.1.2. Vị trí và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp huyện
Vị trí của Hội đồng nhân dân cấp huyện có thể xác định như sau:
Hội đồng nhân dân cùng với Ủy ban nhân dân là các cơ quan tạo thành bộ máy
của một cấp chính quyền. Ở điạ phương, có ba cấp đơn vị hành chính là cấp tỉnh,

9


cấp huyện và cấp xã và các cấp tương đương. Hội đồng nhân dân thuộc chính quyền
địa phương cấp huyện. Đây là cấp chính quyền vẫn được xem là trung gian giữa
chính quyền cấp tỉnh và chính quyền cấp xã.
Theo một quan niệm khác, bộ máy nhà nước gồm có bốn hệ thống cơ bản là hệ
thống cơ quan quyền lực nhà nước, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, hệ thống
Tòa án nhân dân, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân. Hội đồng nhân dân cấp huyện
thuộc hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước và là một cấp của hệ thống cơ quan này.
Như đã biết, hệ thống này gồm có Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng
nhân dân cấp huyện, Hội đồng nhân dân cấp xã.

cuộc sống người dân ngày một tốt hơn. Do đó, quyết định của Hội đồng nhân dân
phải đảm bảo hai yêu cầu cơ bản là: Không trái với quy định của Hiến pháp, pháp
luật và phản ảnh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương hay nói cách
khác là phải đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn cuộc sống.
 Chức năng giám sát

Giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện là hoạt động có mục đích, thường
xuyên, liên tục của Hội đồng nhân dân nhằm quan sát, theo dõi, kiểm tra, phát hiện,
uốn nắn việc tuân theo pháp luật, chấp hành Nghị quyết Hội đồng nhân dân của
Thường trực Hội đồng nhân dân, UBND, của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân trên địa bàn huyện theo quy
định của pháp luật. Qua giám sát của Hội đồng nhân dân nhằm thực hiện có hiệu
quả nhiệm vụ chính tri của địa phương, trách tình trạng tham ô, tham nhũng họặc
làm trái các quy định Pháp luật hiện hành.
1.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp huyện
Các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp huyện tại
Điều 26 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Nhiệm vụ, quyền hạn của
Hội đồng nhân dân là sự thể hiện cụ thể các chức năng của cơ quan này. Có thể khái
quát nhiệm vụ, quyền hạn đó như sau:
Thứ nhất, tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật và trong
lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền:
Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, biện pháp về
bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi
phạm pháp luật khác; phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân
quyền, biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh
dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa

11



12


hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện đều nằm trong phạm vi
được phân quyền.
Về việc đưa ra các biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ,
nguồn nước,và nguồn tài nguyên thiên khác, cùng biện pháp bảo vệ, cải thiện môi
trường, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão, lụt ở địa phương đều theo
quy định của pháp luật.
Thứ ba, Trong tình hình xã hội đang có bước đổi mới thì việc đưa ra phương
án giải quyết các biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm non, tiểu học và trung
học cơ sở, biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, giải
quyết các chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo, biện pháp bảo đảm việc
thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo càng phải được nâng cao, giám sát kỹ lưỡng
trên địa bàn huyện bên cạnh đó những điều trên phải tuân thủ theo quy định của
pháp luật.
Thứ tư, Trong việc đưa ra các chủ trương, chính sách, bổ sung những quyết
định mới thì việc giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc
thực hiện nghị quyết của HDND huyện; giám sát hoạt động của Thường trực
HDND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp, Ban của HDND cấp mình; giám sát văn
bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của HDND cấp xã cũng
được đề cao.
Xuất phát từ các nhiệm vụ, quyền hạn cũng như chức năng của Hội đồng nhân
dân cấp huyện pháp luật hiện hành nước ta đã quy định cơ cấu tổ chức Hội đồng
nhân dân cấp huyện bao gồm như sau:
1/ Thường trực HĐND cấp huyện
Trong cơ cấu tổ chức bộ máy Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm
có Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Trong đó Phó
Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên
trách.

xây dựng báo cáo, đề án dự thảo nghị quyết trình Hội đồng nhân dân cấp mình xem
xét quyết định. UBND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân
dân cùng cấp và trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
Ba là, quan hệ với Ủy ban ban Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa
phương

14


Theo Hiến pháp, pháp luật cũng như cương lĩnh, điều lệ của Mặt trận và các
đoàn thể thì Mặt trận, các đoàn thể có vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân, tham gia xây dựng chính quyền. Quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với
Mặt trận và các đoàn thể là mối quan hệ phối hợp để cùng thực hiện chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo luật định như tham gia vào quá trình hiệp
thương, lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử vào Hội đồng nhân dân, triển khai
thực hiện các nghị quyết Hội đồng nhân dân, tổ chức tiếp xúc cử tri cho đại biểu
Hội đồng nhân dân.
Chính quyền địa phương (trong đó có Hội đồng nhân dân) tạo điều kiện để
Mặt trận, các đoàn thể hoạt động (về cơ chế, chính sách, nguồn lực...). Đại diện Mặt
trận được mời tham dự các phiên họp định kỳ hằng tháng, họp liên tịch và các kỳ
họp Hội đồng nhân Hội đồng nhân dân theo luật định, báo cáo kết quả công tác
tham gia xây dựng chính quyền tại các kỳ họp thường lệ (6 tháng, cuối năm) của
Hội đồng nhân dân. Đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân được mời tham gia
các phiên họp của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và báo cáo kết quả công tác 6 tháng, cả
năm tại phiên họp. Cử đại diện tham gia các đoàn giám sát do Mặt trận tổ chức.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc hoạt động của Hội đồng nhân dân
cấp huyện
1.2.1. Khái niệm hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện
Căn cứ theo quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật qua các thời kỳ
từ 1946 đến nay, có thể đưa ra khái niệm về Hội đồng nhân dân cấp huyện như sau

huyện còn thực hiện quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, Pháp luật và các nghị
quyết của Hội đồng nhân dân huyện đối với các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân có liên quan trên địa bàn
huyện theo quy định của Pháp luật cũng như giám sát hoạt động công tác của
Thường trực Hội đồng nhân dân, UBND, Toàn án Nhân dân, Viện kiểm sát Nhân
dân cùng cấp.
Không những vậy, tính quyền lực Nhà nước của Hội đồng nhân dân cấp huyện
được thiết lập theo nguyên tắc Hiến định “tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân
dân”, “Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân
chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác
của Nhà nước”. Vì vậy Hội đồng nhân dân là chủ thể mang tính quyền lực Nhà
nước do được nhân dân ủy quyền, là cơ quan do nhân dân ở địa phương bầu ra và

16


thay mặt nhân dân giải quyết các vấn đề quan trọng của địa phương.
Tính quyền lực Nhà nước của Hội đồng nhân dân cấp huyện thể hiện ở 04
quyền hạn sau đây:
(1) Quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương.
(2) UBND được bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân; Bầu, miễn

nhiệm, bãi nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đều là các thành viên của cơ quan của HĐND.
(3) Một phần hay toàn bộ bãi bỏ văn bản trái Pháp luật của UBND, Chủ tịch

UBND cấp mình và văn bản của Hội đồng nhân dân cấp dưới.
(4) Thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về việc giám sát việc tuân

theo Pháp luật ở địa phương.
Về tính đại diện, tính chất này của Hội đồng nhân dân cấp huyện thể hiện ở

làm những việc sai trái, vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân
dân thì phải bị xử lý kịp thời và nghiêm minh. Đồng thời Hội đồng nhân dân cấp
huyện làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân, Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh có quyền giải tán Hội đồng nhân dân cấp huyện. Cùng với đó văn bản Hội đồng
nhân dân cấp huyện trái với pháp luật, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền bãi bỏ
một phần hoặc toàn bộ văn bản. Chính vì tình trạng trên cho nên khi đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp huyện bị khởi tố bị can, thì Thường trực Hội đồng nhân dân cấp
huyện quyết định tạm đình chỉ công việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của đại
biểu Hội đồng nhân dân đó. Đồng thời đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện bị kết
tội bằng bản án, quyết định của Tòa án thì đương nhiên mất quyền đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp huyện kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ

Theo Hiến pháp năm 1959 “Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ
quan Nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ”. Lê nin từng nói:
“Tập trung quá thành tập trung quan liêu, dân chủ quá thành vô chính phủ”, từ đó
phát sinh nguyên tắc tập trung dân chủ. Có nghĩa là nguyên tắc này đòi hỏi một mặt
bảo đảm tính thống nhất thông suốt của bộ máy nhà nước thông qua yếu tố “tập
trung”. Theo đó, lại phát huy được tính chủ động, sáng tạo, năng động của Hội đồng
nhân dân cấp huyện thông qua yếu tố “dân chủ”, từ đó làm cho hoạt động của nhân
dân cấp huyện không bị máy móc, xơ cứng mà có sự thay đổi linh hoạt phù hợp với
tình hình thực tế ở địa phương.
Bên cạnh đó nguyên tắc “tập trung” ở đây còn đảm bảo tính thống nhất, thông
suốt, chặt chẽ, logic, không bao hàm tính trực thuộc, phát huy được tối đa công việc

18


tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước.
+ HĐND làm việc theo chế đố hội nghị và quyết định theo đa số



đồng nhân dân cấp huyện họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Ngoài ra, Hội đồng nhân
dân thực hiện quyền giám sát tại kỳ họp thông qua các hoạt động sau:
- Kiểm tra các báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội

đồng nhân dân, UBND, TAND, VKSND, các cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp.
- Chất vấn và nghe trả lời chất vấn. Chất vấn là hình thức quan trọng để Hội

đồng nhân dân giám sát hoạt động của các cơ quan thuộc Hội đồng nhân dân và các
cơ quan, tổ chức khác trên địa bàn.
- Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân tổ chức lấy phiếu

tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Hội đồng nhân
dân bầu đó là Chủ tịch Hội đồng nhân dân, phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các
Trưởng các Ban Hội đồng nhân dân. Chủ tịch UBND, phó Chủ tịch UBND và các
Ủy viên UBND. Đối với người được lấy phiếu tín nhiệm có từ hai phần ba tổng số
đại biểu Hội đồng nhân dân trở lên đánh giá tín nhiệm thấp thì Thường trực Hội
đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm hoặc là người được bỏ phiếu tín nhiệm có quá
nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá không tín nhiệm thì có thể xin từ
chức; trường hợp không từ chức thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu
người đó để Hội đồng nhân dân bầu có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân xem
xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với người đó.
- Kiểm tra và đánh giá văn bản của UBND cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng

nhân dân cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của cấp mình. Trường hợp nếu xét
thấy có vi phạm, Hội đồng nhân dân có quyền bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết
định của UBND cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp.
2/ Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status