Thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. DƯƠNG NGUYỄN MINH HUY


MẠNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGÀNH
NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
63
3.1. Phương hướng hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện chính sách phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam........................63
3.2. Giải pháp hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam................................... 67
KẾT LUẬN............................................................................................................ 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Từ viết tắt

1

CBCCVC

2

QLNN

3

UBND


DANH MỤC CÁC BẢNG


2.2

Kết quả đánh giá v
địa bàn thị xã

Kết quả đánh giá v

tế ngành nông ngh

Kết quả khảo sát, đ
2.3

chính sách phát triể


Kết quả khảo sát đ
2.4

chính sách phát triể


Kết quả khảo sát đ
2.5

hiện chính sách ph
bàn thị xã

Kết quả khảo sát đ
2.6

được, đồng thời mở ra một thời kỳ mới phát triển nền nông nghiệp hiện đại,
bền vững; xây dựng nông thôn mới phồn vinh và văn minh; nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của người dân nông thôn.
Điện Bàn là thị xã đồng bằng ven biển, có vị trí địa lý - kinh tế quan
trọng, là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc của tỉnh Quảng Nam. Những năm
qua, với nỗ lực to lớn của các cấp, các ngành của thị xã trong công tác phát
triển kinh tế ngành nông nghiệp đã phát huy tiềm năng, lợi thế về điều kiện vị
trí địa lý, tự nhiên, kinh tế - xã hội và tranh thủ nhiều nguồn lực đầu tư để đưa
ngành nông nghiệp đạt được những kết quả tích cực, tốc độ tăng trưởng ngành
nông - lâm - thủy sản năm 2018 đạt 3,9% so với năm 2017 (theo giá so sánh
2010), từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần quan
trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của thị xã.
Tuy nhiên, ngành kinh tế nông nghiệp ở thị xã vẫn còn bộc lộ nhiều hạn
chế, như sản xuất manh mún, chủ yếu là sản xuất hộ gia đình; suy giảm thâm
1


canh; tính hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao, tình trạng được
mùa mất giá vẫn tiếp tục diễn ra, lặp đi lặp lại, thường xuyên có những cuộc
giải cứu nông sản thừa; thu nhập từ nông nghiệp thấp so với các ngành khác.
Điều này cho thấy, bản thân trong nội bộ của ngành kinh tế nông nghiệp thị xã
cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế. Đặc biệt, vai trò của các chủ thể quản lý
trong lĩnh vực này của thị xã Điện Bàn còn mờ nhạt, chưa thực sự hiệu quả,
thể hiện qua các điểm sau đây: Năng lực quản lý chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển của kinh tế; Công tác lập kế hoạch còn hạn chế, chưa gắn sản xuất với
nhu cầu của thị trường, tại các xã, phường diễn ra tình trạng đầu tư vượt quy
hoạch, đầu tư theo phong trào rất phổ biến; Những vi phạm phổ biến thường
xuyên diễn ra như vật tư nông nghiệp giả, vi phạm an toàn thực phẩm, sử
dụng chất cấm, kháng sinh trong chăn nuôi.
Việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn thị

nghiên cứu của luận văn. Trong đó có các công trình điển hình như sau:
Luận văn Thạc sĩ “Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh”, của tác
giả Nguyễn Duy Cường (2010) đã phân tích, làm rõ thực trạng phát triển kinh
tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Can
Lộc. Từ thực trạng và một số vấn đề đặt ra về phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh trước những năm 2010, tác giả đề
ra quan điểm và giải pháp cơ bản để kinh tế nông nghiệp ở huyện Can Lộc
phát triển tốt hơn thời gian tới [16].
Trong luận án tiến sĩ “Phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam giai
đoạn 2011 - 2020” của Đoàn Tranh (2012) đã nêu những vấn đề lý luận về
phát triển nông nghiệp, thực trạng phát triển nông nghiệp của tỉnh Quảng
Nam, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng
Nam giai đoạn 2011-2020 [40].
Vũ Đình Thắng (2013) trong “Giáo trình Kinh tế nông nghiệp” đã nêu
tổng quan về kinh tế nông nghiệp, đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp
3


nghiên cứu môn học; những nội dung cơ bản về quan hệ sản xuất trong nông
nghiệp Việt Nam; Nghiên cứu những nội dung cơ bản về phát triển lực lượng
sản xuất của nông nghiệp dưới giác độ kinh tế học. Tác giả đã đi sâu về phát
triển nông nghiệp bền vững, các chủ thể kinh tế nông nghiệp, các nguồn lực
và sự tác động của tiến bộ khoa học, yếu tố thị trường, chính sách phát triển
cũng như quản lý nhà nước về nông nghiệp. Thể hiện rõ nhận thức lý luận về
quản lý nhà nước đối với nông nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế, làm rõ những căn cứ, nội dung đổi mới quản lý nhà nước về nông nghiệp
trước yêu cầu hội nhập [30].
Trong luận văn thạc sĩ “Kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Sơn La”, tác giả
Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2014) đã hệ thống hóa và luận giải rõ những vấn

“Cái gốc bền vững của việc xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam”,…
Bài nghiên cứu “Một số vấn đề về tăng trưởng xanh ở Việt Nam” của
Nguyễn Thị Thu Trang (2015), phân tích vấn đề đang “nóng” trong các thảo
luận về phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay đó làvấn đề tăng trưởng
xanh. Công trình nghiên cứu khẳng định phát triển bền vững là yêu cầu xuyên
suốt trong Chiến lược phát triển đất nước thời gian sắp tới, trên cơ sở kết hợp
hài hòa ba trụ cột của sự phát triển, gồm: kinh tế - xã hội - môi trường; tăng
trưởng xanh là nội dung của phát triển bền vững, đồng thời góp phần giảm
nhẹ và phòng chống tác động của biến đổi khí hậu. Thông qua việc so sánh
với thực trạng tăng trưởng xanh của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, bài
viết trình bày những thực trạng về tăng trưởng xanh ở Việt Nam và đề xuất
một số giải pháp giải quyết vấn đề: thứ nhất, tăng trưởng xanh phải là tăng
trưởng do con người và vì con người, phát triển hài hòa đời sống xã hội với
môi trường tự nhiên, góp phần giải quyết yêu cầu tăng trưởng hợp lý với giảm
nghèo bền vững, bảo đảm sự bình đẳng trong cơ hội phát triển cho mỗi người
với điều kiện thụ hưởng hợp lý, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
người dân trong phát triển; thứ hai, tăng trưởng xanh phải dựa trên việc tăng
cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự
5


nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng môi trường,
qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế ngay trong điều kiện biến đổi khí hậu
toàn cầu, đặc biệt là tình trạng nước biển dâng cao sẽ tác động mạnh vào
nhiều vùng của đất nước; thứ ba, tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa
học, thực hiện chuyển giao công nghệ hiện đại, kỹ năng quản lý tiên tiến, xây
dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, kết
hợp giữa nội lực với mở rộng hợp tác quốc tế, tạo thành nguồn lực tổng thể
cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thứ tư, tăng trưởng xanh là sự
nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ của mọi cấp chính quyền, từ các

nay, tác giả đã luận giải, làm rõ những vấn đề cấp bách cần thực hiện trong
thời gian tới. Trong đó có một số giải pháp về giải quyết mối quan hệ giữa
nông nghiệp, nông dân và nông thôn có thể tham khảo để nghiên cứu vấn đề
phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa bàn nghiên cứu [29].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên tiếp cận ở nhiều khía cạnh
khác nhau về kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế nông nghiệp, hay nghiên
cứu sâu về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Tuy có sự khác nhau về góc
độ tiếp cận, nội dung và phạm vi đề cập nhưng các công trình trên đều hướng
tới giải quyết các vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến thực hiện chính
sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp. Có thể nhận thấy rằng các công
trình nghiên cứu trên tuy công bố gần đây và được tiếp cận nghiên cứu từ
nhiều chuyên ngành khác nhau (kinh tế chính trị, quản lý kinh tế, quản lý
công hay chính sách công...) với mục đích, nhiệm vụ và không gian nghiên
cứu khác nhau (cả nước, vùng miền, địa phương hay lĩnh vực khác nhau),
song chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này tại thị xã Điện Bàn. Vì
vậy, việc nghiên cứu “Thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” là nội dung mới, có
tính thực tiễn cao đối với thị xã Điện Bàn, không trùng lặp với các công trình
khoa học đã công bố.
3.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.

Mục tiêu nghiên cứu

7


Làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tác giả vận dụng
nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng Cộng Sản Việt Nam, chủ trương, chính sách của các địa phương về nông
nghiệp, nông thôn, nông dân nói chung; về phát triển kinh tế nông nghiệp nói
riêng. Đồng thời kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội
dung liên quan đến nội dung của đề tài trên phạm vi cả nước và tình hình cụ thể
8


của thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Các phương pháp nghiên cứu được sử
dụng để thực hiện đề tài như sau:
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu:
Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thông qua các thông tin từ Chi cục Thống kê
thị xã, các báo cáo về nông nghiệp của UBND thị xã và các phòng chuyên môn
của thị xã. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các kết quả đã công bố tại các luận
văn, bài báo, tạp chí, giáo trình của các tác giả để phục vụ cho nghiên cứu.

Thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát các cá nhân về thực hiện chính sách
phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam để làm rõ thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp trên địa bàn thị xã thông qua bảng câu hỏi chuẩn bị sẵn. Phiếu phỏng
vấn được xây dựng trên cơ sở áp dụng thang đo thái độ Likert 5 (từ 5 là rất tốt
đến 1 là rất kém) để khảo sát đánh giá sự đánh giá của người được hỏi về các
nội dung thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa
bàn thị xã.
Lựa chọn điểm khảo sát: Tại 20 xã, phường trên địa bàn thị xã Điện
Bàn để làm rõ thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp trên địa bàn thị xã.
Lựa chọn đối tượng phỏng vấn: Chọn 120 cá nhân để phỏng vấn, thăm
dò đánh giá của họ về tình hình thực hiện các nội dung thực hiện chính sách


10


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện từ rất sớm, gắn liền
với sự hình thành và phát triển xã hội loài người. Nông nghiệp là khái niệm
được sử dụng vừa để chỉ ngành nghề hay sản nghiệp, vừa để phân biệt với các
ngành sản xuất vật chất khác như công nghiệp, dịch vụ. Theo Bách khoa toàn
thư Việt Nam, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử
dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư
liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một
số nguyên liệu cho công nghiệp. Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp là ngành sản
xuất vật chất, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi nhằm cung cấp lương thực và
thực phẩm cho xã hội. Theo nghĩa rộng, nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn
nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp. Nông nghiệp có vai trò rất quan
trọng trong việc duy trì sự tồn tại của con người và sự phát triển của xã hội
loài người; đó là cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến và là thị trường rộng lớn của các ngành công nghiệp, dịch
vụ… Nếu xét trong mối quan hệ với kinh tế công nghiệp, phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp là tiền đề của phân công lao động xã hội; bởi theo C.Mác,
trong lịch sử xã hội loài người, chỉ đến khi nông nghiệp cung cấp đủ lương
thực cho con người thì nền sản xuất xã hội mới phân chia thành ngành nông
nghiệp và công nghiệp. Tuy nhiên, dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, thì nông
nghiệp vẫn là ngành sản xuất vật chất mà con người phải dựa vào quy luật
sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi để sản xuất lương thực, thực phẩm…

các vật sống, bao gồm động vật, thực vật, vi sinh vật,..có trao đổi chất với môi
trường ngoài, có sinh đẻ, lớn lên và chết. Điều đó cũng có nghĩa, sinh vật
12


là cơ thể sống(trong thực tế không phải mọi vật sống, hay sinh vật đều mang
các đặc trưng trên; một số sinh vật không có khả năng tự chuyển động và
phản ứng trực tiếp đối với môi trường; một số vi sinh vật không có khả năng
tự sinh sản). Như vậy, có thể hiểu đối tượng sản xuất của nông nghiệp là các
vật sống, bao gồm động vật, thực vật, vi sinh vật (gọi chung là cây trồng, vật
nuôi). Nói cách khác, đối tượng sản xuất của nông nghiệp là các vật sống, bao
gồm các loại cây trồng, vật nuôi. kinh tế ngành nông nghiệp gắn với các
ngành kinh tế khác trên địa bàn nông thôn; đồng thời chịu sự chi phối của nền
kinh tế quốc dân. Cây trồng, vật nuôi có quy luật sinh tồn độc lập với ý muốn
con người. Cây trồng, vật nuôi chỉ phát triển tốt nhất khi có điều kiện tự
nhiên, khí hậu, đất, nước, phân bón, môi trường phù hợp. Từ đặc điểm của đối
tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi nên con người sẽ có khả
năng sử dụng các giải pháp sinh học trong phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp [30].
Thứ ba, sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao. Trong nông nghiệp,
quá trình tái sản xuất tự nhiên liên quan chặt chẽ với quá trình tái sản xuất,
thời gian lao động xen kẽ với thời gian sản xuất và không hoàn toàn trùng
khớp với thời gian sản xuất, làm cho sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ
trong việc sử dụng nguồn lực. Mặt khác, như trên đã đề cập, do đối tượng sản
xuất của nông nghiệp là các vật sống (hay sinh vật); mà các vật sống có đặc
trưng như chuyển động, trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản và phản ứng trước
tác động của môi trường bên ngoài. Từ đặc trưng trao đổi chất, sinh trưởng,
sinh sản… mà các vật sống có chu kỳ sinh trưởng nhất định. Chính chu kỳ
sinh trưởng đó đã làm cho sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ; và con người
đã khai thác tính chất thời vụ của các vật sống để phát triển kinh tế ngành

chất của quá trình phát triển kinh tế ngành nông nghiệp là khả năng thích ứng
của kinh tế ngành nông nghiệp trong các mô hình tổ chức sản xuất xã hội.
Với nghĩa như vậy thì phát triển kinh tế ngành nông nghiệp không chỉ
là sự tăng lên về lượng, mà là quá trình tăng thêm về mọi mặt của kinh tế
14


ngành nông nghiệp; trong đó bao gồm sự tăng thêm về trình độ, quy mô, số
lượng, chất lượng, cơ cấu của kinh tế ngành nông nghiệp và sự phù hợp, sự
đổi mới, ngày càng hoàn thiện của kinh tế ngành nông nghiệp trong quá trình
vận động, biến đổi và phát triển của ngành kinh tế này.
Từ quan niệm về kinh tế ngành nông nghiệp; trên cơ sở kế thừa các kết
quả nghiên cứu về kinh tế ngành nông nghiệp và cách tiếp cận khái niệm phát
triển của chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể quan niệm: Phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp là tổng thể hoạt động của các chủ thể trong hệ thống chính trị, sử dụng hệ
thống cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao trình độ, quy mô
tổ chức, cơ cấu sản xuất kinh tế ngành nông nghiệp phù hợp với chiến lược phát
triển KT-XH của quốc gia hay địa phương trong từng thời kỳ [28].

Kinh tế ngành nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất đặc biệt quan
trọng đối với phát triển xã hội. Với một nước đang đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa như Việt Nam, thì phát triển kinh tế ngành nông nghiệp càng
có vai trò quan trọng hơn. Phát triển kinh tế ngành nông nghiệp phải phát triển
toàn diện cả điều kiện vật chất và các quan hệ KT-XH của nó.
Trong nền kinh tế thị trường, phát triển kinh tế ngành nông nghiệp bao
gồm ba nhân tố cơ bản:
Một là, kinh tế ngành nông nghiệp là một bộ phận của kinh tế hàng hóa;
một kiểu tổ chức KT-XH trong nông nghiệp, gắn với trình độ phát triển nhất
định của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Đây là nhân tố xác
định vị trí, vai trò của kinh tế ngành nông nghiệp trong nền kinh tế.

niệm chính sách công từ nhiều góc độ, khái niệm “chính sách công” được
định nghĩa một cách ngắn gọn như sau: “Chính sách công là những đường
hướng ứng xử cơ bản của nhà nước với những vấn đề chính sách phát sinh
trong đời sống cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc đẩy phát
triển xã hội và quản lý xã hội” [51]
Từ cách tiếp cận về kinh tế ngành nông nghiệp, chính sách công, có thể
hiểu về chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp như sau:
16


Chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp là tập hợp các quyết
định của Nhà nước nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ thực hiện để giải quyết
các vấn đề có liên quan đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức sản
xuất, kinh doanh nông nghiệp trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm,
thủy sản.
Trên cơ sở khái niệm chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp,
có thể thấy nội dung của chính sách bao gồm:
Thứ nhất, kinh tế ngành nông nghiệp tăng trưởng theo hướng nâng cao
giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Tăng trưởng kinh tế “là sự biến đổi
kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng qui mô về mặt số lượng của các
yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nhưng trong khuôn khổ giữ
nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng”.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp hợp lý, phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong từng thời kỳ. Nông nghiệp là
một ngành cơ bản của nền kinh tế cả nước, vừa chịu sự chi phối chung của
nền kinh tế quốc dân, vừa gắn bó mật thiết với các ngành khác trên địa bàn
nông thôn, đồng thời lại phản ánh những nét riêng biệt mang tính đặc thù của
một ngành mà đối tượng sản xuất là các vật sống (cây trồng, vật nuôi). Vì vậy,
có thể hiểu cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là tổng thể các bộ phận hợp

là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục
tiêu nhất định [18].
Qua thực hiện mới biết được chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp có đúng, phù hợp và đi vào cuộc sống hay không. Quá trình thực hiện
sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc
sống. Đồng thời, việc phân tích, đánh giá chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp chỉ có cơ sở đầy đủ, sức thuyết phục sau khi được thực hiện.
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status