Quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hoá từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH QUANG VŨ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN
DI SẢN VĂN HOÁ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH QUANG VŨ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN
DI SẢN VĂN HOÁ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ THỊ KIM ĐỊNH

HÀ NỘI, năm 2019


thành phố Hội An ......................................................................................................68
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DSVH

: Di sản văn hóa

QLNN

: Quản lý nhà nước

UNESCO

: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc

VHTT&DL

: Văn hóa thể thao và du lịch


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1.

Tên bảng
Lễ hội ở Hội An (Phân loại theo loại hình di tích)

Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa
nói riêng là vấn đề đã và đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Từ
năm 1986, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới trong nhiều lĩnh vực, trong đó có văn
hóa. Năm 1998, Ban chấp hành trung ương khóa VIII họp Hội nghị lần thứ 5 đề ra
Nghị quyết xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã tạo
điều để việc bảo tồn giá trị cuả di sản văn hóa nhận được sự quan tâm và chú ý

1


nhiều hơn từ phía các cơ quan nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa của cơ quan có
liên quan, thể hiện qua việc Nhà nước ban hành Luật di sản văn hóa và một hệ
thống các văn bản pháp luật quy định chi tiết các vấn đề liên quan. Bên cạnh đó, các
cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành những hoạt động cụ thể thông qua những
chương trình mang tính quốc gia, tiêu biểu như Chương trình mục tiêu quốc gia về
văn hóa…
Mặc dù được triển khai và nhận được sự ủng hộ cũng như đóng góp từ đông
đảo các tầng lớp trong xã hội nhưng công tác quản lý nhà nước về bảo tồn di sản
văn hóa trên thực tế vẫn còn diễn ra khá chậm chạp và tồn tại nhiều hạn chế. Tại
tỉnh Quảng Nam, công tác quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa ở Hội An
trong năm gần đây vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Do vậy, nghiên cứu nội dung quản
lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa cùng với thực trạng của công tác này tại
thành phố Hội An trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn cho tài: “Quản lý nhà nước về bảo tồn
di sản văn hoá từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận
văn thạc sĩ ngành Luật hiến pháp và luật hành chính với mong muốn sẽ góp phần
làm rõ được một số vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp để công tác quản lý nhà
nước về bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn đạt được hiệu quả cao hơn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là một trong những vấn đề

dân tộc” của tác giả Bùi Bạch Đằng - Hoàng Văn Vân đăng trên Tạp chí VHNT số
385, tháng 7-2016. Bài viết đã chỉ ra một số hạn chế trong vấn đề bảo tồn và phát
triển DSVH dân tộc trong quá trình đổi mới và đưa ra một số giải pháp góp phần
nâng cao công tác bảo tồn, phát huy các DSVH dân tộc.
-“Phát triển du lịch gắn với bảo tồn DSVH trong thời kỳ mới” của Nguyễn
Thế Thi trên Tạp chí VHNT số 392, tháng 2-2017 đã chỉ ra vấn đề cân bằng giữa
phát triển du lịch và gìn giữ DSVH và đưa ra một số giải pháp cần thiết. Bên cạnh
đó còn có những tọa đàm, hội thảo về vấn đề này như: Hội thảo quốc tế chủ đề
“Thông điệp từ di sản thế giới ở Quảng Nam - Thực trạng và tương lai” năm 2010
với sự tham dự của nhiều nhà khoa học thuộc cơ quan Hợp tác quốc tế Việt NamNhật Bản JICA, trường Đại học nữ Chiêu Hoà, ĐH Chi Ba (Nhật ) và Việt Nam đã
chỉ ra nhiều vấn đề bất cập ảnh hưởng đến 02 di sản này đang cần được chấn chỉnh.
- Hội thảo khoa học về “Đa dạng sinh thái Mỹ Sơn nhằm bảo tồn gắn với phát
triển bền vững Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam” do Viện Sinh thái và Bảo vệ
công trình chủ trì vào tháng 8/2016. Hội thảo đã nghiên cứu để xây dựng bộ tiêu chí
đánh giá mô hình cụ thể và những sản phẩm thụ hưởng để đơn vị sở tại tiếp quản áp

3


dụng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của khu di tích.
Có thể nhận thấy rõ phần lớn những bài viết, tạp chí, hội thảo của những công
trình nghiên cứu trên đều tập trung nhiều đến nội dung bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa; đối với nội dung QLNN về bảo tồn di sản văn hóa có đề cập đến nhưng góc độ
khai thác chưa sâu. Đặc biệt các nội dung QLNN về bảo tồn di sản văn hóa được quy
định trong Luật Di sản văn hóa hầu như chưa được phân tích, nghiên cứu làm rõ từ
thực tiễn để từ đó tìm ra giải pháp hoàn thiện QLNN ở lĩnh vực này trong giai đoạn
hiện nay.
Hội An là nơi có nhiều di sản văn hóa và chính quyền các cấp của địa phương
đã quan tâm quản lý. Tuy nhiên, số lượng công trình, bài viết trực tiếp đề cập đến
công tác QLNN đối với bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Hội An tỉnh

hóa tại thành phố Hội An.
+ Về mặt thời gian: Thực trạng quản lý và bảo tồn di sản văn hóa trong giai
đoạn từ năm 2015 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo tồn di sản
văn hóa và những quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về bảo
tồn di sản văn hóa.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp khảo sát, điền dã: Dựa trên những thông tin thu thập được
trong quá trình khảo sát thực tế tại Hội An, người nghiên cứu rút ra những nhận
định của mình về thực trạng công tác quản lý di sản văn hóa nơi đây.
- Phương pháp phỏng vấn: Qua các buổi gặp gỡ, trao đổi với cán bộ quản lý và
người dân, nghiên cứu thu thập những thông tin, kiến thức trong công tác quản lý,
tôn tạo và phát huy giá trị của di tích.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Trên cơ sở những tài liệu, tư liệu và các
công trình nghiên cứu khoa học về di tích của những tác giả đi trước để lại, những
chính sách, chủ trương trong công tác quản lý của Nhà nước, nghiên cứu thực trạng
quản lý Nhà nước đối với di sản văn hóa và đưa ra những kiến nghị nhằm khắc phục
những khó khăn cần tháo gỡ.
- Phương pháp phân tích: Dựa trên những thông tin đã thu thập được qua công
tác khảo sát điền dã, trực tiếp phỏng vấn, nghiên cứu tài liệu, phân tích những điểm
mạnh, yếu và những khó khăn cũng như hạn chế, thách thức trong công tác quản lý

5


đối với di sản. Từ đó, đưa ra những hướng khắc phục, phát huy tối đa hiệu quả


6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lí nhà nước về bảo tồn di sản
văn hóa
1.1.1. Khái niệm về bảo tồn di sản văn hóa, quản lí nhà nước về bảo tồn di
sản văn hóa
1.1.1.1. Khái niệm về bảo tồn di sản văn hóa
* Khái niệm văn hóa:
Văn hóa là bộ phận hữu cơ trong toàn bộ hoạt động của một chế độ xã hội.
Trong chế độ xã hội có tổ chức, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường, bộ
phận này càng cần được quản lý là định hướng phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước.
Trong khoa học nghiên cứu về văn hóa, khởi đầu từ định nghĩa của E.B.Tylor
trong cuốn Văn hóa nguyên thuỷ (Primitive culture) xuất bản tại London năm 1871,
đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Vào năm 1952, hai nhà nhân học
người Mỹ là A.Kroeber và C.Kluckhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn về các
định nghĩa văn hóa nhan đề: Văn hóa - tổng luận phê phán các quan niệm và định
nghĩa (Culture: A critical review of concepts and definitions), trong đó đã dẫn ra và
phân tích 164 định nghĩa về văn hóa. Trong lần xuất bản thứ hai của cuốn sách này,
số định nghĩa văn hóa đã tăng lên đến trên hai trăm. Cho đến nay, đã có tới hơn bốn
trăm định nghĩa về văn hóa.
Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng khái niệm văn hóa có thể
quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng,
theo không gian hoặc theo thời gian... Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là

sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân
tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín
ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [12]. Cách hiểu này đã được
cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa
học năm 1970 tại Venice.
Theo đó, văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người. Nói tới văn hóa
là nói tới con người, nói tới việc phát huy các năng lực bản chất con người và nhằm
hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Vì vậy, khái niệm văn hóa chứa đựng tính
chất nhân văn. Văn hóa gắn liền với trí tuệ, đạo đức và lương tâm.

8


*Khái niệm về di sản văn hóa:
Trong đời sống văn hóa, di sản văn hóa là bộ phận nòng cốt, là nơi lưu giữ
kiên cố bản sắc dân tộc. Đồng thời, đây cũng là cơ sở tiền đề quan trọng để sáng tạo
ra những giá trị văn hóa mới của xã hội hiện đại. Có thể nói, di sản văn hóa là tổng
thể những tài sản văn hóa truyền thống trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể
nhận biết và đưa vào sử dụng nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại.
Không phải tất cả các sản phẩm văn hóa đều trở thành di sản văn hóa mà chỉ những
sản phẩm văn hóa nào hàm chứa những mặt giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và
khoa học đã được tích lũy, tinh lọc qua nhiều thế hệ trong suốt chiều dài lịch sử
dựng nước và giữ nước của dân tộc mới xứng đáng được tôn vinh là di sản văn hóa.
Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10, ngày 29/6/2001 và Luật số
32/2009/QH12, ngày 18/6/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn
hóa đã đưa ra định nghĩa về bảo tồn di sản văn hóa. Tại Điều 1, Luật Di sản văn hóa
của Việt Nam nêu rõ: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản
văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam”[59].Qua định nghĩa này ta có thể thấy, di sản văn hóa luôn luôn chứa đựng

- Phân loại di sản văn hoá: Việc tiến hành phân loại DSVH là một nhu cầu
thiết thực, khoa học, góp phần hỗ trợ, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu, đặc biệt
đối với công tác tu bổ, bảo tồn các DSVH. Xuất phát từ nhu cầu của con người (nhu
cầu vật chất và nhu cầu tinh thần) mà con người cũng có hai loại hoạt động cơ bản
là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Từ đó, văn hóa nói chung thường được
chia làm hai dạng: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Cũng như vậy, đối với di sản văn hóa, tuy có nhiều hình thức để tồn tại nhưng
hai hình thái di sản chính đã được thế giới thống nhất và định nghĩa, đó là: Di sản
văn hóa vật thể và phi vật thể. Căn cứ vào quy định tại Công ước về việc bảo vệ di
sản văn hóa và thiên nhiên ngày 16/11/1972 và Công ước về bảo vệ di sản văn hóa
phi vật thể ngày 17/10/2003 của UNESCO, có thể hiểu rằng:
Di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) là những sản phẩm văn hóa hữu
hình, tồn tại dưới dạng vật thể, có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng,
đường nét, màu sắc và kiểu dáng... tồn tại trong không gian và thời gian xác định.
Là sản phẩm được tạo tác từ bàn tay con người, di sản văn hóa vật thể mang dấu ấn
lịch sử xã hội rõ rệt. Chúng luôn chịu sự thách thức, bào mòn của quy luật thời gian
và luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc.
Do đó, vấn đề bảo tồn di sản văn hóa vật thể đang gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi
phải có công nghệ kỹ thuật cao mới có thể bảo tồn hoặc phục hồi nguyên trạng.

10


Di sản “văn hóa phi vật thể” (intangible culture) là dạng thức tồn tại của văn
hóa tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người
và thông qua các hoạt động của con người trong quá trình sản xuất, giao tiếp xã hội
mà thể hiện ra. Đặc trưng rõ nhất của văn hóa phi vật thể là luôn luôn chìm khuất
trong tâm thức của một cộng đồng xã hội và chỉ bộc lộ qua hành vi và hoạt động
của con người.
Trên tinh thần hai công ước trên, Luật Di sản Văn hóa Việt Nam đã đưa ra quy

nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức
khác, bao gồm: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân
gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền
thống; Tri thức dân gian (Điều 2 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản Văn hóa, sau đây gọi tắt là Nghị
định số 98/2010/NĐ CP). Trong đó Việt Nam đã có 8 di sản phi vật thể đã được
UNESCO công nhận là di sản phi vật thể thế giới, đó là: Nhã nhạc cung đình Huế
(2003), Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2005) và Dân ca quan họ Bắc
Ninh (2009), Ca trù (2009), Hội Gióng ở Sóc Sơn (2010); Hát xoan Phú Thọ (2011),
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (2012), gần đây nhất là Đờn ca tài từ Nam Bộ
(2013).
Sự tách biệt di sản văn hóa thành di sản vật thể (vật chất) và phi vật thể (tinh
thần) trên đây tưởng chừng như rất rõ ràng, song trên thực tế lại chỉ mang tính
tương đối bởi vì trong một số trường hợp rất khó để phân biệt được di sản vật thể
hay phi vật thể. Trong sự đa dạng của di sản văn hóa phi vật thể, có một bộ phận
gắn chặt với di sản văn hóa vật thể. Hai hình thức tồn tại của di sản văn hóa (vật thể
và phi vật thể) hóa quyện với nhau trong một thể thống nhất. Ở đó, di sản vật thể
xuất hiện như là biểu hiện vật chất của di sản phi vật thể, còn di sản phi vật thể lại
tồn tại như là biểu hiện tinh thần của di sản vật thể đó. Nhìn lại lịch sử hình thành,
tồn tại và phát triển của các di tích lịch sử văn hóa, chúng ta có thể thấy các di tích
này ra đời trước hết xuất phát từ những nhu cầu tinh thần, nổi bật nhất là nhu cầu tín
ngưỡng - tôn giáo và nhu cầu tôn vinh, tưởng niệm của con người. Điều này không
chỉ thấy ở nước ta, mà còn phổ biến trên toàn thế giới (kiến trúc Hin-đu giáo tại
Ăng-ko, kiến trúc Phật giáo tại Campuchia, các công trình kiến trúc tháp Chăm ở
miền Trung nước ta...).
* Khái niệm về bảo tồn di sản văn hóa:
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức


hoặc cũng có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào trong xã hội. Mặc dù tất cả những
hoạt động này đều phải tuân theo quy định của pháp luật nhưng đây không phải là
quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa.
Là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, quản lý nhà nước ra

13


đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội. Quản lý nhà nước là hoạt động do
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật; nhân
dân và các tổ chức xã hội chỉ có thể tham gia quản lý nhà nước khi được Nhà nước
trao quyền thực hiện chức năng Nhà nước. Quản lý nhà nước ở đây được hiểu là sự
quản lý có tính chất quyền lực của Nhà nước, do Nhà nước thực hiện thông qua các
cơ quan nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước. Quản
lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động: hoạt động lập pháp của cơ quan lập
pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của hệ thống hành pháp và
hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp.
Quản lý nhà nước xét ở khía cạnh hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt
động quản lý hành chính nhà nước, hay nói cách khác quản lý hành chính nhà nước
là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước. Đó là sự tác động có tổ chức
và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật đối với hành vi hoạt
động của con người và các quá trình xã hội, do các cơ quan trong hệ thống hành
chính nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành để thực hiện những mục
tiêu, chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Từ bản chất của quản lý nhà nước, bảo tồn và di sản văn hóa có thể đưa ra
định nghĩa chung nhất về quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa đó là: Quản lý
nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà
nước có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm giữ gìn và
phát huy giá trị của di sản văn hóa Việt Nam.
1.1.2. Đặc điểm của quản lí nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa

bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý nhà nước văn hóa ở từng cấp, từng địa phương,
từng hoạt động thì mục đích quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa phải được
xác định cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ và hoàn cảnh của địa phương. Ví dụ quản
lý nhà nước về Chương trình mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thì cấp
trung ương mục đích là gì; cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã là gì, phải được xác định một
cách cụ thể. Có như vậy hoạt động quản lý mới hiệu quả.
Thứ tư, hoạt động quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động
mang tính chủ động và sáng tạo.
Căn cứ vào tình hình, đặc điểm của di sản văn hóa, việc quản lý cũng như điều
kiện, các yếu tố xoay quanh từng trường hợp cụ thể mà các chủ thể quản lý nhà
nước có thể đề ra các chủ trương, biện pháp quản lý thích hợp.
Tính chủ động sáng tạo còn thể hiện rõ nét trong hoạt động xây dựng, ban
hành văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa.

15


Đây là đặc điểm tồn tại bởi chính bản thân sự phức tạp, đa dạng, phong phú của di
sản văn hóa – đối tượng quản lý nhà nước; đồng thời đòi hỏi chủ thể quản lý phải áp
dụng biện pháp giải quyết mọi tình huống phát sinh một cách có hiệu quả nhất. Tuy
nhiên, chủ động và sáng tạo không vượt ra ngoài phạm vi pháp luật quy định.
1.1.3. Vai trò của quản lí nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa
Văn hóa được xem là một yếu tố then chốt trong phát triển kinh tế. Kinh tế
tăng trưởng bền vững phải gắn liền với phát triển văn hóa. Để phát huy vai trò, giá
trị của văn hóa, trong đó quan trọng nhất là di sản văn hóa sao cho phát triển tương
xứng với kinh tế - xã hội thì cần thiết phải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả QLNN
về bảo tồn di sản văn hóa. Chỉ có Nhà nước mới có đủ khả năng quản lý, tạo tiền đề
và điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát huy
giá trị di sản văn hóa. Nhà nước cần thiết phải quản lý đối với di sản văn hóa nhằm

Thứ hai, quản lý nhà nước về việc bảo tồn di sản văn hóa góp phần phát triển
kinh tế
DSVH chính là một bộ phận cấu thành kho tàng DSVH nhân loại và là nguồn
lực để phát triển kinh tế nói chung, ngành du lịch nói riêng. Trong lĩnh vực văn hóa
vật thể, Đảng ta chỉ ra nhiệm vụ “Bảo tồn, tôn tạo các DSVH tiêu biểu, phục vụ
giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy DSVH với
phát triển du lịch”. Vì thế, các địa phương đã chú trọng thực hiện mục tiêu “biến di
sản thành tài sản” góp phần tạo ra những loại hình sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn
hơn, chân thực hơn trên nền tảng là văn hóa truyền thống hấp dẫn du khách trong và
ngoài nước. Cần phải xác định rõ quan điểm phát triển du lịch trên cơ sở khai thác
giá trị di tích là luôn gắn công tác bảo tồn tính đa dạng, gìn giữ các giá trị DSVH
với việc khai thác phục vụ du lịch; hay nói cách khác phát triển du lịch vì mục tiêu
văn hoá; đồng thời, việc bảo vệ tôn tạo di tích phải hướng tới phục vụ ngày càng tốt
hơn các đối tượng đến tham quan nghiên cứu, trong đó có khách du lịch gắn với
mục tiêu: Giáo dục truyền thống lịch sử và lòng tự hào yêu quê hương đất nước;
giới thiệu cho du khách về lịch sử, văn hoá, thiên nhiên.
Các địa phương trên cả nước xác định du lịch là một ngành kinh tế có định
hướng, phát triển lâu dài, khai thác các giá trị tài nguyên du lịch về DSVH gắn với
các công trình kiến trúc đền chùa, miếu mạo là DSVH, lễ hội truyền thống tạo ra
các sản phẩm du lịch hấp dẫn, tạo thêm cơ sở cho hội nhập, phát triển, phục vụ tốt
nhiệm vụ phát triển kinh tế. Khai thác các DSVH đúng tiềm năng góp phần vào việc
phát triển du lịch văn hoá, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân
dân. Từ đó, từng bước làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình phát
triển ngày càng năng động của đất nước. Tất cả những giá trị tốt đẹp của văn hóa

17


thông qua hoạt động du lịch có thể tạo nên sự phát triển tích cực nhất đối với con
người và xã hội. Kinh tế du lịch phát triển đem lại nhiều cơ hội cho việc bảo tồn,

18


Thứ tư, quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa góp phần ổn định môi
trường
Các DSVH hầu hết là các công trình xây dựng từ lâu nên luôn chịu nhiều tác
động từ môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội. Trong quá trình tồn tại, các di
tích luôn phải đối mặt với nhiều nguy cơ, dẫn tới sự xuống cấp, hư hỏng theo thời
gian; cùng với đó là những nguy cơ đe dọa đến sự bền vững của môi trường tại khu
vực di tích. Do đó, một trong một mục đích của QLNN về bảo tồn di sản di tích là
hạn chế những tác động xấu của các di tích trước những tác động xấu của môi
trường thiên nhiên và môi trường xã hội. Bên cạnh đó, hầu hết các DSVH đều nằm
gần các khu dân cư, do quá trình lịch sử cũng như quá trình đô thị hóa mạnh mẽ giai
đoạn gần đây, nên nhiều di tích bị lấn chiếm nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến môi
trường cảnh quan di tích cũng như môi trường sống của người dân. Một trong
những nhiệm vụ QLNN về bảo tồn DSVH là hoạt động chống lấn chiếm, giải phóng
mặt bằng, tái định cư dân sống trong khu vực khoanh vùng bảo vệ di tích và khu
vực bảo vệ cảnh quan. Vì thế, QLNN về bảo tồn DSVH còn góp phần ổn định môi
trường sống cho người dân và tạo cảnh quan môi trường xung quanh cho di tích.
1.2. Chủ thể tham gia quản lý hành chính nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa
Các cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước về di sản văn hóa
được quy định tại Điều 55 Luật Di sản Văn hóa, bao gồm: Chính phủ, Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp.
* Chính phủ
Chính phủ thống nhất quản lý hành chính nhà nước về di sản văn hóa, thi hành
các biện pháp để bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa, bảo trợ phát triển các
nghệ nhân, chống việc truyền bá tư tưởng phản động, đồi trụy, bài trừ hủ tục, mê
tín... Trong quá trình thực hiện quản lý, Chính phủ có một số quyền hạn cụ thể như:
Trình dự án luật, pháp lệnh về di sản văn hóa, quyết định kế hoạch giữ gìn, phát
triển các di sản văn hóa, quyết định chính sách đầu tư, tài trợ, hợp tác với nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status