Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng từ thực tiễn thành phố hội an, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ CÔNG HỒNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
TẠM TRÚ, TẠM VẮNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ CÔNG HỒNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
TẠM TRÚ, TẠM VẮNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. NGUYỄN THẾ TÂM

HÀ NỘI, năm 2019

CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HỘI AN................................................................................................. 52
3.1. Dự báo những yếu tố có tác động, ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà
nước về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An....................................... 52
3.2. Giải pháp nâng cao công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng trên
địa bàn thành phố Hội An........................................................................................................... 54
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT:

An ninh, trật tự

CAP

Công an phường

CSKV:

Cảnh sát khu vực

KV1:
KV2:

Sổ theo dõi kiểm tra cư trú
Sổ danh sách hộ khẩu, nhân khẩu

chóng, kéo theo số lượng người từ các địa phương khác tới học tập, lao động,
kinh doanh, sinh sống, du lịch gây khó khăn rất lớn đến việc quản lý nhân, hộ
khẩu nhất là quản lý tạm trú, tạm vắng. Tại thành phố Hội An hiện nay có 03
trường đại học, cao đẳng; 03 ký túc xá sinh viên, 1.180 cơ sở cho thuê lưu trú,
với số lượng nhân khẩu đến lao động, học tập, hoạt động khoảng 16.855
người. Đặc biệt, những năm gần đây các khu du lịch, dịch vụ phát triển mạnh
tập trung đông người lao động từ nơi khác đến làm việc, các loại đối tượng
hình sự, tệ nạn xã hội đến hoạt động và ẩn náu cùng với người lao động tại
các cơ sở cho thuê lưu trú mà chủ yếu là ở các hộ ngăn phòng cho thuê, nhà
nghỉ diễn ra hết sức phức tạp, trong 05 năm từ năm 2014 đến 2018 có 155 đối
tượng ở địa bàn khác đến gây án bị Công an thành phố Hội An bắt giữ. Hàng
năm thông qua kiểm tra hộ khẩu, kiểm tra việc thực hiện, chấp hành công tác
đăng ký tạm trú, tạm vắng đã phát hiện hàng trăm đối tượng phạm pháp, đối
tượng có quyết định truy nã lẩn trốn. Các vụ án giết người cướp tài sản, trộm
1


cắp, cố ý gây thương tích, lừa đảo xảy ra trong các cơ sở cho thuê lưu trú đặc
biệt là trong nhà cho thuê tập trung đông nhân khẩu tạm trú đang ngày càng
gia tăng.
Từ thực trạng trên đây đã làm cho tình hình ANTT ngày càng trở nên
phức tạp và có ảnh hưởng lớn tới đời sống của cư dân thành phố. Mặc dù các
lực lượng chức năng đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng các biện pháp để
tổ chức, quản lý cư trú và đã thu được những kết quả nhất định, nhưng vẫn
còn có nhiều sơ hở, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu công tác quản lý
nhân hộ khẩu, quản lý tạm trú, tạm vắng. Nhìn chung công tác quản lý cư trú
mang tính hành chính đơn thuần chưa đi sâu vào nắm chắc hoạt động, thái độ
của từng diện nhân hộ khẩu trong từng khu vực. Mặt khác, một bộ phận
không nhỏ cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm
vắng chưa nhận thức đúng tình hình phức tạp nảy sinh tại các hộ ngăn phòng

QLHC về TTXH (PC06) - Công an tỉnh Quảng Nam thì chưa có công trình
khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về quản lý nhà nước
về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tạm
trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An, phân tích, làm rõ những tồn tại,
vướng mắc và nguyên nhân nhằm đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao
hiệu quả công tác quản lý tạm trú, tạm vắng phục vụ công tác quản lý nhà
nước trên địa bàn thành phố Hội An.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài cần giải
quyết các nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, những quy định của pháp
luật về việc tổ chức quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng.

3


+ Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý tạm trú, tạm vắng trên
địa bàn thành phố Hội An; kết quả đạt được trong phòng, chống tội phạm; tìm
ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
+ Dự báo tình hình và đưa ra được các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố
Hội An phục vụ công tác quản lý xã hội trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng công tác quản lý tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố
Hội An, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

Chương 1: Nhận thức chung về quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng
trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước
về tạm trú, tạm vắng của trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

5


Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG
1.1. Nhận thức chung về quản lý cư trú công dân
1.1.1. Cư trú và quản lý cư trú công dân
- Sơ lược về công tác đăng ký, quản lý cư trú của một số nước trên thế
giới và của Việt Nam.
Công tác đăng ký và quản lý cư trú có vị trí hết sức quan trọng và có tác
dụng to lớn đối với hoạt động quản lý xã hội của nhà nước. Thông qua Công
tác quản lý cư trú cơ quan chức năng thu thập thông tin, tài liệu về công dân
và hoạt động cư trú của công dân để phục vụ cho các yêu cầu quản lý xã hội,
hoạch định được các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đáp
ứng việc thực hiện quyền nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân, góp
phần phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi
phạm pháp luật.
Quản lý xã hội thực chất là quản lý con người trong tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Con người luôn luôn là chủ thể của mọi hoạt động xã hội
và là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội, vì vậy quản lý cư trú được hình thành, phát triển từ rất sớm
và nó diễn ra hầu như ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Từ đó cho thấy quản
lý cư trú là một tất yếu khách quan vì trong xã hội có giai cấp, phải có quản lý

mục đích áp đặt sự thống trị giai cấp của nhà nước đó.
Thời kỳ thống trị của thực dân Pháp (từ năm 1858 – 1945): Thực dân
Pháp thực hiện các hình thức quản lý chặt chẽ, tỷ mỉ ở thành phố, thị xã. Quản
lý từng người, từng gia đình, có sổ theo dõi quản lý, đối với những người từ
15 tuổi trở lên đều có danh chỉ bản. Mục đích: nộp tô, thuế, bắt lính,

7


bắt phu… phục vụ cho hoạt động cai trị, bóc lột và khai thác thuộc địa.
Thời kỳ đấu tranh chống Đế quốc Mỹ: Ở miền Nam, dưới chế độ Mỹ,
Ngụy chính sách quản lý cư trú chặt chẽ và có hệ thống, bao gồm vùng nội
thành và vùng giáp ranh với vùng tự do. Thể hiện các quy định về lập hồ sơ,
sổ sách từng người, từng gia đình, có dán ảnh được bảo quản và khai thác một
cách quy mô và hệ thống. Mục đích: Phục vụ bắt lính, quản dân, thực hiện các
chính sách chống cộng; miền Bắc, sau hòa bình lập lại (1954) Nhà nước
nghiên cứu, tổ chức chỉ đạo quản lý cư trú nhằm tăng cường quản lý xã hội,
củng cố chính quyền cách mạng.
Năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ ban hành
Quyết định 54/CP ngày 17-8-1976 điều chỉnh công tác đăng ký, quản lý hộ
khẩu trên phạm vi toàn miền Nam. Quyết Định 167/CP ngày 18/9/1976 hướng
dẫn, bổ sung và chỉ đạo công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu phù hợp với tình
hình miền Nam. Ngày 07-01-1988 Chính phủ ban hành Nghị định 04/CP ban
hành Điều lệ đăng ký, quản lý hộ khẩu. Ngày 10-5-1997 Chính Phủ ban hành
Nghị định 51/CP quy định đăng ký, quản lý hộ khẩu thay thế các quy định
trước đây và được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Ngày 19-82005 Bộ Công an đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định
108/2005/NĐ-CP. Để công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình,
ngày 29/11/2006 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông
qua Luật cư trú, đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất quy định về quyền
tự do cư trú của công dân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

do lý do khác nhau họ đến ở lại một địa phương trong thời gian nhất định.

- Quản lý tạm vắng là quản lý đối với những người thường trú của địa
phương theo quy định của pháp luật khi đi ra khỏi địa phương của mình phải
khai báo tạm vắng.
1.1.2. Đặc điểm của nhân khẩu tạm trú, tạm vắng
Nhân khẩu từ nơi khác đến địa bàn hoạt động và quan hệ với nhân khẩu

9


thường trú có thể vì lý do thăm viếng, quan hệ làm ăn. Hoặc đối tượng phạm
pháp nơi khác đến tạm trú nhằm trốn tránh sự truy bắt, xử lý của Công an,
chính quyền địa phương nơi họ đăng ký hộ khẩu thường trú. Do đó nhân khẩu
tạm trú là những người cần chú ý trong quản lý để phục vụ cho công tác
phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác.
Ngoài ra theo quy luật chung của các băng nhóm tội phạm chuyên
nghiệp thường đi địa bàn khác hoạt động. Vì vậy, đối với những đối tượng
này thường đăng ký hộ khẩu tại phường này có thể sang địa bàn phường khác
hoạt động, từ quận này sang quận khác tạm trú hoạt động hoặc từ thành phố
đi các tỉnh hoạt động.
1.2. Nhận thức về quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng
1.2.1. Khái niệm, đối tượng, vai trò của công tác quản lý tạm trú, tạm vắng

Trong thực tiễn mặc dù công dân đang đăng ký hộ khẩu thường trú ở
một nơi nhất định nhưng không phải lúc nào họ cũng sinh sống và làm việc tại
nơi đã đăng ký thường trú. Với nhiều lý do khác nhau, con người thường phải
đi lại và thậm chí phải sống ở một nơi khác với nơi mình đã đăng ký thường
trú trong một thời gian nhất định, đó chính là thời gian cư trú tạm thời để giải
quyết công việc theo yêu cầu cá nhân. Thời gian cư trú tạm thời được gọi là

sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm
đình chỉ thi hành khi đi khỏi nơi cư trú từ một ngày trở lên có trách nhiệm
khai báo tạm vắng.
Người trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, dự bị động viên khi đi khỏi
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mình cư trú từ ba tháng trở lên
có trách nhiệm khai báo tạm vắng.
- Vai trò của quản lý tạm trú, tạm vắng.
Đối với hoạt động quản lý xã hội của đất nước, công tác quản lý cư trú,
quản lý tạm trú, tạm vắng là một biện pháp quản lý hành chính nhằm xác định
việc cư trú cũng như những thông tin cơ bản nhất về nhân thân của công dân

11


để làm tiền đề phục vụ cho hoạch định chính sách xây dựng và phát triển kinh
tế - xã hội nói chung, đồng thời nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ
công dân, tăng cường quản lý xã hội của Nhà nước.
Công tác quản lý cư trú, quản lý tạm trú, tạm vắng là cơ sở đảm bảo
cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Hiến pháp năm 2013 và
pháp luật đã quy định quyền và nghĩa vụ của công dân. Để thực hiện quyền và
nghĩa vụ của mình mỗi công dân phải chứng minh tư cách công dân của mình
trên cơ sở được chính quyền thừa nhận thông qua việc đăng ký và quản lý hộ
khẩu, đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng để xác định về mặt cư trú. Thông
qua nơi cư trú để công dân thực hiện các quyền: xây dựng chính quyền (quyền
bầu cử, ứng cử...), quyền lao động, tự do kinh doanh, học tập, chăm sóc sức
khỏe, tự do ngôn luận, tự do cư trú, tự do tín ngưỡng... và thực hiện nghĩa vụ
của công dân như nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và
pháp luật...
Đặc biệt là trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia và TTATXH, công tác
quản lý tạm trú, tạm vắng có ý nghĩa quan trọng trong phòng, chống tội phạm.

dụng để hoạt động phạm tội và khi tội phạm xảy ra đã gây khó khăn cho công tác
điều tra vì không nắm được nhân thân, lai lịch của đối tượng.

Phát hiện, thu thập các tài liệu cần thiết về nhân khẩu tạm trú trên địa
bàn, phục vụ cho quản lý về ANTT của ngành Công an.
1.2.2. Những quy định trong các văn bản pháp lý của Nhà nước về
trình tự thủ tục, thẩm quyền trong đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng
1.2.2.1. Trình tự thủ tục trong đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng
- Trình tự thủ tục trong quản lý tạm trú: được quy định tại điều 30 Luật
cư trú và Thông tư 35/2014/TT-BCA ngày 09 tháng 09 năm 2014 của Bộ
Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cư trú và Nghị định
số 31/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật cư trú

13


+ Tại điều 16 Thông tư 35/2014/TT-BCA ngày 09 tháng 9 năm 2014
quy định: [3]
1. Hồ sơ đăng ký tạm trú bao gồm:
a. Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu
b. Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp theo quy định tại Điều 6
Nghị định số 31/2014/NĐ-CP. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở
nhờ thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý cho đăng ký
tạm trú vào chỗ ở của mình và ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân
khẩu, ký, ghi rõ họ, tên; trường hợp người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đã
có ý kiến bằng văn bản đồng ý cho đăng ký tạm trú vào chỗ ở của mình thì
không phải ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu.
Xuất trình chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có xác nhận của Công an
xã, phường, thị trấn nơi người đó thường trú.

tạm trú, kèm theo danh sách và được ghi vào sổ đăng ký tạm trú. Danh sách
bao gồm các thông tin cơ bản của từng cá nhân: Họ và tên; ngày, tháng, năm
sinh; giới tính; nguyên quán; dân tộc; tôn giáo; số chứng minh nhân dân; nghề
nghiệp, nơi làm việc; nơi thường trú; nơi tạm trú, thời hạn tạm trú. Công an
xã, phường, thị trấn có trách nhiệm xác nhận về việc đã đăng ký tạm trú vào
danh sách đăng ký tạm trú của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Trường hợp cá nhân
có nhu cầu cấp sổ tạm trú riêng thì được cấp riêng.
2. Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày trước ngày hết thời hạn tạm trú, cá
nhân, cơ quan, tổ chức đến cơ quan Công an nơi đăng ký tạm trú để làm thủ
tục gia hạn tạm trú.
a. Hồ sơ gia hạn tạm trú, bao gồm:
- Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;
- Sổ tạm trú;
- Đối với trường hợp học sinh, sinh viên, học viên ở tập trung trong ký
túc xá, khu nhà ở của học sinh, sinh viên, học viên; người lao động ở tập

15


trung tại các khu nhà ở của người lao động thì phải có văn bản đề nghị gia hạn
tạm trú kèm theo danh sách.
b. Trong thời hạn 02 (hai) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp
lệ, Công an xã, phường, thị trấn phải gia hạn tạm trú cho công dân.
3. Trường hợp sổ tạm trú hư hỏng thì được đổi, sổ tạm trú bị mất hoặc
hết thời hạn sử dụng thì được cấp lại. Sổ tạm trú được đổi, cấp lại có số, nội
dung như sổ đã được cấp trước đó.
a. Hồ sơ đổi, cấp lại sổ tạm trú bao gồm:
- Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;
- Sổ tạm trú.
b. Trong thời hạn 02 (hai) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp

- Điều 33 Luật cư trú quy định trách nhiệm của Bộ Công an: [18]
“1. Xây dựng và trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm
quyền văn bản quy phạm pháp luật về cư trú.
2. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú.

3. Đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền
bãi bỏ những quy định về quản lý cư trú trái với quy định của Luật này.
4. Ban hành các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về cư trú.
5. Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lý cư trú.

6. Thống kê nhà nước về cư trú, tổng kết nghiên cứu khoa học về quản
lý cư trú, tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú.
7. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
pháp luật về cư trú.
8. Hợp tác quốc tế về quản lý cư trú.
Do đó, Bộ công an là cơ quan chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực
hiện quy định về đăng ký quản lý cư trú, quản lý tạm trú, tạm vắng thống nhất
trong toàn quốc, có trách nhiệm: phối hợp với các ngành có liên quan xây
dựng những chủ trương chính sách có liên quan đến công tác đăng ký quản lý

17


hộ khẩu (quản lý cư trú); Chỉ đạo, hướng dẫn, giải quyết, xử lý các trường
hợp khiếu nại, tố cáo về đăng ký quản lý cư trú của cơ quan, tổ chức và công
dân theo quy định; đề xuất lên Chính phủ đề ra những chủ trương, chính sách
về đăng ký, quản lý cư trú.
Giám Đốc Công an thành phố, tỉnh: chịu trách nhiệm trước Bộ Công an
và Ủy ban nhân dân thành phố, tỉnh trong việc chỉ đạo tổ chức thực hiên các
quy định về đăng ký quản lý cư trú trên địa bàn thành phố, tỉnh.

tạm vắng tại các điểm được phân công. Ký xác nhận vào sổ đăng ký tạm trú,
tạm vắng của điểm trực và phiếu NK8 để cấp cho người tạm vắng. Khi làm
nhiệm vụ tại địa bàn nếu có người khai báo tạm trú, tạm vắng thì phải thực
hiện đăng ký, ghi vào sổ tay để bổ sung vào sổ đăng ký tạm trú, tạm vắng đối
với các trường hợp có nghi vấn.
Thực hiện xác minh các trường hợp đến tạm trú, đi tạm vắng có nghi
vấn và xử lý các vi phạm quy định về tạm trú, tạm vắng.
CAP, xã, thị trấn: chỉ huy phải phân công CSKV, Công an viên luân
phiên trực tại các điểm trực tạm trú, tạm vắng và cán bộ, chiến sỹ trực tại trụ
sở CAP, xã, thị trấn để tiếp nhận thông báo lưu trú, đăng ký tạm trú, khai báo
tạm vắng. Tên của CSKV, Công an viên và lực lượng an ninh cơ sở tham gia
trực tại điểm phải lập danh sách lưu tại CAP, xã, thị trấn để tiện theo dõi,
kiểm tra.
Khoản 4, 5 điều 30 Luật cư trú quy định: [18]
“Trưởng Công an xã, phường, thị trấn trong thời hạn ba ngày làm việc,
kể từ ngày nhận đủ giấy tờ quy định tại Khoản 3 Điều này phải cấp sổ tạm trú
theo mẫu quy định của Bộ Công an.
Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú,
có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và không xác định thời hạn.
Trường hợp người đã đăng ký tạm trú nhưng không sinh sống, làm
việc, lao động, học tập từ sáu tháng trở lên tại địa phương đã đăng ký tạm trú
thì cơ quan đã cấp sổ tạm trú phải xóa tên người đó trong sổ đăng ký tạm trú”.

19


Khoản 4 điều 32 Luật cư trú quy định: “Công an xã, phường, thị trấn có
trách nhiệm hướng dẫn nội dung khai báo, kiểm tra nội dung khai báo, ký xác
nhận vào phần phiếu cấp cho người khai báo tạm vắng”. [18]
Điều 34 Luật cư trú được quy định về trách nhiệm của Ủy ban nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status