Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
-----ooo----

BÙI ĐÌNH QUYẾT

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số

: 60.34.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ VĂN HÁN

Hà Nội - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bùi Đình Quyết


MỤC LỤC

GCNQSDĐ
BĐS
QLNN
CNH
HĐH
GDP
CQ
CNTT
HĐND
UBND
CP
TW

NĐ-CP
KT-XH
Nxb

NGHĨA
: Quản lý đất đai
: Quyền sử dụng đất
: Sử dụng đất
: Giấy chứng nhận
: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
: Bất động sản
: Quản lý nhà nước
: Công nghiệp hóa
: Hiện đại hóa
: Tổng sản phẩm trong nước
: Chính quyền
: Công nghệ thông tin

trị và phát triển xã hội.
Năm 2016, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa có tổng diện tích tự nhiên
15.782,30 ha gồm ba nhóm chính: đất nông nghiệp 9.457,86 ha chiếm 59,93%;
đất phi nông nghiệp 4.692,41 ha chiếm 29,73% và đất chưa sử dụng 1.632,03 ha
chiếm 10,34%. Đất chưa sử dụng chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong khi dân số và nhu cầu
sử dụng đất cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện ngày càng tăng nhanh.
Điều này đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền huyện
cần thực hiện có chất lượng và phù hợp với điều kiện của huyện Nga Sơn.
Trong những năm gần đây, tình hình quản lý và sử dụng đất đai của huyện
Nga Sơn đã đạt được những thành công nhất định. Tuy nhiên trong quá trình tổ
chức quản lý và sử dụng đất còn bộc lộ những tồn tại, nảy sinh một số vấn đề
mới nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nước như: sử dụng đất không đúng mục
đích, giao đất trái thẩm quyền, tranh chấp và lấn chiếm đất đai, quy hoạch sai
nguyên tắc, khiếu nại tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai ngày càng
nhiều...
6


Xuất phát từ thực tế trên, đồng thời nhận thức rõ yêu cầu cấp bách phải tìm
hiểu, đánh giá một cách chi tiết công tác quản lý đất đai ở huyện Nga Sơn, tác
giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa
bàn huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa” để nghiên cứu trong luận văn này.
2.

Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Công tác quản lý đất đai đã thu hút không ít sự quan tâm các nhà quản lý,
các nhà khoa học, đặc biệt các nhà nghiên cứu, các viện các trường đại học …
Đã có rất nhiều công trình khoa học được công bố trên các sách báo, tạp chí và
hội thảo quốc gia, quốc tế, sách chuyên khảo, tham khảo. Một số các công trình
tiêu biểu sau:

Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về đất đai, nội dung, các
công cụ quản lý đất đai.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đất đai và tình hình
sử dụng đất tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong khoảng thời gian từ 2014
đến 2016; từ đó đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại trong quản lý
nhà nước về đất đai của chính quyền huyện Nga Sơn.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà
nước về đất đai tại huyện Nga Sơn và kiến nghị một số vấn đề đối với chính
sách đất đai của Nhà nước.

4.

Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
4.1.

Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện
Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

4.2.

Phạm vi nghiên cứu:

- Về mặt không gian: Trên địa bàn huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Về mặt thời gian: Thực trạng công tác quản lý đất đai của huyện Nga Sơn,
tỉnh Thanh Hóa được nghiên cứu trong giai đoạn năm 2014 - 2016, phần phương
hướng, giải pháp sẽ đề cập giai đoạn năm 2017-2022.
5.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

vật. Phương pháp này được sử dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu nhằm
thu thập, tổng hợp thông tin, tài liệu, số liệu, đề tài, dự án có liên quan. Hai
Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong chương 2 khi tổng hợp, đánh
giá những kết quả đạt được và những hạn chế, nguyên nhân hạn chế và những
vấn đề đặt ra cần giải quyết về vấn đền quản lý đất đai trên địa bàn huyện Nga
Sơn.
- Phương pháp logic - lịch sử: Phương pháp lịch sử dùng để nghiên cứu sự
phát triển của các văn bản quản lý đất đai nói chung và của chính quyền địa
phương nói riêng theo hướng nâng cao chất lượng quản lý đất đai phục vụ phát
triển kinh tế xã hội trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao
10


hơn nữa chất lượng của công tác quản lý đất đai. Phương pháp Logic để xem
xét, nghiên cứu các sự kiện lịch sử của vấn đề quản lý đất đai trên địa bàn huyện
Nga Sơn để từ đó rút ra kinh nghiệm trong quản lý đất đai phù hợp hơn với tình
hình thực tiễn thay đổi.
- Phương pháp kế thừa: Khai thác các nguồn tài liệu, số liệu từ Internet, kế
thừa kết quả, số liệu của các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến
nội dung nghiên cứu của luận văn. Ngoài ra luận văn sử dụng kết hợp phương
pháp trao đổi, khảo sát thực tế để đánh giá cả về mặt chất và lượng của kết quả
nghiên cứu.
7.

Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục viết tắt, danh mục bảng
biểu và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn chia làm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện.
Chương 2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn
huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Như vậy, "đất đai" là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng
(gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật,
diện tích nước, tài nguyên nước ngầm và khóang sản trong lòng đất ), theo chiều
nằm ngang trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, đại hình, thuỷ văn,thảm
thực vật cùng các thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn
12


đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người.
 Quản lý nhà nước về đất đai

*Khái niệm quản lý nhà nước (QLNN)
- Quản lý hiểu theo nghĩa chung nhất là một quá trình, trong đó chủ thể
quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích một cách khoa
học và nghệ thuật vào khách thể quản lý nhằm đạt kết quả tối ưu theo mục tiêu
đã đề ra thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ thích hợp.
Quản lý còn được hiểu là một hệ thống, bao gồm các thành tố: đầu vào, đầu
ra, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, môi trường và mục tiêu. Các yếu tố
trên luôn tác động qua lại lẫn nhau. Một mặt, chúng đặt ra các yêu cầu, những
vấn đề quản lý phải giải quyết. Mặt khác, chúng ảnh hưởng đến hiệu lực và hiệu
quả của quản lý.
Quản lý bao gồm các yếu tố: Chủ thể quản lý nắm quyền lực và sử dụng
quyền lực để tác động vào đối tượng quản lý; Đối tượng quản lý là những cá
nhân, tổ chức thực hiện các quyết định quản lý; Mục tiêu quản lý là cái đích mà
các chủ thể quản lý hướng tới; Quản lý muốn đạt được kết quả tối ưu phải đặt
trong một môi trường cụ thể, với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
- Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước,
được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi
hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự
pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

quản lý trực tiếp và gián tiếp bởi nhiều cơ quan quản lý khác nhau từ trung ương
đến địa phương:
Quản lý nhà nước cấp trung ương đối với đất đai là quản lý quyền lực cao
nhất, điều chỉnh mọi quan hệ trong quản lý đất đai.
Quản lý nhà nước địa phương đối với đất đai là hoạt động quản lý dựa theo
nguyên tắc phục tùng từ quản lý trung ương. Quản lý nhà nước địa phương đối
với đất đai là sự triển khai thực hiện các quy định quản lý từ trung ương sao cho
phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương. Vì vậy, khái niệm quản lý nhà
nước địa phương về đất đai được hiểu như sau:
Quản lý nhà nước địa phương về đất đai là sự tác động có tổ chức và bằng
14


pháp quyền, trên cơ sở quyền lực lên các mối quan hệ về đất đai của chính
quyền địa phương dựa theo thẩm quyền được pháp luật quy định nhằm đảm bảo
đất đai được sử dụng hiệu quả, phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội tại địa phương.
1.1.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai
Nguyên tắc QLNN về đất đai của chính quyền gồm các nguyên tắc chủ yếu
như:
Nguyên tắc thống nhất về quản lý nhà nước: đất đai thuộc sở hữu toàn dân,
do Nhà nước thống nhất quản lý, CQ thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu và
QLNN về đất đai trên địa bàn được quy định bởi pháp luật. QLNN về đất đai
của CQ nhằm thực hiện việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với các tổ
chức, cơ quan, đơn vị kinh tế, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài.
Nhà nước tạo điều kiện cho người sử dụng đất (SDĐ) có thể phát huy tối đa các
quyền đối với đất đai. Vì có như vậy người SDĐ mới yên tâm, chủ động trong
dự liệu cuộc sống để đầu tư sản xuất, cũng như có ý thức trong sử dụng, tránh
hiện tượng khai thác kiệt quệ đất đai.
Nguyên tắc phân quyền gắn liền với các điều kiện bảo đảm hoàn thành

đất đai, tuy nhiên những vấn đề về lịch sử và những yếu kém trong QLĐĐ trước
đây cũng để lại không ít khó khăn cho QLNN về đất đai hiện nay và cần được
xem xét tháo gỡ một cách khoa học. Nguyên tắc QLNN về đất đai trên nhằm
đảm bảo nguyên tắc chủ đạo là:
Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật,
bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ
chức và cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài. Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm
bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền SDĐ
được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật.
1.1.3 Vai trò quản lý nhà nước về đất đai
Cơ chế quản lý kinh tế mói hiện nay ở nước ta là cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước bằng các công cụ kế hoạch, pháp luật, chính sách...Nhà
nước đóng vai trò điều tiết vĩ mô nhằm phát huy những mặt tích cực hạn chế
16


những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường không làm giảm
nhẹ vai trò quản lý của nhà nước mà đòi hỏi tăng cường quản lý. Vấn đề đặt ra là
nhà nước phải có phương thức quản lý để phù hợp với sự vận động của năng lực
sản xuất và quan hệ sản xuất, phương thức quản lý như thế nào để có thể vận
dụng đầy đủ các quy luật khách quan của nền kinh tế như quy luật giá cả, quy
luật canh tranh, quy luật cung cầu.
Vai trò của nhà nước trong quản lý đất đai là một yêu cầu cần thiết để điều
hoà các mối quan hệ giữa chủ thể quản lý là nhà nước và người sử dụng đất. Vai
trò quản lý của nhà nước về đất đai như sau:
- Thông qua hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phân bổ đất đai có
cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho các mục đích kinh tế xã hội của đất nước.
Bằng các công cụ đó, nhà nước sẽ đảm bảo cho việc sử dụng đất đúng mực đích,
đạt hiệu quả cao, giúp cho nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai, giúp cho người sử
dụng đất có biện pháp hữu hiệu để khai thác đất. Nhờ có quy hoạch, kế hoạch sử

1.1.4 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đất đai
Xuất phát từ vai trò vị trí của đất đai đối với sự sống và phát triển của xã
hội loài người nói chung, phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói riêng,
mà đất đai đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước. Đất đai là tài sản quốc gia
thể hiện quyền lãnh thổ của quốc gia đó. Do đặc điểm đất đai có hạn về số
lượng, diện tích trên toàn cầu nói chung và từng vùng, từng quốc gia nói riêng;
nó có vị trí cố định; sự phân bố các loại đất rất đa dạng gắn liền với tính chất của
đất và điều kiện tự nhiên khác nhau…cho nên, đặc biệt mỗi quốc gia đều có sự
quản lý nhà nước đối với đất đai - nguồn tài nguyên quý giá có hạn này, nhằm sử
dụng hợp lý tiết kiệm hiệu quả cao trong việc khai thác mọi tiềm năng lợi thế
của quốc gia mình.
Vấn đề quản lý đất đai cần được xem xét trong mối quan hệ với chủ sở hữu
đất đai và người sử dụng đất đai nhằm đưa đến cho ta một cái nhìn, một quan
điểm rõ ràng xác đáng hơn về quan hệ hai chiều giữa quản lý nhà nước về đất
đai và việc thực hiện chấp hành các nội dung đó của cơ quan quản lý nhà nước
về đất đai và người sử dụng đất đai. Do tầm quan trọng của đất đai đối với sự
tồn tại, phát triển của xã hội và nó còn là sản phẩm của tự nhiên, cũng là sản
18


phẩm của xã hội, và cũng thể hiện ý chí quyền lực của bộ máy nhà nước của
mình, đại diện cho giai cấp mình cho cả quốc gia nói chung; nên là đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do nhà nước làm đại diện sở hữu đứng ra quản lý đất đai trên
phạm vi quốc gia mình. Dù ở bất kỳ chế độ chính trị nào: Như chủ nghĩa tư bản
thì cho là đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng sở hữu tư nhân đây là một phạm vi
giới hạn, không hoàn toàn mà nhà nước vẫn là người quản lý và quyết định cao
nhất nghĩa là nhà nước đại diện cho nhân dân sở hữu và quản lý đất đai. Đối với
chủ nghĩa xã hội như ở Việt Nam, Trung Quốc…thì quy định đất đai là sở hữu
toàn dân do nhà nước đứng ra làm đại diện sở hữu và quản lý; thực hiện giao đất
cho cá nhân, tổ chức, hộ gia đình sử dụng theo đúng quy định của pháp luật.

Đến nay trong thực tế cho thấy bất kể việc gì trong công tác quản lý đất đai
đều phải tuân thủ theo quy định của pháp luật nên Luật Đất đai ở nhiều nước đều
đưa nội dung ban hành văn bản lên đầu tiên. Nội dung này thường bao gồm 2 vấn
đề là ban hành vản bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai (theo
thẩm quyền) và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, cơ
quan quản lý hành chính nhà nước về đất đai phải căn cứ vào thẩm quyền của
mình và tuân thủ theo quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Khi tổ chức thực hiện các vản bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng
đất đai, cơ quan quản lý hành chính nhà nước về đất đai cũng phải căn cứ theo
thẩm quyền của mình mà tổ chức hướng dẫn cho các cấp quản lý bên dưới và các
chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật đất đai hiểu và thực hiện các văn bản đó
đạt hiệu quả cao.
Việc tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật còn phải tuyên truyền
pháp luật sử dụng đất đai cho người sử dụng hiểu và thực hiện đúng. Các cơ quan
quản lý nhà nước ngoài việc căn cứ chức năng, thẩm quyền của mình để ban hành
các văn bản hướng dẫn thực hiện mà còn phải tổ chức tập huấn, tuyên truyền các
quy định của pháp luật cho người dân trên địa bàn hiểu và thực hiện.
Như vậy, đây là nội dung quan trọng được xếp vị trí thứ nhất trong các nội
dung quản lý đất đai. Hơn ai hết người làm công tác quản lý nhà nước về đất đai
phải có ý thức rõ tầm quan trọng của nó. Để làm tốt nội dung này đòi hỏi người
20


cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về đất đai ngoài việc theo chức năng, thẩm
quyền của minh ban hành các văn bản để cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện văn
bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất của các cấp trên còn phải chú ý
đến công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai đến người dân. Chỉ khi nào
người dân-Người chủ sử dụng đất nắm chắc được pháp luật đất đai, tức là khi sử
dụng đất họ biết được họ có những quyền gì và họ phải thực hiện những nghĩa vụ

1.2.3 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định trong Chương IV
từ điều 35 đến điều 51 trong Luật đất đai năm 2013
Quy hoạch đất đai là sự tính toán, phân bổ đất đai một cách cụ thể về số
lượng, chất lượng, vị trí, không gian trên cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho các
mục đích kinh tế, xã hội. Kế hoạch hóa đất đai là sự xác định các tiêu chí về sử
dụng đất đai, các biện pháp và thời hạn thực hiện quy hoạch đất đai. Trong công
tác quản lý đất đai, quy hoạch, kế hoạch hóa là một công cụ hết sức hữu hiệu,
nhất là trong nền kinh tế thị trường. Nó giúp cho việc sử dụng đất đai và các
nguồn tài nguyên thiên nhiên khác một cách tiết kiệm, có hiệu quả, giữ gìn cảnh
quan môi trường. Quy hoạch còn là công cụ phân bổ nguồn lực (kể cả vốn, lao
động, công nghệ) đồng đều ở các vùng miền trong cả nước. Quy hoạch dài hạn
về đất đai được công bố sẽ giúp các nhà đầu tư chủ động hơn trong việc hoạch
định chiến lược sản xuất kinh doanh của mình.
Quy hoạch sử dụng đất bao gồm quy hoạch tổng thể sử dụng đất trên phạm
vi cả nước, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và
quy hoạch sử dụng đất cấp xã. Quy hoạch sử dụng đất cấp trên là căn cứ để lập
quy hoạch sử dụng đất của cấp đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp. Nội dung
của công tác quy hoạch là: Khoanh định các loại đất trong từng địa phương và
trong phạm vi cả nước, điều chỉnh việc khoanh định nói trên cho phù hợp vói
giai doạn phát triển kinh tế xã hội. Vấn đề chú ý khi lập quy hoạch là quy hoạch
phải đảm bảo tính thống khoa học và dự báo, quy hoạch phải được công bố rộng
rãi cho công chúng biết.
Kết quả của công tác quy hoạch phải đảm bảo 3 điều kiện : Kỹ thuật, kinh
tế và pháp lý. Điều kiện về mặt kinh tế được thể hiện ở hiệu quả của việc sử
22


dụng đất, điều kiện về mặt kỹ thuật thể hiện ở các công việc chuyên môn như
điều tra, khảo sát đo đạc, xây dựng bản đồ dịa chính, điều kiện về mặt pháp lý là

dụng đất. Trong giao đất có thu tiền sử dụng đất lại có thể thông qua hình thức
thu theo giá nhà nước quy định hoặc thông qua đấu giá đất (giá sàn không thấp
hơn giá nhà nước quy định). Đối với hình thức thuê đất thì có thể thuê đất trả
tiền thuê đất hàng năm hoặc trả tiền thuê một lần cho toàn bộ thời gian thuê.
Thu hồi đất: Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần đất đã giao sử dụng
trong những trường hợp sau: Tổ chức sử dụng đất bị giải thể, phá sản chuyển đi
nơi khác giảm như cầu sử dụng đất; Cá nhân sử dụng đất bị chết mà không có
người được quyền tiếp tục sử dụng đất; Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất
được giao; Đất không được sử dụng trong 12 tháng liền mà không được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền giao đất cho phép; Người sử dụng đất cố ý không thực
hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước; Đất sử dụng không đúng mục đích đượcc giao;
Đất được giao không đúng thẩm quyền…Trong trường hợp Nhà nước thu hồi
đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an
ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại, còn
các trường hợp khác áp dụng hình thức tự thỏa thuận giữa các đối tượng sử dụng
đất (về bản chất là chuyển nhượng quyền sử dụng đất). Trong một số trường hợp
đặc biệt, khẩn cấp nhà nước có thể áp dụng hình thức trưng dụng đất. Cơ quan
nhà nước nào có thẩm quyền giao loại đất nào thì có thẩm quyền thu hồi loại đất
đó.
1.2.5 Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Thống kê, kiểm kê đất đai
Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, được
quy định trong Chương VII từ điều 95 đến điều 106 trong Luật đất đai năm
2013.
Công tác đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là biện pháp Nhà nước nhằm theo dõi tình hình sử dụng
và biến động thường xuyên của đất đai, đồng thời thiết lập quyền sử dụng đất
24

tài chính trong sử dụng đất và phân phối nguồn tài nguyên đất. Nhiệm vụ của
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status