Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN PHẠM TIẾN PHÚC
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG TRIỀU,
TỈNH QUẢNG NINH CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60. 85. 01. 03 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : TS. BÙI ĐÌNH HOÀ
Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Đông Triều, Chủ tịch, phó Chủ tịch, cán bộ địa chính - đô thị - xây dựng các xã, thị
trấn gồm: Thị trấn Mạo khê, xã Kim Sơn, xã Xuân Sơn, xã Việt Dân, xã Hồng
Phong, đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu và những thông tin cần thiết liên
quan. Cảm ơn anh chị đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi
hoàn thành Luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phạm Tiến Phúc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vniii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu chung của đề tài 2
3. Mục tiêu cụ thể của đề tài 2
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Quản lý nhà nƣớc về đất đai 3
1.1.1. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đai 3
1.1.2. Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai 4
1.2. Kinh nghiệm quản lý sử dụng đất đai ở một số nƣớc trên thế giới 10
1.2.1. Nước Trung Quốc 10
1.2.2. Nước Pháp 11
1.3. Công tác quản lý sử dụng đất đai ở Việt Nam 12
1.3.1. Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật 12

chứng nhận quyền sử dụng đất 31
1.4.6. Công tác thống kê, kiểm kê đất đai 32
1.4.7. Công tác quản lý tài chính 32
1.4.8. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; giải quyết
tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý, sử dụng đất đai 33
CHƢƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1. Nội dung nghiên cứu 34
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 34
2.2.1. Phương pháp luận 34
2.2.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 34
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Đông Triều 37
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 37
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 38
3.1.3. Tình hình tổ chức quản lý, sử dụng đất của huyện Đông Triều 42
3.2. Tình hình quản lý đất đai của Đông Triều 46
3.2.1. Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó 46
3.2.2. Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ hành chính 47
3.2.3. Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính,
bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất 48
3.2.4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 50
3.2.5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất 52
3.2.6. Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Thống kê, kiểm kê đất đai 58
3.2.7. Thống kê, kiểm kê đất đai 64
3.2.8. Công tác quản lý tài chính về đất đai 67
3.2.9. Công tác quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Giấy chứng nhận
GCNQSDĐ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GPMB
Giải phóng mặt bằng
HĐND
Hội đồng nhân dân
NTM
Nông thôn mới
QSDĐ
Quyền sử dụng đất
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
UBND
Ủy ban nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vnvii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU Bảng 3.1: Danh sách cán bộ địa chính huyện và các xã, thị trấn 42
Bảng 3.2: Biến động đất đai giai đoạn 2005 – 2010 44
Bảng 3.3: Tổng hợp các dự án thu hồi đất từ 2008 đến năm 2010 52
Bảng 3.4: Tổng hợp các trường hợp tỉnh Quảng Ninh thu hồi đất do sử dụng đất
vi phạm luật đất đai đến năm 2010. 53
Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP 54
Bảng 3.6: Ý kiến của nông hộ sau khi được giao đất ở 5 xã được điều tra 55
Bảng 3.7: Tổng hợp kết quả giao đất nông nhiệp cho các tổ chức 56

quan hệ khai thác chinh phục tự nhiên chuyển thành các quan hệ kinh tế xã hội về
sở hữu và sử dụng một loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng. Để phù hợp với quá
trình đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề đất đai và đã
ban hành nhiều văn bản pháp luật để quản lý đất đai, điều chỉnh các mối quan hệ đất
đai theo kịp với tình hình thực tế. Bên cạnh đó Đảng và Nhà nước luôn khuyến
khích động viên các đối tượng sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm đạt hiệu quả
cao theo pháp luật. Tuy vậy, đất đai là sản phẩm của tự nhiên và nó tham gia vào tất
cả các hoạt động kinh tế xã hội do đó các quan hệ đất đai luôn chứa đựng trong nó
những vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có sự giải quyết kịp thời đảm bảo được các lợi
ích của người sử dụng đất. Thêm vào đó, ý thức pháp luật và hiểu biết pháp luật đất
đai của các đối tượng sử dụng cũng hạn chế dẫn đến những vi phạm pháp luật trong
việc sử dụng đất gây nhiều hậu quả xấu về mặt kinh tế xã hội. Chính vì vậy, hệ
thống pháp luật đất đai đã liên tục được bổ sung và sửa đổi nhằm giải quyết những
mâu thuẫn đó. Tuy nhiên, những bổ sung và sửa đổi này chỉ đáp ứng phần nào
những mâu thuẫn nảy sinh đó và thực tế việc sử dụng và quản lý thị trường đất đai
vẫn còn nhiều bất cập. Tiến độ thực hiện kiểm kê đất đai chậm so với kế hoạch đề
ra. Công tác cấp mới và đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), lập
hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính theo Nghị định số 88/2009/NĐ
- CP chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Việc
thực hiện các quyết định giao đất, cho thuê đất của cấp có thẩm quyền còn thiếu
triệt để, không đúng trình tự thủ tục dẫn đến tình trạng quyết định đó có hiệu lực
trước Luật Đất đai 2003 nhưng đến nay vẫn chưa được triển khai thực hiện. Do sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn2
giám sát thiếu chặt chẽ, các tổ chức được giao đất nhưng chậm triển khai theo tiến
độ dự án quy định, còn để đất trống không sử dụng gây lãng phí trong khi người dân
không có đất để sản xuất gây bức xúc trong dân.
Đông Triều là huyện cửa ngõ phía Tây của tỉnh Quảng Ninh, là một vùng

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Quản lý nhà nƣớc về đất đai
1.1.1. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đai
Khi tham gia vào nền kinh tế thị trường, đất đai có sự thay đổi căn bản về
bản chất kinh tế xã hội: Từ chỗ là tư liệu sản xuất, điều kiện sống chuyển sang là tư
liệu sản xuất chứa đựng yếu tố sản xuất hàng hoá, phương diện kinh tế của đất trở
thành yếu tố chủ đạo quy định sự vận động của đất đai theo hướng ngày càng nâng
cao hiệu quả. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, giá đất cũng như lợi nhuận khi đầu
tư vào đất tăng cao đã khiến cho tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai xảy ra, làm
ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Trong sản xuất nông nghiệp,
khi tham gia vào cơ chế thị trường đất đai cũng chứa đựng nguy cơ quay về sản
xuất tự cấp tự túc nếu người sử dụng đất không đủ năng lực, nếu thị trường bất lợi
kéo dài. Hơn nữa, đất đai cũng là một nguồn vốn tham gia vào sản xuất hàng hoá,
việc sử dụng đất lại rất cần có vốn cho nên hình thành thị trường đất đai là một động
lực quan trọng để góp phần hoàn thiện hệ thống thị trường quốc gia. Chính vì vậy
việc quản lý nhà nước về đất đai là hết sức cần thiết, nhằm phát huy những ưu thế
của cơ chế thị trường và hạn chế những khuyết tật của thị trường khi sử dụng đất
đai, ngoài ra cũng làm tăng tính pháp lý của đất đai. (Nguyễn Khắc Thái Sơn,
2007)[13]
Tóm lại, việc khai thác những ưu điểm và hạn chế, những khuyết tật của cơ
chế thị trường đặc biệt là các quan hệ đất đai vận động theo cơ chế thị trường thì
không thể thiếu được sự quản lý của Nhà nước với tư cách là chủ thể của nền kinh
tế quốc dân. Như vậy Nhà nước thực hiện chức năng quản lý là một đòi hỏi khách
quan, là nhu cầu tất yếu trong việc sử dụng đất đai. Nhà nước không chỉ quản lý
bằng công cụ pháp luật, các công cụ tài chính mà Nhà nước còn kích thích, khuyến
khích đối tượng sử dụng đất hiệu quả bằng biện pháp kinh tế. Biện pháp kinh tế tác
động trực tiếp đến lợi ích của người sử dụng đất và đây là một biện pháp hữu hiệu
trong cơ chế thị trường, nó làm cho các đối tượng sử dụng đất có hiệu quả hơn, làm

hướng dẫn thực hiện các quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành,
giải thích các chủ trương chính sách và đề ra các biện pháp thi hành các chủ trương
đó. (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)[13]
1.1.2.2. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn5
hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đ ất
Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất là công việc đầu tiên của công tác
quản lý đất đai. Thông qua công tác này Nhà nước mới nắm chắc được toàn bộ vốn
đất đai cả về số lượng lẫn chất lượng trong lãnh thổ quốc gia. Mặt khác Nhà nước
mới có thể đánh giá được khả năng đất đai ở từng vùng, từng địa phương để có mục
đích sử dụng đất phù hợp. Đối với đất có tiềm năng lớn cho sản xuất nông nghiệp,
thông qua công tác này Nhà nước sẽ quy hoạch đất để sử dụng vào mục đích nông
nghiệp. Cũng nhờ công tác này mà Nhà nước mới có biện pháp và phương hướng
sử dụng các loại đất có khoa học và hệ thống.
Để nắm được diện tích đất đai, Nhà nước phải tiến hành khảo sát đo đạc.
Công tác này thuộc về Cục đo đạc trong bộ máy quản lý. Việc đo đạc được tiến
hành trên phạm vi cả nước cũng như từng vùng, địa phương. Từ đó cho phép đánh
giá về mặt kinh tế của đất đai Điều 14 Luật Đất đai quy định: Chính phủ chỉ đạo
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều tra, khảo sát đo đạc đánh giá và
phân hạng đất. Uỷ ban nhân dân (UBND) chỉ đạo cơ quan quản lý theo dõi sự biến
động về diện tích, loại đất, người sử dụng đất, kịp thời chỉnh lý các tài liệu về đất
đai cho phù hợp với hiện trạng sử dụng đất ở địa phương mình.
Việc đánh giá và phân hạng đất là một công việc rất phức tạp. Đánh giá đất
đai đòi hỏi phải phân hạng đất. Đối với phân hạng đất, Nhà nước phải căn cứ vào 5
yếu tố đó là: Điều kiện địa hình, khí hậu, chất đất, điều kiện tưới tiêu, vị trí của khu
đất so với đường giao thông hoặc nơi tiêu thụ sản phẩm.
Để quy định giá đất, Chính phủ đã ban hành Nghị định 87/CP. Giá đất được

ngành, các mục đích sử dụng, các tổ chức và cá nhân sử dụng đất nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế - xã hội và tạo điều kiện bảo vệ đất đai môi trường sinh thái. Thông
qua quy hoạch, căn cứ vào những thuộc tính tự nhiên của đất như vị trí, diện tích mà
các loại đất được sử dụng theo từng mục đích nhất định và hợp lý. Các thành tựu
khoa học công nghệ không ngừng được áp dụng để nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất. Hiệu quả sử dụng đất được thể hiện ở hiệu quả kinh tế xã hội và môi
trường mà quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để đạt được hiệu quả đó.
Kết quả của công tác quy hoạch phải đảm bảo 3 điều kiện: Kỹ thuật, kinh tế
và pháp lý.
Công tác quy hoạch sử dụng đất đã được khẳng định trong Hiến pháp 1992,
theo đó Nhà nước thông nhất quản lý đất đai theo quy hoạch. Luật Đất đai năm
1993 cũng quy định: Căn cứ để Nhà nước giao đất, cho thuê đất là quy hoạch sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn7
dụng đất.
Nội dung của công tác quy hoạch là: Khoanh định các loại đất trong từng địa
phương và trong phạm vi cả nước, điều chỉnh việc khoanh định nói trên cho phù
hợp với giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.
Vấn đề chú ý khi lập quy hoạch là quy hoạch phải đảm bảo tính thống nhất
khoa học, quy hoạch phải được công bố rộng rãi cho công chúng biết.
Kế hoạch sử dụng đất là chỉ tiêu cụ thể hoá quy hoạch. Công tác kế hoạch
tập trung những nguồn lực hạn hẹp vào giải quyết có hiệu quả những vấn đề trọng
tâm của kế hoạch trong từng thời kỳ.
Nội dung của kế hoạch sử dụng đất là: Khoanh định việc sử dụng từng loại
đất trong từng thời kì kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất cho phù hợp với
quy hoạch.
Vấn đề cần lưu ý khi lập kế hoạch sử dụng đất là:
+ Đẩy mạnh thực hiện kế hoạch theo chương trình của dự án

trong những trường hợp sau: Tổ chức sử dụng đất bị giải thể phá sản, chuyển đi nơi
khác, giảm nhu cầu sử dụng đất, cá nhân người sử dụng đất đó chết mà không có
người được quyền tiếp tục sử dụng đất đó; người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất
được giao; đất không sử dụng trong 12 tháng liền mà không được cơ quan có thẩm
quyền cho phép; người sử dụng đất không thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước;
đất giao không đúng thẩm quyền.
Trong trường hợp thu hồi đất để phục vụ mục đích công cộng, lợi ích quốc gia,
xây dựng các cơ sở hạ tầng nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước có
chính sách đảm bảo cuộc sống cho những người có đất bị thu hồi, có các chính sách bồi
thường hỗ trợ theo các quy định của Chính phủ. (Nguyễn Khắc Thái Sơn,2007)[13]
1.1.2.5. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; thống kê, kiểm kê đất đai
Đăng ký quyền sử dụng đất là một thủ tục hành chính do cơ quan Nhà nước
thực hiện đối với các đối tượng sử dụng đất là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Vì đất
đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt, có giá trị cao bởi vậy việc sử dụng đất của bất
kỳ đối tượng nào cũng phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc
đăng ký đất được thực hiện đối với mọi loại đất trên phạm vi cả nước trong những
trường hợp sau: Khi nhà nước giao quyền sử dụng đất; khi chuyển đổi mục đích sử
dụng đất; khi thực hiện chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế quyền sử
dụng đất; khi thực hiện các hợp đồng về sử dụng đất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn9
Tóm lại, đăng ký quyền sử dung đất có hai hình thức đó là đăng ký ban đầu
và đăng ký biến động. Thông qua đăng ký quyền sử dung đất, xác lập mối quan hệ
pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm cơ sở để quản lý đất đai
một cách chặt chẽ theo pháp luật và cũng là để bảo vệ quyền lợi của người sử dụng.
Đăng ký quyền sử dung đất thực chất là quá trình thiết lập hồ sơ địa chính và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những người có đủ điều kiện từ đó tạo ra cơ

- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai của người sử dụng đất và
của tổ chức, cá nhân khác.
Về xử lý các sai phạm trong việc quản lý sử dụng đất tùy theo tính chất
nghiêm trọng, mức độ tác hại và hậu quả của các trường hợp sai phạm mà các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện phương sách cho phù hợp. (Nguyễn
Khắc Thái Sơn,2007)[13]
1.1.2.7.Giải quyết các tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi
phạm trong quản lý và sử dụng đất đai
Quá trình sử dụng đất không thể không xảy ra các tranh chấp, khiếu nại, kiện
tụng giữa các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân với nhau. Việc này xảy ra khi các đối
tượng sử dụng đất bị xâm phạm đến lợi ích của mình. Chính vì vậy, vai trò của Nhà
nước là rất lớn trong việc giải quyết những vấn đề này. Nhà nước khuyến khích việc
hòa giải các tranh chấp đất đai trong nhân dân, đảm bảo trật tự công bằng xã hội đôi
bên cùng có lợi. Công tác giải quyết các tranh chấp được quy định theo chức năng
thẩm quyền của cơ quan quản lý từ UBND quận, huyện đến UBND tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương. (Nguyễn Khắc Thái Sơn,2007)[13]
1.2. Kinh nghiệm quản lý sử dụng đất đai ở một số nƣớc trên thế giới
1.2.1. Nước Trung Quốc
Ở Trung Quốc, đất đai thuộc sở hữu nhà nước (đối với đất đô thị), sở hữu tập
thể (đối với đất thuộc khu vực nông thôn). Hiến pháp 1982 Trung Quốc, không tổ
chức, cá nhân nào được phép chiếm đoạt, mua, bán, cho thuê hay chuyển nhượng
đất đai dưới bất kỳ hình thức nào. Năm 1988, Quốc hội Trung Quốc đã sửa đổi Hiến
pháp, trong đó bổ sung quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) theo quy
định của pháp luật và hủy bỏ quy định cấm cho thuê đất. Cùng với việc sửa đổi
Hiến pháp, Hội đồng nhà nước Trung Quốc đã ban hành Quy chế tạm thời về việc
giao và chuyển nhượng QSDĐ của Nhà nước tại đô thị, trong đó quy định rõ rằng
QSDĐ có thể chuyển nhượng bằng hợp đồng, đấu thầu và đấu giá.
Vì lợi ích công cộng, Nhà nước có thể tiến hành trưng dụng theo pháp luật đối
với đất đai thuộc sở hữu tập thể và thực hiện chế độ quản chế mục đích sử dụng đất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Thực hiện chính sách miễn giảm thuế, được hưởng quy chế ưu tiên đối với
một số loại đất chuyên dùng để gieo hạt, đất để trồng hoặc trồng lại rừng, đất mới
dành cho ươm cây trồng.
Khuyến khích việc tích tụ đất nông nghiệp bằng cách tạo điều kiện thuận lợi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn12
để các chủ đất có nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau có thể đàm phán với nhau
nhằm tiến hành chuyển đổi ruộng đất, tạo điều kiện tập trung các thửa đất nhỏ thành
các thửa đất lớn.
Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người mua,
muốn bán đất phải xin phép cơ quan giám sát việc mua bán. Việc bán đất nông
nghiệp phải nộp thuế đất và thuế trước bạ. Đất này được ưu tiên bán cho những
người láng giềng để tạo ra các thửa đất có diện tích lớn hơn.
Ở Pháp có cơ quan giám sát việc mua bán đất để kiểm soát hoạt động mua
bán, chuyển nhượng đất đai. Cơ quan giám sát đồng thời làm nhiệm vụ môi giới và
trực tiếp tham gia quá trình mua bán đất. Văn tự chuyển đổi chủ sở hữu đất đai có
Toà án Hành chính xác nhận trước và sau khi chuyển đổi.
Đối với đất đô thị mới, khi chia cho người dân thì phải nộp 30% chi phí
cho các công trình xây dựng hạ tầng, phần còn lại là 70% do kinh phí địa phương
chi trả.
Ngày nay, đất đai ở Pháp ngày càng có nhiều luật chi phối theo các quy định
của các cơ quan hữu quan như quản lý đất đai, môi trường, quản lý đô thị, quy
hoạch vùng lãnh thổ và đầu tư phát triển. (Nguyễn Kim Sơn,2000)[14]
1.3. Công tác quản lý sử dụng đất đai ở Việt Nam
1.3.1. Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
- Ngày 03/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 41 để kết thúc hoạt
động của cơ quan quản lý đất đai thuộc Thực dân Pháp và mở đầu cho hoạt động
quản lý đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tới nay.

thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyển sử dụng
đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
- Nghị định số 19/2000/NĐ-CP ngày 08/6/2000 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất và Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất
- Nghị Định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05/11/2001 của Chính phủ về việc
người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam
- Ngày 29/06/2001 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của
Luật Đất đai năm 1993.
- Nghị định số 68/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 quy định về quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất.
- Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 sửa đổi bổ sung một số điều
của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/03/1999 về thủ tục chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn14
bằng giá trị quyền sử dụng đất.
- Ngày 26/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Đất
đai năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004.
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn
thi hành Luật Đất đai năm 2003.
- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền

đai được kịp thời, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và tình hình sử
dụng đất ở Việt Nam. Luật Đất đai 2003 đã quy định chi tiết, đầy đủ đảm bảo quản
lý thống nhất toàn bộ quỹ đất trong phạm vi cả nước theo quy hoạch và pháp luật,
các văn bản dưới luật được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình quản lý sử
dụng đất, đảm bảo quyền và lợi ích cho Nhà nước, người dân và doanh nghiệp, nhất
là trong lĩnh vực bồi thường giải phòng mặt bằng. Đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước trong tình hình mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
1.3.2. Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ hành chính
Ranh giới hành chính được xác định bằng các yếu tố địa vật cố định hoặc các
điểm mốc giới và được khoanh vẽ trên bản đồ.
Thực hiện Chỉ thị số 364/CP ngày 6/11/1991, các địa phương trên cả nước đã
tiến hành đo đạc, xác định địa giới hành chính trên cơ sở vùng lãnh thổ đã được xác
định theo Chỉ thị số 299/CT-TTg ngày 10/11/1980.
Tính đến 31/12/2008 toàn quốc có 63 Tỉnh, thành phố với tổng diện tích tự
nhiên là 33.121.159 ha.
Hồ sơ địa giới hành chính là hồ sơ phục vụ công tác quản lý Nhà nước đối
với địa giới hành chính.
Hồ sơ địa giới hành chính được xây dựng trên cơ sở Chỉ thị 364/CP đã được
xây dựng hoàn thiện tới từng xã, phường, thị trấn. Cơ bản địa giới hành chính đã
được xác định cụ thể, rõ ràng và được quản lý theo đúng quy định của Nhà nước.
Bản đồ hành chính thể hiện ranh giới các đơn vị hành chính kèm theo địa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn16
danh và một số yếu tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội. Hiện nay toàn quốc cơ bản đã
xây dựng xong hệ thống bản đồ hành chính của 63 tỉnh, thành phố.
1.3.3. Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính,
bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status