VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG LÂM
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG LÂM
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN THUẬN
HÀ NỘI, năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
động báo chí ..........................................................................................................12
1.2.1. Quản lý nhà nước .....................................................................................12
1.2.2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí ...........................................13
1.2.3. Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí ..............................16
1.2.4. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí ............................17
1.2.5. Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí .........................18
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí ..........22
1.3.1. Yếu tố khách quan ....................................................................................22
1.3.2. Yếu tố chủ quan ........................................................................................34
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
BÁO CHÍ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ....................................................39
2.1. Khái quát về hoạt động báo chí tại thành phố Hồ Chí Minh .........................39
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí tại thành phố Hồ Chí
Minh ......................................................................................................................41
2.2.1. Ưu điểm ....................................................................................................42
2.2.2. Hạn chế.....................................................................................................48
2.2.3. Nguyên nhân .............................................................................................53
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH........................................................................................................................63
3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí .....63
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động báo chí ....66
3.2.1. Nhóm giải pháp chung .............................................................................66
3.2.2. Nhóm giải pháp đối với thành phố Hồ Chí Minh .....................................74
KẾT LUẬN ..............................................................................................................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
cuộc cách mạng công nghệ 4.0 dẫn đến sự ra đời ngày càng nhiều ấn phẩm điện tử,
báo mạng; không ít trong số đó đang ngày càng chạy theo xu hướng tất cả vì lợi
nhuận, đăng tải nhiều bài viết, sản phẩm mang tính câu view, câu like, đưa thông tin
bất chấp tính chính xác chỉ nhằm thu hút, thỏa mãn tính hiếu kỳ của một bộ phận
độc giả [13, tr.4].
Việc quy hoạch, sắp xếp hệ thống báo chí vẫn còn những bất cập, dẫn đến
trùng lắp về nội dung, phân tán, lãng phí về nhân lực, tài chính, nhất là trong lĩnh
vực truyền hình [11, tr.5].
Vai trò của nhiều cơ quan chủ quản chưa phát huy đúng mức, thiếu quan
tâm, buông lỏng quản lý cơ quan báo chí thuộc quyền. Việc kiểm tra, giám sát, xử
phạt vi phạm chưa được thực hiện tốt, các quy định pháp luật, chế tài xử lý các vi
phạm trong lĩnh vực báo chí ở một số nội dung còn khá nhẹ, chưa đảm bảo tính răn
đe, tính cưỡng chế chống tái phạm. Việc “dựa nhờ” báo chí để nổi tiếng, xây dựng
tiếng tăm hoặc nhằm triệt hạ, chơi xấu đối thủ cạnh tranh của một số cá nhân, cơ
quan, đơn vị ngày một phổ biến. Những hạn chế, khuyết điểm này đã làm giảm tính
chính trị, tính văn hóa, tính giáo dục, tính chiến đấu của báo chí cách mạng trong
giai đoạn hiện nay .
Chính vì vậy, tăng cường công tác quản lý báo chí hiện nay là vấn đề cấp
thiết, bảo đảm cho nền báo chí cách mạng Việt Nam phát triển lành mạnh, thực hiện
tốt chức năng, phát huy hết tiềm năng, thế mạnh nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Vì lý do trên, học viên mạnh dạn chọn nội dung “Quản lý nhà nước đối với
hoạt động báo chí từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Một số công trình nghiên cứu chính thức về quản lý nhà nước đối với lĩnh
vực báo chí, có thể kể đến như sau:
của tất cả nhân dân” nhưng cũng cần quán triệt “chống lợi dụng việc tôn trọng tự do
báo chí, tự do ngôn luận làm trái pháp luật”. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số cơ
3
sở pháp lý và nâng cao trách nhiệm đối với hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về
báo chí nhằm hoạt động hiệu quả hơn [23].
- Quản lý nhà nước về báo chí, báo chí điện tử ở một số nước và những gợi
mở cho Việt Nam trong công tác quản lý nhà nước về báo chí điện tử - Tạp chí
Công thương ngày 12/12/2018 của tác giả Nguyễn Minh Thắng. Bài báo tập trung
giới thiệu về cách thức quản lý nhà nước về báo chí, báo chí điện tử ở ba nước
Trung Quốc, Singapore, Anh Quốc, những nước có nền báo chí và phương tiện
truyền thông đại chúng phát triển mạnh, các quy định của pháp luật về báo chí và
internet tại đây khá cụ thể, rõ ràng, có định hướng. Thông qua đó, tác giả đề xuất
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về định hướng quản lý nhà nước về báo chí
điện tử và tất cả các loại hình truyền thông khác trên internet, mạng xã hội như:
Zalo, Facebook, Twitter, YouTube… đồng thời củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ,
công chức được giao trách nhiệm quản lý nhà nước về báo chí điện tử và hoàn thiện
hệ thống văn bản pháp luật về báo chí điện tử [39].
- Quản lý Nhà nước về báo chí trong thời kỳ đổi mới – Tạp chí Tổ chức Nhà
nước ngày 22/6/2016 của tác giả Nguyễn Thị Mai Anh. Bài viết tập trung phân tích
nội dung các quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển của báo chí
nước nhà trong thời gian gần 30 năm đổi mới cùng với công cuộc cải cách kinh tế
của đất nước. Qua đó tác giả đánh giá những thành tựu đạt được và một số hạn chế
của báo chí trong 30 năm thực hiện chính sách, chủ trương đổi mới và 15 năm thực
thi luật báo chí từ đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
báo chí nói chung trong thời gian sắp tới [1].
Tất cả những bài viết này nhìn chung chỉ nghiên cứu ở góc độ tìm hiểu, phân
tích, làm rõ nội hàm công tác quản lý nhà nước đối với báo chí nói chung hoặc tập
đề tài đã thực hiện trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung làm rõ vai trò của báo chí cách mạng nói chung và báo chí
đối với sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng thông qua đó phản ánh
thực trạng hoạt động báo chí trên địa bàn thành phố hiện nay; mặt mạnh và hạn chế;
trên cơ sở đó phân tích làm rõ các quy định pháp luật hiện hành về quản lý hoạt
động báo chí trong bối cảnh nền kinh tế thị trường; tổng kết và làm rõ những điểm
nổi bật và bất cập trong các quy định hiện hành từ đó đề xuất giải pháp bổ sung và
hoàn thiện các quy định pháp luật
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích đặt ra như trên, nhiệm vụ của luận văn là:
7
- Làm rõ sự cần thiết quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí,
vai trò của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí.
- Nêu thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt
Nam hiện nay; những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những mặt còn tồn tại
và những vấn đề đang đặt ra đối với báo chí hiện nay.
- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị, các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành của nhà nước
liên quan đến hoạt động báo chí cụ thể là hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, sản
phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí; cung cấp thông tin và phản
hồi thông tin cho báo chí; cải chính thông tin trên báo chí; xuất bản, in, phát hành
báo in; truyền dẫn báo điện tử và truyền dẫn, phát sóng báo nói, báo hình.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn dự kiến mang lại ý nghĩa thực tiễn như sau:
- Giúp cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động báo chí nói chung và tại tp
HCM nhìn nhận, đánh giá lại các chủ trương, chính sách, quy định hiện hành đối
với hoạt động báo chí từ đó điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình
thực tiễn của đất nước và thành phố.
- Cơ quan quản lý nhà nước có thể xây dựng kế hoạch thực hiện hiệu quả
công tác quy hoạch báo chí tại thành phố Hồ Chí Minh và trên cả nước năm 2020
hướng đến việc thực hiện thành công mục tiêu xây dựng một nền báo chí cách mạng
“phát triển, chuyên nghiệp, hiện đại và nhân văn”.
7. Kết cấu của luận văn
Bố cục của luận văn gồm phần mở đầu, 03 chương và kết luận:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quản lý nhà nước đối với
hoạt động báo chí
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí tại thành
phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động
báo chí từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
9
Trong quá trình thực hiện luận án chắc chắn không thể tránh khỏi sai sót. Tác
giả rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè, đồng nghiệp.
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
Thứ tư công tác xuất bản, in, phát hành báo in. Báo in được hiểu là loại hình
báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành
đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in [33, tr.1].
Thứ năm hoạt động báo chí còn bao gồm công tác truyền dẫn báo điện tử và
truyền dẫn, phát sóng báo nói, báo hình.
Ba sản phẩm báo điện tử, báo nói và báo hình được hiểu là:
Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn,
phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau [33, tr.1].
Báo hình là loại hình báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói,
âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng
công nghệ khác nhau [33, tr.1].
Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được
truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử [33, tr.1].
1.2. Khái niệm, chủ thể, nội dung và vai trò của quản lý nhà nước đối
với hoạt động báo chí
1.2.1. Quản lý nhà nước
Là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước do tất cả
các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành, sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành
vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội [43, tr.41].
Nhà nước được xem là tổ chức do nhân dân lập nên, thay mặt nhân dân thực
thi ý chí và quyền lực của nhân dân trao cho, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản
lý toàn bộ các mặt của đời sống xã hội. Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở
Việt Nam, là công cụ thể hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, mang bản chất là
nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Trong xã hội, ngoài Nhà nước còn có rất nhiều chủ thể tham gia vào quản lý
xã hội như: Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và các tổ chức
khác... Tuy nhiên, không có một cơ quan, tổ chức nào đủ sức mạnh và tầm vóc có
thể thay thế vai trò của Nhà nước trong quản lý toàn bộ hoạt động xã hội. Vì Nhà
nước được xem là người đại diện chính thức cho mọi giai cấp và tầng lớp trong xã
vi lấn quyền, vượt quyền, lạm quyền gây ảnh hưởng tiêu cực. Trong quá trình hoạt
động, các cơ quan quản lý nhà nước phải đảm bảo thực hiện đúng các mối quan hệ
13
giữa cơ quan quản lý cấp trên với cấp dưới; cơ quan quản lý ở trung ương với cơ
quan quản lý ở địa phương theo quy định của pháp luật.
Tính mệnh lệnh đơn phương xuất phát từ đặc trưng quan hệ giữa chủ thể
quản lý với các cơ quan báo chí – là đối tượng quản lý thể hiện rõ tính chất "quyền
lực - phục tùng". Đặc trưng này thể hiện sự không bình đẳng giữa chủ thể và đối
tượng quản lý được thể hiện ở:
Chủ thể quản lý đơn phương ban hành các mệnh lệnh cá biệt hay đặt ra các
quy định bắt buộc đối với đối tượng quản lý, buộc đối tượng quản lý phải phục
tùng, đồng thời kiểm tra việc thực hiện các mệnh lệnh, quy định ấy.
Căn cứ vào quy định của pháp luật để đáp ứng, cấp phép, cho phép, phê
duyệt hoặc bác bỏ các yêu cầu, kiến nghị của đối tượng quản lý. Trong trường hợp
này quyền quyết định cao nhất và cuối cùng vẫn thuộc về ý chí của cá nhân lãnh
đạo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, nếu có sự trùng hợp về ý chí của
hai bên thì đó cũng không phải là sự thỏa thuận ý chí.
- Có mục tiêu chiến lược, có chương trình, kế hoạch để thực hiện mục
tiêu
Mục tiêu là cái đích mà chủ thể cần phải đạt được ở một thời điểm nhất định,
mục tiêu là chức năng cơ bản đầu tiên, là căn cứ để chủ thể đưa ra các hình thức và
phương pháp quản lý thích hợp. Mục tiêu quan trọng nhất của quản lý nhà nước về
hoạt động báo chí là bảo đảm các cơ quan báo chí luôn giữ vững tôn chỉ, mục đích
hoạt động, là “phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan
ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn
đàn của Nhân dân”[33, tr.1].
Để thực hiện hiệu quả mục tiêu đề ra, cơ quan quản lý nhà nước cần vạch ra
Tính liên tục trong quản lý nhà nước về hoạt động báo chí xuất phát từ đặc
thù công việc của hoạt động báo chí là tiến hành thường xuyên, liên tục, luôn cập
nhật tại mọi thời điểm của cơ quan báo chí. Do đó quy trình quản lý của chủ thể
quản lý cũng phải luôn theo quy trình khép kín, không có sự cắt khúc, gián đoạn
nào, đảm bảo theo sát mọi hoạt động được tiến hành cho đến khi đạt được mục tiêu
hoặc đáp ứng được các yêu cầu đề ra.
15
Tính tương đối ổn định trong quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí thể
hiện ở chỗ phải ổn định về tổ chức bộ máy và nhân sự tham gia công tác quản lý, về
việc ban hành các chủ trương, chính sách… không nên thay đổi liên tục, dễ gây nên
xáo trộn, rối loạn trong quản lý. Vì vậy, chủ thể quản lý hành chính nhà nước phải
luôn bình tĩnh, sáng suốt, thận trọng khi đưa ra các quyết định có liên quan đến tính
ổn định về tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan báo chí thuộc phạm vi quản
lý của mình.
- Đảm bảo tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp
Tính chuyên môn hóa trong quản lý nhà nước về hoạt động báo chí xuất phát
từ phân công lao động trong hoạt động quản lý. Nó đòi hỏi cơ quan quản lý nhà
nước phải nhất quán quan điểm trong công tác tổ chức và phân công công công
việc, bố trí cán bộ phụ trách quản lý đó là: mỗi một đơn vị, bộ phận trong cơ quan
quản lý phải phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn không trùng lắp hay chồng chéo với
bộ phận khác. Mỗi cán bộ công chức được giao thẩm quyền cần phải có chuyên
môn sâu, được đào tạo bài bản, phù hợp nghiệp vụ, am hiểu nhiều nội dung liên
quan đến ngành nghề, lĩnh vực trong hoạt động báo chí, có kiến thức thực tiễn, kỹ
năng xử lý tình huống về lĩnh vực được phân công phụ trách. Có như vậy, cơ quan
quản lý và đội ngũ cán bộ công chức mới có thể thực hiện tốt trách nhiệm quản lý,
tránh trường hợp bị tụt hậu, không theo kịp tốc độ phát triển của hoạt động báo chí
và các biến đổi của tình hình xã hội, đáp ứng được các đòi hỏi, yêu cầu nhiệm vụ
Việt Nam liên quan đến nước ngoài và hoạt động của báo chí nước ngoài tại Việt
Nam.
- Kiểm tra báo chí lưu chiểu; quản lý hệ thống lưu chiểu báo chí quốc gia.
- Chỉ đạo, thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê và công tác khen
thưởng, kỷ luật trong hoạt động báo chí.
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về báo chí [33, tr.1].
Trên cơ sở đối chiếu, phân tích và tổng hợp những vấn đề nêu trên, tác giả
xác định nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí được tổ chức thực
hiện tập trung vào những vấn đề cụ thể sau đây:
- Quản lý năm nhóm công việc cụ thể của hoạt động báo chí theo nội dung
phân tích nêu trên, cụ thể: (1) quản lý hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, sản
phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí; (2) cung cấp thông tin và
17
phản hồi thông tin cho báo chí; (3) cải chính thông tin trên báo chí; (4) xuất bản, in,
phát hành báo in; (5) truyền dẫn báo điện tử và truyền dẫn, phát sóng báo nói, báo
hình.
- Quy định các đối tượng được thành lập cơ quan báo chí; các điều kiện được
cấp, giấy phép hoạt động báo chí và thẻ nhà báo; thời gian và thủ tục cấp thay đổi
nội dung và thu hồi giấy phép hoạt động báo chí và thẻ nhà báo.
- Quản lý việc thực hiện thêm loại hình, sản phẩm báo chí; quy định các điều
kiện xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương, sản xuất thêm kênh phát thanh,
kênh truyền hình, mở chuyên trang của báo điện tử; cấp giấy phép xuất bản; liên kết
trong hoạt động báo chí của các cơ quan báo chí
- Quản lý việc quảng cáo trên báo chí, quyền tác giả đối với tác phẩm báo
chí, sản phẩm báo chí.
- Lưu chiểu báo chí
- Quản lý việc hợp tác quốc tế trong hoạt động báo chí
Nguyên tắc “Đảng lãnh đạo toàn diện hoạt động báo chí” là nguyên tắc mang
tính định hướng quan trọng, xuyên suốt toàn bộ công tác tổ chức và hoạt động của
các cơ quan báo chí. Nói cách khác, báo chí được xem là phương tiện, là công cụ hỗ
trợ đắc lực của Đảng và Nhà nước trong việc triển khai, đưa thông tin về mọi chủ
trương, chính sách, đường lối của các cơ quan này đến với nhân dân đồng thời báo
chí cũng góp phần chuyển tải ý kiến đóng góp, đề xuất, kiến nghị của người dân và
các cơ quan, tổ chức khác đến Đảng và Nhà nước. cơ quan quản lý nhà nước là cơ
quan quản lý toàn bộ quá trình cấp phép thành lập, bổ nhiệm, luân chuyển, miễn
nhiệm các chức danh lãnh đạo trong cơ quan báo chí, phê duyệt cơ chế tài chính,
đầu tư mở rộng, nâng cấp, sát nhập, chấm dứt hoạt động v.v…của các cơ quan báo
chí. Chính vì vậy, trong toàn bộ công tác tổ chức, nhân sự cho đến hoạt động báo
chí cụ thể như sản xuất sản phẩm báo chí, chương trình, liên kết, hợp tác trong và
ngoài nước v.v… các cơ quan báo chí phải nghiêm túc chấp hành mọi chỉ thị, nghị
quyết của cơ quan lãnh đạo và quản lý của mình, mọi trường hợp không tuân thủ
hay làm trái quy định đều sẽ bị xử lý để đảm bảo thống nhất trong lãnh đạo, quản lý.
- Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động báo chí phải có trách
nhiệm rà soát, lấy ý kiến, thông tin phản hồi, phân tích, đối chiếu thực tế để có thể
kiến nghị, đề xuất trong việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới nhằm
19