Tit59-60 Coõ ủụn trong thụ Xuaõn Dieọu
uõn Diu l mt nh th lóng mn, luụn ũi hi s hon m, thng nuụi mỡnh bng nhng
o tng, o vng. ễng li mang thõn phn ca ngi dõn mt nc, sng trong hon cnh
mt t do, trong iu kin sng mũn mi, tự tỳng, vỡ th nh th s cm thy b v, bt lc
khi bc vo thc t. Tõm trng chỏn nn, hoi nghi v cụ n phỏt trin trong th ụng tr thnh mt
ni ỏm nh. Th ụng thm thớa mt ni bun chỏn nn ca cỏi Tụinh bộ trc khụng gian mờnh
mụng v thi gian thm thm; ni bun ca nhng tỡnh yờu tht vng, ca bi kch b cuc i h
hng, t chi...
x
Xuõn Diu cú mt t c bit ủeồ ch ngi bn tỡnh ng gii ca ụng, ủú l t bn si "Tic
thu say nng, nh bn si", ngi si "Ngi si muụn kip l hoa nỳi/Ung nh lũng ti tng khỏch
h"!. Si va khỏc yờu bn thõn i tng, va cao hn yờu s am mờ, b lụi cun, khụng lm
ch c.Si l yờu gn vi dc vng, dc tớnh, l yờu khụng cú quyn la chn, bi quyn ú ó
thuc v bn nng, thiờn nhiờn. Nh bụng hoa nỳi hoang dó kia, ngi si t ung lũng mỡnh, n tht
mỡnh ln lờn. Bi yờu ngi thỡ nhiu, nhng ớt khi c ỏp ng Cho rt nhiu nhng nhn
chng bao nhiờu", nờn Xuõn Diu thng hay di, ụng gi h l khỏch h.
S hn di ca thi nhõn cng tng khi Huy Cn, ngi bn trai ca ụng i ly v. Th l thi nhõn
di. Xuõn Diu trong Tng bn bõy gi v ra cnh i sng v chng gi tuy ờm m, nhng t
nht mai sau cnh bỏo:
Ch my nm thụi, phn chng,
Chng trai t mn ó thnh ụng.
Khụng cũn mng d ngy ti tr,
Mt sỏng phai ri, mỏ húp khụng.
Em ngi trụng v, thy nng tiờn
L mt ngi thụi, mng hóo huyn!
Ta bc trờn ng kờu gi mói,
Nh ngi bn c tha anh niờn.
Em nghe tờ tỏi di hng mi,
Tic thu say nng, nh bn si.
Khộp mt bun xa, em s bo:
- Cú chng Xuõn Diu, thu xa kia...
Để hát mãi bên gành
Một tình chung không hết.
Để những khi bọt tung trắng xóa
Và gió về bay tỏa nơi nơi,
Như hôn mãi ngàn năm không thỏa,
Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!
Đây mới chính là Xuân Diệu! Đúng như thi nhân vô tình hay hữu ý. Đúng không chỉ vì đây là
một bài thơ hay,hình tượng đẹp: biển và cát, mà đúng chất Xuân Diệu, đúng nhö kiểu yêu Xuân
Diệu: Thân xác, nồng nàn, vồ vập. Chữ hôn được lặp lại đến 6 lần, rồi được nhấn mạnh thêm bằng
những từ như nghiến nát, ngập bến, ào ạt, dào dạt để cuối cùng là hát, tung bọt, bay tỏa nơi nơi...
Nhưng cũng còn có một âm thanh, đúng hơn một hình tượng âm thanh, được ngân đi điệp lại nhiều
lần là từ cát (cát trắng, cát dài, cát vàng) và từ bờ (cát), (yêu) bờ, và từ bờ em, cát vàng em... Hình
tượng âm thanh đó là ẩn ngữ của bài thơ, là tên của bạn trai Xuân Diệu: Anh xin làm sóng biếc/ Hôn
mãi cát vàng em. Cát vàng là Hoàng Cát!
Nhưng rồi Cát đi chiến trường. Xuân Diệu buồn, nhớ, gợi nhắc và hẹn thề:
Em đi để tấm lòng son mãi,
Như ánh đèn chong, như ngôi sao;
Em đi, một tấm lòng lưu lại,
Anh nhớ thương em, lệ muốn trào.
Em hẹn sau đây sẽ trở về,
Sống cùng anh lại những say mê;
Áo chăn em gửi cho anh giữ,
Xin gửi cùng em cả hẹn thề.
Em đi xa cách, em ơi Cát
Em chớ buồn nghe! nhớ anh yêu.
Tiếng nói của tình yêu đồng giới, của giục cảm đồng giới không chỉ bằng ngôn ngữ của hữu
thức, trực tiếp, mà chủ yếu còn bằng ngôn ngữ của vô thức, hàm ẩn. Tình yêu đồng giới khi ấy thăng
hoa, tan loãng vào những cảm xúc, lấp ló trong những ánh nhìn, thoang thoảng mùi vị và loang loáng
hình thể...
Tình yêu đồng giới, ở Xuân Diệu, còn được chuyển vị qua dạng tượng trưng, đặc biệt là tượng
phát triển, đâm cành trổ nhánh, len lách qua những cấm kỵ văn hóa - xã hội thì phải sử dụng hàm
ngơn, thứ ngơn ngữ của tượng trưng, của biểu tượng. Chính hàm ngơn làm cho thơ Xn Diệu vốn
nghiêng về trần tục có thêm chiều kích mới. Thế giới thơ Xn Diệu, vì thế, khơng trơ cạn, mà trở
nên đa dạng, nhiều biến thái kỳ ảo.
Như vậy, tình u đồng giới đã có một ảnh hưởng rất lớn đến thơ Xn Diệu, tạo ra một cách
tân nghệ thuật. Sự cách tân này đã được thi nhân gián tiếp trình bày qua bài “Tình Trai”. Bài thơ nói
về một tình u dị thường, nhưng tình u dị thường đó cũng là một tình u với một nghệ thuật
mới, một thứ thơ xa lạ đối với đơng đảo cơng chúng thơ đương thời.
nh hưởng của sự phóng khoáng trong tình yêu phương Tây, một sự bộc lộ tình cảm, tư
tưởng một cách q thẳng thắn, sự biểu đạt ngơn ngữ q Tây. Người ta la ó phản đối Xn Diệu.
Nhưng, với tài năng, nhà thơ bắt họ phải chấp nhận mình, hay là thời gian qua đi cái lạ cũng dần dần
trở nên quen. Có lẽ là cả hai. Thế là, Xn Diệu từ một "ơng Tây An Nam" đã trở thành "ơng Hồng
thi ca" của phong trào Thơ Mới. Sự cách tân thơ ở Xn Diệu, cái mới và cái lạ của thơ ơng, khơng
phải do sự chuyển từ lãng mạn sang tượng trưng, mà là một cái gì đó ở ngồi cả lãng mạn lẫn tượng
trưng. Cái làm cho Xn Diệu trở thành Xn Diệu này hẳn do thơ ơng chịu sự quy định của tình u
đồng giới và sự vượt thốt khỏi tình u đồng giới.
Tồn bộ thơ Xn Diệu, nhất là Thơ Thơ và Gửi hương cho gió, đều là tiếng nói của tình u
đồng giới đòi quyền tồn tại bình đẳng và cơng khai.Bởi thế, cảm hứng sáng tạo thơ Xn Diệu đi
theo một sơ đồ nhất qn cả ở vĩ mơ một sự nghiệp lẫn vi mơ từng bài: cảm giác cơ đơn - khát thèm
giao cảm - tình u lưỡng diện.
Cơ đơn là một trạng thái tâm hồn, trạng thái nhân sinh chỉ có khi con người cá nhân đã phát triển
khá cao, nhưng khơng tìm được sự hài hòa với xã hội. Bởi thế, văn học Việt Nam phải đến giai đoạn
1932 - 1945 mới có cơ đơn, đúng hơn kinh nghiệm về cơ đơn. Trước đó, thời trung đại, chỉ có cơ
3
độc. Mà nếu có đi chăng nữa thì cơ đơn ấy phần nhiều do thi nhân cố ý tự tách mình ra khỏi đám
đơng, khỏi tập đồn của mình để khẳng định một nhân cách, khẳng định một cá tính. Cái ngơng của
những ơng ngất ngưởng, ơng say, ơng cuồng, ơng điếc,bởi thế, vừa là nhân cách của một lớp người,
vừa là cá tính của văn chương một thời.
Ở thời đại Thơ Mới, đến Xn Diệu thì ý thức cá nhân đã phát triển khá cao. Tuy vậy, cá nhân
Thơ Mới lúc ấy vẫn còn tìm được sự đồng vọng, thậm chí sự cộng hưởng, ở tầng lớp độc giả đơ thị
vật.Ôâng đã nhiều lần đến với thiên nhiên, tìm sự san sớt, sẻ chia và cũng nhiều lần ví tâm hồn
mình là qn "Đây là qn tha hồ mn khách đến", là vườn “Đây là vườn chim nhả hạt mười
phương", là bình "Đây là bình thu hợp trí mn phương", là tất cả những gì có khơng gian rỗng,
khơng gian tự do để cho người đến, chim bay vào, mây ghé qua... Đồng thời, Xn Diệu cũng thấy
mình chỉ là cây kim nhỏ/Mà vạn vật là mn đá nam châm. Có lẽ, chính vì thế, mà nhà thơ Vội vàng
muốn ơm trọn cả sự sống vào lòng. Cái sự sống với ơng khơng bao giờ chán nản.
Thi nhân thấy thiên nhiên, cũng như con người, thậm chí hơn con người, có sự giao cảm với
nhau vừa theo chiều từ trên xuống "cây xuống hoa, hoa xuống cỏ, cỏ xuống làn rêu", vừa theo chiều
từ dưới lên "những lời huyền bí tỏa lên trăng", vừa bằng cử động nghiêng, rủ, tỏa vừa bằng âm thanh
tiếng, thỏ thẻ lan theo chiều ngang:
Một tối bầu trời đắm sắc mây,
Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy,
4
Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ
Nghiêng xuống làn rêu, một tối đầy
Những lời huyền bí tỏa lên trăng,
Những ý bao la rủ xuống trần,
Những tiếng ân tình hoa bảo gió,
Gió đào thỏ thẻ bảo hoa xuân...
Con mắt, lỗ tai giao cảm của Xuân Diệu rất tinh tế. Ông luôn phát hiện ra ở sự sống những
rung động nhỏ nhất, những hướng động, theo cách nói của N.Saraute.
Một cảnh đồng quê:
Mây biếc về đâu bay gấp gấp,
Con cò trên ruộng cánh phân vân.
Một tiếng đàn dưới trăng:
Lung linh bóng sáng bỗng rùng mình
Một luồng gió thổi:
Những luồng run rẩy rung rinh lá
và:
Cành biếc run run chân ý nhi
hưởng của mỹ học nhân văn thời Phục hưng. Hoặc của văn hóa đô thị. Chính bản thân Xuân Diệu
5