TỘI cướp GIẬT tài sản THEO PHÁP LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM từ THỰC TIỄN QUẬN 1, THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ MINH NHẬT

TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN 1,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ MINH NHẬT

TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN 1,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHAN ANH TUẤN

HÀ NỘI, năm 2019


Học viên

Lê Minh Nhật


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN................................................. 10
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản ............... 10
1.2. Phân biệt tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam với một số
tội phạm khác ............................................................................................... 24
1.3. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản từ
năm 1945 đến nay ........................................................................................ 26
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI
CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH ............................................................................................................. 34
2.1. Khái quát tình hình xét xử tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây .................................. 34
2.2. Định tội danh tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ
Chí Minh ...................................................................................................... 37
2.3. Thực tiễn áp dụng các tình tiết định khung hình phạt đối tội cướp giật
tài sản ........................................................................................................... 41
2.4. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội cướp giật tài sản................ 44
2.5. Nhận xét chung về thực tiễn xét xử về tội “Cướp giật tài sản” tại Tòa
án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh............................................ 49
Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG
ĐÚNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN ............ 52
3.1. Những nhu cầu và yêu cầu áp dụng đúng pháp luật hình sự khi xét xử
các vụ án cướp giật tài sản ........................................................................... 52

Để cụ thể hóa quy định trên, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định các nội
dung của quyền sở hữu để chủ sở hữu thực hiện các quyền của mình và sự tôn
trọng của xã hội đối với quyền sở hữu của các cá nhân khác. Bộ luật Hình sự
năm 2015, quy định các chế tài đối với hành vi xâm phạm sở hữu tài sản quy
định tại Chương XVI (các tội xâm phạm sở hữu) trong đó có tội cướp giật tài
sản. Những quy định này là sự bảo vệ của Nhà nước đối với quyền sở hữu của
nhà nước, tổ chức, cá nhân đã được Hiến pháp năm 2013 quy định và thể hiện
thái độ của Nhà nước đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu của nhà
nước, tổ chức, cá nhân.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đô thị lớn nhất nước, đặc
biệt là Quận 1, nơi tập trung các cơ quan hành chính của Thành phố Hồ Chí
Minh, có nhiều danh lam, công trình kiến trúc là nơi thu hút tham quan, vui
chơi giải trí của nhân dân thành phố, nhân dân Quận 1 và du khách trong và
ngoài nước. Những năm gần đây, các vụ án cướp giật tài sản trên địa bàn
Quận 1 không ngừng gia tăng gây ra ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu
đến trật tự, an toàn xã hội, tác động không tốt đến cuộc sống của người dân.
1


Thực tiễn xét xử các vụ án cướp giật tài sản tại Tòa án nhân dân Quận
1, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tội cướp giật tài sản rất đa dạng về: nhân
thân người phạm tội, độ tuổi và giới tính của người phạm tội, thủ đoạn và
phương tiện phạm tội, có những vụ án có đồng phạm và sử dụng thủ đoạn
nguy hiểm. Quá trình xét xử, là việc Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật hình
sự để xác định đúng tội danh, xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự để quyết định hình phạt. Hình phạt vừa thể hiện thái độ nghiêm
khắc của xã hội đối với hành vi nguy hiểm của tội phạm vừa thể hiện tính
khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để người phạm tội sớm tái hòa nhập
cộng đồng và làm người có ích cho xã hội. Trong quá trình xét xử các vụ án
cướp giật tài sản cho thấy những khó khăn, bất cập trong việc xác định tội

nhân dân; (5) Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định tội danh, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội; (7) Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2016),
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm- Quyển 2, Nxb Hồng
Đức- Hội Luật gia Việt Nam; (8) Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân; (9) Học viện Tòa án
(2012), Chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử - Phần kỹ năng giải quyết vụ
án hình sự, Nxb Công an nhân dân.
Những tài liệu và giáo trình nêu trên là những tài liệu nghiên cứu bắt
buộc trong việc học tập và nghiên cứu luật hình sự. Nội dung chính của các
tác phẩm này là trình bày lý luận chung về tội phạm, định tội danh và quyết
định hình phạt, phân tích từng đặc trưng pháp lý cơ bản của mỗi tội danh nói
chung và tội cướp giật tài sản nói riêng. Những tài liệu này là tài liệu tham
khảo cho tác giả nghiên cứu về các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản
trong luận văn.
- Nhóm thứ hai: Các bài viết liên quan đến tội cướp giật tài sản có thể
kể đến:
3


(1) Bài viết “Về các tội xâm phạm sở hữu” của tác giả Nguyễn Mai Bộ,
Tạp chí Tòa án nhân dân – Số 7, 8 và 9/2018. Bài viết phân tích các dấu hiệu
pháp lý của 13 tội trong chương XVI Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội
xâm phạm sở hữu và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
(2) Bài viết “Một số góp ý về các tội xâm phạm sở hữu trong dự thảo
Bộ luật Hình sự sửa đổi" của tác giả Nguyễn Văn Trương – Trần Giang Nam,
Tạp chí Tòa án nhân dân - 10/2005, Số 20. Bài viết đưa ra các ý kiến về việc
sửa đổi quy định pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu cụ thể: mô tả hành vi
cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, tình tiết định khung “có tính
chất chuyên nghiệp” trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
(3) Bài viết “Tội cướp giật tài sản và vấn đề chuyển hóa tội phạm theo

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận, quy định và thực
tiễn áp dụng quy định về tội cướp giật tài sản theo Bộ luật Hình sự năm 2015
khi xét xử tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn sẽ
đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về các dấu
hiệu định tội, định khung hình phạt đối với tội cướp giật tài sản và đề xuất
những giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về loại tội phạm
này và áp dụng thống nhất trên toàn quốc.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn đặt ra và giải quyết các
nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về tội cướp giật tài sản theo
luật hình sự Việt Nam.
- Phân tích nội dung các quy định của pháp luật hình sự về tội cướp giật
tài sản.
6


- Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện các quy định về tội cướp giật tài sản
trong Bộ luật hình sự và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của
pháp luật về tội này trên cả nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản và thực tiễn xét xử tội cướp giật tài sản
tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy
định, áp dụng về tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam dưới góc độ

tiễn về tội cướp giật tài sản, từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn :
Các kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có
giá trị cho các cơ quan nhà nước thực hiện việc hoàn thiện hơn quy định về
tội cướp giật tài sản, và góp phần giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn
áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội phạm này tại Tòa án nhân dân
Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Những kết quả nghiên cứu của Luận văn đạt được còn có thể làm tài
liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo của chính học viên và
cho những người quan tâm trong quá trình công tác, học tập và nghiên cứu.
7. Cơ cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về tội
cướp giật tài sản.
8


Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp
giật tài sản trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật
hình sự về tội cướp giật tài sản.

9


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

BLHS chúng ta thấy tội cướp giật tài sản có những dấu hiệu pháp lý như sau:
1.1.2.1. Khách thể của tội cướp giật tài sản
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm hại (gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại) [33, tr.62].
Khách thể của tội phạm bao gồm khách thể chung, khách thể loại và khách
thể trực tiếp của tội phạm. Tội cướp giật tài sản được quy định tại Chương
XVI của BLHS năm 2015 có tên là “Các tội xâm phạm sở hữu” vì thế có
khách thể loại là quan hệ sở hữu tài sản. Quan hệ sở hữu tài sản là mối quan
hệ giữa chủ sở hữu đối với tài sản, bao gồm các quyền chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt đối với tài sản. Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm
2015, thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Nhưng
chỉ có tài sản là tiền, vật, giấy tờ có giá (vô danh) mới có thể là đối tượng tác
động của các tội xâm phạm sở hữu.
Do đặc thù của tội cướp giật tài sản là nhanh chóng chiếm đoạt và tẩu
thoát nên đối tượng tác động của tội này thường là những tài sản dưới dạng
vật chất, gọn nhẹ, dễ di chuyển và đồng thời đang nằm trong sự quản lý,
chiếm hữu của chủ tài sản, nhưng đối tượng phạm tội lợi dụng sự sơ hở của
chủ sở hữu trong quá trình quản lý để chiếm đoạt.
Như vậy, khách thể trực tiếp của tội cướp giật tài sản là quan hệ sở hữu
và đối tượng bị tác động trực tiếp là tiền, vật, giấy tờ có giá (vô danh) nêu
trên.
1.2.2.2. Chủ thể của tội cướp giật tài sản
Theo Bộ luật hình sự năm 2015, chủ thể của tội phạm không chỉ là con
người cụ thể mà còn pháp nhân thương mại. Đối với tội cướp giật tài sản, chủ
11


thể của tội phạm chỉ có thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ
tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định và thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm.

hội nhưng vẫn thực hiện. Động cơ và mục đích của người phạm tội cướp gật
tài sản là mong muốn chiếm đoạt tài sản của người khác.
1.1.2.4. Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản
Mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện bên ngoài của tội phạm, bao
gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và
hậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội [50,
tr.71]. Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng đều có những biểu hiện bên ngoài,
nếu không có những biểu hiện này thì cũng không có yếu tố khác của tội
phạm và cũng không có tội phạm.
Hành vi cướp giật tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác
của chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi chiếm đoạt của tội cướp
giật tài sản có dấu hiệu công khai và dấu hiệu nhanh chóng.
* Dấu hiệu công khai:
Dấu hiệu công khai vừa thể hiện tính khách quan của hành vi chiếm
đoạt vừa thể hiện ý thức chủ quan của người phạm tội. Hành vi chiếm đoạt
được coi là công khai, khi hành vi phạm tội được thực hiện thì chủ tài sản có
khả năng biết ngay khi hành vi xảy ra, nghĩa là người phạm tội công khai và
hoàn toàn không có ý định che giấu hành vi phạm tội của mình đối với người
đang chiếm giữ tài sản và những người xung quanh.
Dấu hiệu công khai là đặc trưng cơ bản của tội cướp giật tài sản giúp
phân biệt với dấu hiệu lén lút trong tội trộm cắp tài sản hay dấu hiệu gian dối
trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
* Dấu hiệu nhanh chóng:
Dấu hiệu nhanh chóng phản ánh thủ đoạn, phương thức thực hiện hành
13


vi phạm tội phải khẩn trương, vội vã. Người phạm tội lợi dụng sơ hở của chủ
tài sản (sơ hở này có thể là có sẵn hoặc do người phạm tội chủ động tạo ra)
nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu

chức, mỗi người được giao nhiệm vụ cụ thể và tất cả họ cùng nhau liên kết lại
thực hiện tội hạm và che giấu tội phạm. Sự cấu kết chặt chẽ còn thể hiện trong
sự thống nhất ý chí của những người đồng phạm từ khi chuẩn bị đến khi phạm
tội và kết thúc, kể cả việc đề ra các biện pháp lẫn tránh pháp luật. Phạm tội có
tổ chức luôn có người tổ chức và người thực hành, thường người tổ chức giữ
vai trò quan trọng, là người đề ra các biện pháp, kế hoạch phạm tội và luôn
được mỗi cá nhân trong tổ chức nể trọng và phục tùng.
b) Có tính chất chuyên nghiệp
Về tính tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2006/NQ- HĐTP ngày
12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của
Bộ luật Hình sự như sau, chỉ áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp khi có đầy đủ các điều kiện sau:
“a. Cố ý phạm tội từ 05 lần trở lên về cùng một tội phạm không phân
biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình
sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa
án tích;
b. Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy
kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính”.
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000
đồng;
Trong các tội xâm phạm sở hữu, việc xác định giá trị tài sản bị chiếm
đoạt có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt, nó có thể làm tăng
khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Vì vậy, khi xác định giá trị tài sản bị
15


chiếm đoạt cần chú ý một số điểm sau đây:
“1. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ trái phép, bị sử dụng trái
phép, bị hủy hoại hoặc bị làm hư hỏng được xác định theo giá trị thị trường

136 Bộ luật Hình sự là dùng thủ đoạn để cướp giật tài sản mà nguy hiểm đến
tính mạng, sức khỏe của người bị hại hoặc của người khác như dùng xe mô
tô, xe máy để thực hiện việc cướp giật tài sản; cướp giật của người đang đi
mô tô, xe máy... cần chú ý là trong trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm để
cướp giật tài sản mà gây ra hậu quả nghiêm trọng, thì phải áp dụng cả hai tình
tiết định khung hình phạt quy định tại các điểm d và h khoản 2 Điều 136 Bộ
luật Hình sự”.
đ) Hành hung để tẩu thoát;
Trong một số trường hợp cướp giật tài sản, quá trình tẩu thoát người
phạm tội có dùng vũ lực để tẩu thoát. Khi quyết định hình phạt đối với những
trường hợp này, các Tòa án thường không thống nhất với nhau. Tại Mục VII,
Nghị quyết 01-HĐTP/NQ ngày 19/04/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ
luật Hình hướng dẫn như sau:
“a. Nếu là trường hợp do chưa chiếm đoạt được tài sản mà kẻ phạm tội
dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt tài sản cho
bằng được thì cần định tội là cướp tài sản.
b. Nếu là trường hợp kẻ phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản rồi, nhưng
chủ tài sản hoặc người khác đã lấy lại được tài sản đó hoặc đang giành giật tài
sản còn ở trong tay kẻ phạm tội, mà kẻ phạm tội dùng vũ lực, hoặc đe dọa
dùng ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được thì cần định
tội cướp tài sản …
Đối với trường hợp trên đây chỉ cần kết án kẻ phạm tội về một tội là
cướp tài sản … và coi việc chiếm đoạt (chưa thành hoặc đã thành) trước khi
17


dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực là tình tiết diễn biến của
tội phạm.
c. Nếu việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là nhằm để tẩu thoát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status