TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG, QUẢN TRỊ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA CHÂU Á - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ HOÀNG ANH
TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG, QUẢN TRỊ CÔNG
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA
CHÂU Á

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ HOÀNG ANH
TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG, QUẢN TRỊ CÔNG
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA
CHÂU Á

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 9.34.02.01

nhiên, lý thuyết luật Wagner (1883) cho rằng chi tiêu công không phải là nguyên
nhân của sự phát triển kinh tế, mà là một biến nội sinh của tăng trưởng kinh tế. Cụ
thể, sự gia tăng của tăng trưởng kinh tế mới là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng chi
tiêu công. Trái với lý thuyết luật Wagner (1883), lý thuyết của Keynes (1936) lại
cho rằng sự gia tăng của chi tiêu công sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh
tế. Như vậy, chi tiêu công là một lực ngoại sinh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế


2

(Loizides & Vamvoukas, 2005). Các nhà kinh tế ủng hộ lý thuyết của Keynes cho
rằng chính sách tài khóa chủ động là một công cụ quan trọng có sẵn cho các chính
phủ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Shafuda, 2015). Thêm vào hai lý thuyết này,
Solow (1956) trong mô hình tăng trưởng Tân cổ điển cho rằng không có ảnh hưởng
lâu dài của chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế. Các mô hình tăng trưởng Tân
cổ điển chỉ ra rằng các chính sách tài khóa không thể mang lại sự thay đổi trong dài
hạn của tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh tế Tân cổ điển cho rằng tăng trưởng kinh
tế trong dài hạn là do tăng dân số, tăng lực lượng lao động, tiến bộ công nghệ và các
biến số này được xác định là ngoại sinh. Trái với các kết quả trên, Barro (1989)
trong mô hình tăng trưởng nội sinh lập luận rằng chi tiêu công có tác động tiêu cực
tới tăng trưởng kinh tế. Barro (1989) lý giải rằng chi tiêu công của chính phủ có thể
lấn áp đầu tư tư nhân, nhưng không cung cấp một kích thích bù đắp cho đầu tư và
tăng trưởng. Như vậy, một số nghiên cứu cho rằng chi tiêu công có tác động tích
cực đến tăng trưởng kinh tế. Một số khác lại cho rằng chi tiêu công có tác động tiêu
cực hoặc không có tác động đến tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt hơn, tác động của chi
tiêu công đến tăng trưởng kinh tế có thể là phi tuyến, tức là gia tăng chi tiêu công sẽ
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng khi chi tiêu công vượt qua một ngưỡng nhất
định thì tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu giảm dần (Malek, 2014).
Về mặt thực tiễn, chi tiêu công cũng có những tác động khác nhau đến tăng
trưởng kinh tế. Tại các quốc gia đang phát triển như châu Á, quy mô chi tiêu công

sách tài khóa hiệu quả (Brahmbhatt & Canuto, 2012).
Đến đầu những năm 1990, vấn đề quản trị công và tác động của nó đến tăng
trưởng kinh tế bắt đầu được thảo luận trong các cuộc tranh luận quốc tế. Các tổ
chức quốc tế cho rằng chi tiêu công cho hàng hóa và dịch vụ công sẽ không đạt
được hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như mong muốn nếu việc xây dựng,
thực hiện và giám sát ngân sách bị trục trặc (World Bank, 1992). Đề xuất này cho
thấy quản trị công đóng vai trò quan trọng trong tác động của chi tiêu công đến tăng
trưởng kinh tế. Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy các yếu tố thuộc về quản trị
công có thể đã tạo ra thay đổi trong tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh
tế. Chẳng hạn, một trong những yếu tố của quản trị công được các nghiên cứu xem
xét gần đây là tham nhũng. Các nghiên cứu đều cho rằng tham nhũng có ảnh hưởng
tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia (Glaeser & Saks, 2004; Xu, Li, &


4

Zou, 2000). Đặc biệt, nghiên cứu của dAgostino và cộng sự (2016) cho thấy dưới
ảnh hưởng của tham nhũng các khoản chi tiêu công cho quốc phòng đã có tác động
tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của 106 quốc gia trong mẫu nghiên cứu.
Mặc dù có bằng chứng cho thấy quản trị công đóng vai trò hoặc là chất xúc
tác, kiểm soát tốt và hiệu quả hơn việc sử dụng chi tiêu công để từ đó thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế hoặc làm giảm tác động tích cực của chi tiêu công đến tăng trưởng
trong môi trưởng thể chế chất lượng thấp nhưng chưa có nghiên cứu nào xem xét
toàn diện các yếu tố cấu thành quản trị công ảnh hưởng đến tác động này. Bên cạnh
đó, một số nghiên cứu gần đây xem xét tác động riêng lẻ của quản trị công đến tăng
trưởng kinh tế nhưng cách thức đo lường chưa thống nhất (Siddiqui & Ahmed,
2013). Hầu hết các nghiên cứu trước đo lường quản trị công dựa trên hai bộ chỉ số
là chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) và chỉ số
đánh giá rủi ro quốc gia (International Country Risk Guide – ICRG). Mặc dù hai chỉ
số trên được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu thực nghiệm đo lường chất lượng

số hàm ý chính sách phù hợp. Để đạt được mục tiêu chung, nghiên cứu có các mục
tiêu cụ thể sau:
-

Đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc

gia châu Á.
-

Đánh giá tác động của quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc

gia châu Á
-

Đánh giá tác động của quản trị công lên mối quan hệ giữa chi tiêu công

và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, luận án trả lời các câu hỏi sau:
-

Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu

Á như thế nào?
-

Các nhân tố nào đại diện cho các thành phần của quản trị công tại các

quốc gia châu Á?
-

Thứ hai, giai đoạn nghiên cứu này bao gồm giai đoạn trước khủng hoảng 2004 –
2007, giai đoạn khủng hoảng 2008 – 2009, giai đoạn sau khủng hoảng 2010 – 2017.
Do đó, tác giả có thể xem xét toàn diện tác động của chi tiêu công, quản trị công
đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á trong điều kiện bình thường và
trong điều kiện đặc thù.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận án sử dụng các phương
pháp ước lượng thích hợp nhằm khám phá tác động của chi tiêu công, quản trị công
đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á. Cụ thể:


7

Nhằm khám phá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các
quốc gia châu Á, tác giả phát triển mô hình từ các nghiên cứu của Alexiou (2009),
Cooray (2009). Để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương quan và đặc
biệt là hiện tượng nội sinh thường xảy ra trong các mô hình kinh tế vĩ mô, tác giả sử
dụng phương pháp GMM sai phân (Difference GMM – DGMM) của Arellano &
Bond (1991).
Nhằm khám phá các nhân tố đại diện cho các thành phần của quản trị công
tại các quốc gia châu Á, tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá
(Exploratory Factor Analysis – EFA) với hai bộ chỉ số đánh giá quản trị công là chỉ
số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) và chỉ số đánh giá
rủi ro quốc gia (International Country Risk Guide – ICRG).
Để đánh giá tác động của quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc
gia châu Á, tác giả phát triển mô hình từ nghiên cứu của Siddiqui & Ahmed (2013).
Phương pháp GMM sai phân (Difference GMM – DGMM) của Arellano & Bond
(1991) tiếp tục được sử dụng để ước lượng mô hình.
Để đánh giá tác động của quản trị công lên mối quan hệ giữa chi tiêu công và
tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á, tác giả tiếp tục phát triển mô hình từ

Ngoài ra, một đóng góp mới của luận án thể hiện qua phương pháp đo lường
quản trị công. Cụ thể, hầu hết các nghiên cứu trước đo lường quản trị công dựa trên
hai bộ chỉ số là chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI)
và chỉ số đánh giá rủi ro quốc gia (International Country Risk Guide – ICRG). Mặc
dù hai chỉ số trên được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu thực nghiệm đo lường
chất lượng quản trị công và tùy vào điều kiện nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu có
thể chọn WGI hoặc ICRG nhưng các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra một số bất cập
trong các chỉ số này. Cụ thể, các nghiên cứu của Knoll & Zloczysti (2012),
Langbein & Knack (2010) đã cho thấy bằng chứng về sự chồng chéo của 6 nhóm
chỉ tiêu cấu thành hai bộ chỉ số này. Đồng thời, một số chỉ tiêu trong hai bộ chỉ số
này khó tách biệt nhau. Điều này hàm ý rằng một số chỉ tiêu trong hai bộ chỉ số này
có thể cùng đo lường một khái niệm. Khác với các nghiên cứu trước, trong xem xét
tác động của quản trị công đến mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh
tế, để giải quyết những bất cập khi sử dụng các bộ chỉ số đo lường quản trị công đã
nêu trên, nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá


9

(Exploratory Factor Analysis - EFA) dựa trên hai bộ chỉ số WGI và ICRG, nhằm
xác định các nhân tố đại diện đo lường quản trị công. Phương pháp này có thể giúp
nhóm các chỉ tiêu cùng đo lường một khái niệm lại với nhau để tạo thành một nhân
tố đại diện. Các nhân tố đại diện này sẽ tách biệt với nhau. Các nhân tố đại diện đo
lường quản trị công sau đó sẽ được tác giả sử dụng để đánh giá tác động đến mối
quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á thông qua
việc ước lượng các mô hình bằng phương pháp DGMM của Arellano & Bond
(1991). Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong các ước lượng dữ liệu bảng
động tuyến tính để khắc phục hiện tượng nội sinh thường xảy ra trong các mô hình
kinh tế vĩ mô. Do đó, các kết quả thu được đảm bảo độ tin cậy để rút ra các kết luận.
Bên cạnh đó, một vấn đề đặt ra đối với các phương pháp ước lượng là tính


Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của chi tiêu công, quản trị công

đến tăng trưởng kinh tế
Lược khảo các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu đã được thực hiện, trên
cơ sở đó hình thành mô hình nghiên cứu và các giả thiết nghiên cứu.
-

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu tác động của chi tiêu công, quản trị

công đến tăng trưởng kinh tế
Phát triển giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phương pháp ước
lượng mô hình. Bên cạnh đó, chương 3 cũng trình bày dữ liệu nghiên cứu và cách
thức thu thập dữ liệu.
-

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu

công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á
Trình bày thực trạng và kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi
tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á.
-

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trình bày các kết luận của nghiên cứu và đưa ra các hàm ý chính sách về
quản lý chi tiêu công nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, tác
giả cũng đưa ra các hàm ý chính sách cải thiện quản trị công nhằm quản lý, sử dụng
chi tiêu công tốt hơn hướng đến mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.


chiến lược trong việc thực thi quyền lực chính trị, kinh tế và hành chính.


12

2.1.3. Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Theo Samuelson & Nordhaus (1985) tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng GDP
hay sản lượng tiềm năng của một nước. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế diễn ra
khi đường giới hạn khả năng sản xuất của một nước (PPF) dịch chuyển ra phía
ngoài. Một khái niệm rất gần gửi với tăng trưởng kinh tế là mức tăng sản lượng tính
trên đầu người. Như vậy, tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng,
tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Nói cách
khác, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc
tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định.
2.2. Cơ sở lý thuyết về tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng
trưởng kinh tế
2.2.1. Cơ sở lý thuyết về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế
2.2.1.1. Các lý thuyết về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế
Một trong những lý thuyết đầu tiên nói về mối liên hệ giữa chi tiêu công và
tăng trưởng kinh tế là lý thuyết luật Wagner (1883). Trên cơ sở các nghiên cứu thực
nghiệm, lý thuyết luật Wagner (1883) cho rằng sự tăng trưởng trong chi tiêu công là
điều không thể tránh khỏi đối với một nền kinh tế tiến bộ bởi nó có liên quan trực
tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Theo lý thuyết luật Wagner (1883), mức tăng trưởng
trong chi tiêu công phải lớn hơn mức tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, lý thuyết luật
Wagner (1883) lại cho rằng chính tăng trưởng kinh tế mới là nguyên nhân dẫn đến
tăng trưởng trong chi tiêu công.
Khác với lý thuyết luật Wagner (1883), trong thập niên 70, các nhà kinh tế
theo trường phái Keynes lại tin rằng chi tiêu chính phủ, đặc biệt là các khoản chi
tiêu thông qua vay nợ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ làm tăng sức mua
(tổng cầu) của nền kinh tế (Loizides & Vamvoukas, 2005). Các chính trị gia thường

một nhà nước có sự thịnh vượng thấp nhất là hòa bình, thuế và một chính quyền của
công lý được chấp nhận.
Bên cạnh lý thuyết của Smith (1755), tầm quan trọng của quản trị công cũng
được khẳng định qua Lý thuyết của Buchanan (1987). Ông lập luận rằng các nhà
kinh tế nên nhìn vào Hiến pháp của chính thể chế kinh tế để kiểm tra các quy định
và những hạn chế mà trong đó các tác nhân chính trị đóng vai trò quan trọng.


14

Mặc dù các lý thuyết của Smith (1755), Buchanan (1987) đã cho thấy tầm
quan trọng của quản trị công nhưng vai trò của quản trị công đối với hoạt động kinh
tế của các quốc gia chỉ thực sự được quan tâm khi nghiên cứu tại khu vực Châu Phi
của Ndulu & O’Connell (1999) được công bố. Họ nhận thấy rằng độc tài gắn liền
với nền kinh tế yếu kém. Thể chế tốt cho phép công dân tham gia vào hoạt động
chính trị và các hoạt động liên quan đến sự trao quyền, do đó có thể nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng.
2.2.3. Cơ sở lý thuyết về tác động của quản trị công đến mối quan hệ giữa chi
tiêu công và tăng trưởng kinh tế
2.2.3.1. Lý thuyết về Lựa chọn công và lý thuyết Kinh tế chính trị
2.2.3.2. Lý thuyết Kinh tế học thể chế mới
2.3. Khung phân tích về tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng
trưởng kinh tế
Các nghiên cứu tài chính công trước thường chỉ phân tích tác động của chi
tiêu công đến tăng trưởng kinh tế (Alexiou, 2009; Anh, 2008; Easterly & Rebelo,
1993; Gemmell et al., 2014; Malek, 2014; Thon et al., 2010; Yasin, 2000). Tác động
của quản trị công đến mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế chưa
được chú trọng, bởi những khó khăn trong việc xây dựng khung phân tích luận giải
về mối quan hệ này một cách toàn diện. Nghiên cứu của Brahmbhatt & Canuto
(2012) là một trong số ít nghiên cứu thiết lập khung phân tích luận giải tác động của


Phân bổ nguồn lực: giải quyết thất bại thị trường

-

Phân phối


Các công cụ và thể chế




Các rằng buộc

-

Chính sách chi tiêu công

-

-

Chính sách thuế

và thể chế (các khía cạnh

-

Nguồn tài trợ chính sách

thuộc vào chất lượng quản trị công. Theo Brahmbhatt & Canuto (2012), chính phủ
can thiệp vào nền kinh tế để giải quyết thất bại thị trường nhưng trong một số
trường hợp, chi phí thất bại chính phủ còn lớn hơn chi phí thất bại của thị trường. Vì
vậy, cùng với ràng buộc ngân sách, ràng buộc về quản trị công là yếu tố tác động
đến chính sách chi tiêu công của một quốc gia.
2.4. Lược khảo các nghiên cứu liên quan
Bảng 2.1. Lược khảo các nghiên cứu liên quan
Tác giả (năm)

Vấn đề nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu

➢ Lược khảo các nghiên cứu về tác động của chi tiêu công đến tăng
trưởng kinh tế
Yasin (2000)

Kiểm tra hiệu quả của Chi tiêu chính phủ, độ mở
chi tiêu chính phủ đối thương mại và chi đầu tư tư
với tăng trưởng kinh tế nhân, tất cả đều có tác động
bằng cách sử dụng dữ tích cực và đáng kể đến tăng
liệu

bảng

từ

Sub- trưởng kinh tế.

Saharan, Châu Phi.

tra ở Iran, bằng cách sử tính. Ban đầu, tăng trưởng
dụng kỹ thuật GMM để kinh tế tăng lên cùng với
ước lượng và với các tăng chi tiêu tiêu dùng chính
biến: tỷ lệ thất nghiệp, tỷ phủ trên GDP. Cuối cùng,
lệ chi tiêu dùng của khi chi tiêu dùng chính phủ
chính phủ trên GDP, tỷ trên GDP tăng lên vượt
lệ chi đầu tư của chính ngưỡng nhất định thì tăng
phủ trên GDP, tổng chi trưởng kinh tế lại giảm.
tiêu chính phủ trên GDP,
tốc độ tăng trưởng của
đầu tư, đầu tư trên GDP,
độ mở thương mại, tỷ lệ
xuất khẩu không tính
đến xuất khẩu dầu và
năng suất.
Anh (2008)

Nghiên cứu phân tích cơ Nghiên cứu đã cho thấy các
cấu chi tiêu chính phủ và khoản chi đầu tư có tác động
tăng trưởng kinh tế ở tích cực hơn so với các
Việt Nam bằng việc tiến khoản chi thường xuyên
hành ước lượng mối trong các ngành nông, lâm,
quan hệ trên dựa vào thu thuỷ sản, giáo dục & đào
thập dữ liệu ở 61 tỉnh tạo, y tế, và ngành khác.
thành trong cả nước từ Đồng thời, cả chi đầu tư và
năm 2001 đến 2005.

thường xuyên cho ngành
giao thông vận tải, giáo dục


gia

trong

1972-1989

giai
nhằm

đoạn không tạo ra phát triển kinh
tìm tế

kiếm bằng chứng về mối
quan hệ giữa dân chủ và
tăng trưởng kinh tế
Cooper & Barro (1997)

Tiến hành nghiên cứu Tồn tại mối quan hệ nhân
thực nghiệm tại nhiều quả phi tuyến đi từ dân chủ
quốc gia về các yếu tố đến tăng trưởng kinh tế
quyết định tăng trưởng.


19

Campos

&

Nugent Kiểm tra ảnh hưởng của Quy định của pháp luật và

kinh tế được thực hiện công đến tăng trưởng kinh tế
với mẫu 31 quốc gia có của các quốc gia này
thu nhập trung bình
được phân loại bởi ngân
hàng Thế giới trong giai
đoạn 2005 – 2013

Cường (2016)

Tham nhũng, một trong Kết quả nghiên cứu đã cho
những yếu tố cấu thành thấy tham nhũng đóng vai
quản trị công, và tăng trò như một chất bôi trơn có
trưởng kinh tế tại các tác động tích cực đối với
quốc gia chuyển đổi

tăng trưởng kinh tế.

➢ Lược khảo các nghiên cứu về tác động của quản trị công đến mối quan
hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế


20

Kaufmann

&

Kraay Nghiên cứu phân tích xu Không có mối quan hệ giữa
hướng toàn cầu về chất chất lượng quản trị công và



vẫn còn nhiều tranh luận.

(2010)
Nguồn: tổng hợp của tác giả từ các nghiên cứu


21

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA
CHI TIÊU CÔNG, QUẢN TRỊ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng quy trình của Alexiou (2009), Cooray (2009), và
Siddiqui & Ahmed (2013) để thực hiện đánh giá tác động của chi tiêu công, quản trị
công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á thông qua các bước sau:
-

Bước 1: Trên cơ sở các nghiên cứu liên quan, đề xuất mô hình thể hiện

tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia
châu Á.
-

Bước 2: Sử dụng phân tích nhân tố khám phá EFA để xác định các nhân

tố đại diện cho các cấu thành của quản trị công được đo lường trên cơ sở hai bộ chỉ
số là chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) và chỉ số
đánh giá rủi ro quốc gia (International Country Risk Guide – ICRG).
-


Đặt 𝑔𝑟𝑜𝑤𝑡ℎ𝑖𝑡 = 𝑙𝑛𝑦𝑖𝑡 − 𝑙𝑛𝑦𝑖(𝑡−1) , ta có mô hình thực nghiệm sau:
𝑔𝑟𝑜𝑤𝑡ℎ𝑖𝑡 = 𝜑0 + 𝜑1 𝑙𝑛𝑦𝑖(𝑡−1) + 𝜑2 𝑖𝑛𝑣𝑖𝑡 + 𝜑3 𝑙𝑖𝑡 + 𝜑4 𝑔𝑖𝑡 + 𝜑5 𝑂𝑃𝐸𝑁𝑖𝑡 +
𝜑6 𝐼𝑁𝐹𝑖𝑡 + 𝜀𝑖𝑡 (11)
Các biến độ mở thương mại OPEN, lạm phát INF được đưa vào mô hình
(11) dựa trên nghiên cứu của Siddiqui & Ahmed (2013).
Mặt khác, bằng chứng về tác động phi tuyến của chi tiêu công đến tăng
trưởng kinh tế đã được tìm thấy trong nghiên cứu của Malek (2014), trong nghiên
cứu này tác giả cũng xem xét tác động giữa hai biến số này là tuyến tính hay phi
tuyến bằng cách đưa thêm vào mô hình (11) biến 𝑔𝑠𝑞𝑢𝑎𝑟𝑒𝑖𝑡 là bình phương của
biến chi tiêu công. Mô hình nghiên cứu cụ thể như sau:
𝑔𝑟𝑜𝑤𝑡ℎ𝑖𝑡 = 𝜑0 + 𝜑1 𝑙𝑛𝑦𝑖(𝑡−1) + 𝜑2 𝑖𝑛𝑣𝑖𝑡 + 𝜑3 𝑙𝑖𝑡 + 𝜑4 𝑔𝑖𝑡 + 𝜑5 𝑔𝑠𝑞𝑢𝑎𝑟𝑒𝑖𝑡 +
𝜑6 𝑂𝑃𝐸𝑁𝑖𝑡 + 𝜑7 𝐼𝑁𝐹𝑖𝑡 + 𝜀𝑖𝑡 (12)
Bên cạnh đó, để xem xét tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế
tại các quốc gia châu Á trong điều kiện bình thường và trong điều kiện khủng
hoảng, tác giả đưa thêm vào mô hình biến giả CRISIS. Liên quan đến việc xác định
thời điểm khủng hoảng tại các quốc gia châu Á vẫn còn nhiều tranh luận. Trong
nghiên cứu này, tác giả xác định thời điểm khủng hoảng tại các quốc gia châu Á
dựa vào các nghiên cứu của Filardo (2011), Keat (2009). Theo Filardo (2011), tăng
trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á bắt đầu sụt giảm mạnh từ tháng 9/2008, sau
sự sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers. Sự sụt giảm này kéo dài đến tháng
3/2009. Còn theo Keat (2009), từ quý 4/2009 đến quý 1/2009, xuất khẩu của các
quốc gia châu Á đã giảm 85%, điều này kéo theo sự sụt giảm mạnh trong tăng
trưởng kinh tế. Như vậy, để đảm bảo bao hàm đầy đủ thời gian khủng hoảng tại các


23

quốc gia châu Á, biến CRISIS sẽ nhận giá trị là 1 thể hiện cho điều kiện khủng
hoảng vào những năm 2008 và 2009, nhận giá trị là 0 thể hiện cho điều kiện bình
thường vào những năm còn lại trong giai đoạn nghiên cứu, mô hình cụ thể như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status