Tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia khu vực asean - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THU SƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC
QUỐC GIA KHU VỰC ASEAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THU SƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC
QUỐC GIA KHU VỰC ASEAN
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. SỬ ĐÌNH THÀNH

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2014

1.1. Dẫn nhập ............................................................................................................... 5
1.2. Định nghĩa thể chế công ....................................................................................... 5
1.3. Sự khác biệt về chính trị và thể chế của một số nước .......................................... 8
1.4. Mô hình tăng trưởng nội sinh và vai trò của Chính phủ ..................................... 11
1.5. Lý thuyết về thể chế và hoạt động kinh tế .......................................................... 14
1.6. Đánh giá các nghiên cứu thực nghiệm................................................................ 15
Chương 2 - MÔ HÌNH, DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 28
2.1. Mô hình nghiên cứu ............................................................................................ 28


2.2. Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................................. 38
2.2.1. Dữ liệu về thể chế công ................................................................................ 41
2.2.2. Dữ liệu về các biến giải thích khác .............................................................. 44
2.3. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 46
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................................ 49
3.1. Kết quả kiểm định bằng phương pháp random effect (REM) ............................ 49
3.2. Kết quả kiểm định bằng phương pháp fixed effect (FEM) ................................ 51
3.3. Kiểm định để lựa chọn mô hình thích hợp ......................................................... 53
3.3.1. Kiểm định Hausman ..................................................................................... 53
3.3.2. Kiểm định phương sai sai số thay đổi .......................................................... 53
Chương 4 - KẾT LUẬN................................................................................................ 59
Tài liệu tham khảo


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AFDB: Ngân hàng phát triển Châu Phi
CCI: Chỉ số kiểm soát tham nhũng
DPR: Tỷ lệ người phụ thuộc
EIU: Economist Intelligence Unit Riskwire & Democracy Index

Bảng 3.3. Kết quả kiểm định Hausman ................................................................................ 53
Bảng 3.4. Kết quả kiểm định Breusch – Pagan Lagrangian Multiplier ................................ 54
Bảng 3.5. Kết quả ước lượng mô hình FGLS ....................................................................... 58


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đến nay, trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu thực
nghiệm về tăng trưởng. Các nghiên cứu này xem xét tác động của nhiều nguồn khác
nhau đến tăng trưởng như: phân cấp tài khóa, lạm phát, yếu tố lao động, thương mại,
viện trợ, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), yếu tố địa lý và hàng loạt các yếu tố khác
tác động đến tăng trưởng kinh tế trong khuôn khổ của mô hình tân cổ điển. Cho đến
đầu những năm 90, vấn đề chất lượng thể chế đã trở thành một khái niệm quan trọng
trong các cuộc tranh luận quốc tế về phát triển và chính sách.
Việc nhấn mạnh yếu tố chất lượng thể chế được đặt nền tảng dựa trên các lý
thuyết về mối liên hệ giữa thể chế và tăng trưởng, khủng hoảng kinh tế do Acemoglu et
al. (2002), Rodrik et al. (2002), Fukuyama (1995), Sen (1999), Johnson et al. (2000)
trình bày cũng như lý thuyết thông tin bất cân xứng (asymmetric information) trong thị
trường tài chính của Mishkin (1996, 2001). Đây chỉ là những tác giả tiêu biểu trong số
rất nhiều tác giả. Fukuyama (1995) cũng cho rằng sự tin tưởng lẫn nhau trong xã hội
(trust) sẽ làm giảm chi phí quản lý, tăng cường tầm cỡ và hiệu quả của chính phủ, qua
đó ngăn ngừa được khủng hoảng và đóng góp tốt cho tăng trưởng kinh tế. Lòng tin là
yếu tố quan trọng trong thị trường tài chính, nếu thực sự có lòng tin thì thị trường sẽ
hoạt động ổn định và ít đổ vỡ diện rộng.
Acemoglu et al. (2002) gợi ý rằng các nước có các chính sách kinh tế vĩ mô kém
hoặc không nhất quán thường có thể chế yếu, không có các ràng buộc quyền lực đối
với các chính trị gia, bảo vệ quyền sở hữu kém và tham nhũng ở mức độ cao. Các
chính sách kinh tế không nhất quán là triệu chứng của thể chế yếu kém chứ không phải

Thông qua nghiên cứu, tác giả muốn làm rõ những câu hỏi nghiên cứu như: chất
lượng thể chế công có tác động đến tăng trưởng kinh tế hay không? Và nếu có, tác


3

động sẽ như thế nào? Từ đó, tác giả có hướng đề xuất những giải pháp, chính sách thúc
đẩy tăng trưởng bền vững, ổn định.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu tác động của chất lượng thể chế công đến tăng trưởng
kinh tế của các quốc gia khu vực ASEAN giai đoạn 1996 – 2012.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế 8 quốc gia
khu vực ASEAN giai đoạn 1996 – 2012 thông qua 6 biến chính VAI - chỉ số tiếng nói
và trách nhiệm giải trình, PSI - chỉ số tính ổn định chính trị, GEI - chỉ số hiệu quả của
chính phủ, RQI - chỉ số chất lượng điều tiết, RLI - chỉ số quy định của pháp luật và
CCI - chỉ số kiểm soát tham nhũng. Ngoài 6 biến trên, tác giả còn sử dụng thêm một
biến như mô hình (1) đã nêu.
4. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Dữ liệu
Dữ liệu về thể chế và nền kinh tế của các quốc gia khu vực ASEAN được thu
thập giai đoạn 1996 – 2012 từ WDI (World Bank Development Indicators).
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
trên cơ sở xây dựng các dữ liệu để tiến hành kiểm định tác động của thể chế công đến
tăng trưởng kinh tế thông qua phương pháp bình phương bé nhất (OLS), mô hình tác
động cố định (fixed effect model), mô hình tác động ngẫu nhiên (random effect model)
và một số kiểm định cần thiết khác để lựa chọn mô hình thích hợp nhất. Bên cạnh đó,
nghiên cứu còn sử dụng phương pháp ước lượng FGLS để khắc phục những khuyết



5

Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1. Dẫn nhập
Hơn 15 năm qua, các lý thuyết về thể chế công và tác động của nó đến tăng
trưởng kinh tế từng bước được thực hiện. Lý thuyết này được thúc đẩy bởi mối tương
quan rõ ràng giữa chất lượng thể chế công và sự khác biệt về mức sống giữa các quốc
gia. Vì vậy, chương này sẽ cung cấp một cuộc khảo sát một vài phát hiện chính bắt
nguồn từ một số nghiên cứu trước đó. Chương này cũng sẽ thảo luận về các biện pháp
thể chế công được sử dụng trong các nghiên cứu và làm nổi bật một số khó khăn trong
việc đánh giá tác động kinh tế của thể chế công cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm.
Ngoài ra, luận văn sẽ xem xét một số các nghiên cứu tập trung vào nguyên nhân của sự
khác biệt về thể chế giữa các nước.
Cơ cấu chương 1 như sau: phần đầu tiên tóm tắt, xem xét các định nghĩa khác
nhau về thể chế công đã được đưa ra từ các nhà nghiên cứu trước trong lĩnh vực này.
Trong phần thứ hai sẽ thảo luận về những nguyên nhân của sự khác biệt về chất lượng
của thể chế. Trong phần thứ ba sẽ xem xét các liên kết giữa lý thuyết chất lượng thể
chế công và hiệu quả kinh tế như đã được thiết lập trong các nghiên cứu. Cuối cùng,
trong phần thứ tư sẽ làm nổi bật những nghiên cứu thực nghiệm về thể chế công, các
phương pháp khác nhau của thể chế công được sử dụng trong các nghiên cứu khác
nhau và các vấn đề gặp phải trong nghiên cứu thực nghiệm tác động của thể chế công
đến các biện pháp quản lý hoạt động kinh tế.
1.2. Định nghĩa thể chế công
Việc định nghĩa những yếu tố cấu thành thể chế công đã phát triển trong những
năm qua. Schneider (1999) định nghĩa chất lượng thể chế công như là việc thi hành
thẩm quyền hoặc kiểm soát để quản lý hoạt động và tài nguyên của một quốc gia. Cơ
quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID, 2002) theo khía cạnh khác đã định nghĩa thể
chế công là một hệ thống phức tạp của sự tương tác giữa các cấu trúc, truyền thống,

dường như chú trọng nhiều hơn về hiệu quả của chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ


7

cho các thành viên trong xã hội của họ. Tuy nhiên, như được thảo luận bởi Keefer
(2004), khái niệm rộng hơn về thể chế công nên bao gồm các cơ chế khuyến khích chi
phối các hành động của các tác nhân chính trị. Đây là vấn đề của hệ thống chính trị và
kinh tế.
Những nghiên cứu trước đây về phát triển kinh tế ngầm giả định rằng các chính
trị gia sẽ đưa ra quyết định tối đa hóa phúc lợi xã hội. Dethier (1999) đã đưa ra quan
điểm rằng “chính phủ không phải là nhà độc tài nhân từ mà là những người tìm kiếm
cách để tối đa hóa phúc lợi xã hội, nhưng cấu trúc thể chế phức tạp đặc trưng bởi các
mối quan hệ đại diện”.Sử dụng hiệu quả các nguồn lực công không chỉ phụ thuộc vào
thể chế (hạn hẹp như là cấu trúc tổ chức), mà còn phụ thuộc vào các chương trình ưu
đãi trong các tổ chức công Dethier (1999).
Một định nghĩa rộng hơn về thể chế được cung cấp bởi North (1990) là “những
quy tắc của những trò chơi trong xã hội hoặc chính thức hơn là “những trở ngại mà con
người đặt ra để hình thành sự giao tiếp giữa con người với nhau trong xã hội”. Định
nghĩa rộng hơn này quy định cơ chế khuyến khích trong cơ chế ra quyết định. Một định
nghĩa khác ám chỉ tới cái nhìn toàn diện hơn về thể chế này được cung cấp bởi
Kaufman và Kraay (2002).
Kaufmann và Kraay (2002) định nghĩa thể chế công là “truyền thống và các tổ
chức mà chính quyền được thực thi trong một quốc gia”. Theo các tác giả, điều này bao
gồm quá trình mà các chính phủ được tuyển chọn, kiểm soát và thay thế; khả năng của
chính phủ để thiết lập và thực thi chính sách; sự tôn trọng của người dân và nhà nước
đối với các tổ chức để quyết định các tương tác giữa kinh tế và xã hội. Đặc biệt, quá
trình mà các chính phủ được tuyển chọn và giám sát tác động rất lớn đến cơ chế
khuyến khích trong các tổ chức chính phủ.
Tóm lại, hiệu quả của các chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ cho người dân

người thực dân Châu Âu thành lập các khu định cư như Úc, Canada, Hoa Kỳ và New
Zealand. Mặt khác, các thuộc địa khai thác là những nước mà các cường quốc thực dân
khai thác nguyên vật liệu mà không cần thiết lập các khu định cư vĩnh viễn.


9

Acemoglu et al. (2001) cho rằng sự lựa chọn loại hình chủ nghĩa thực dân với các
điều kiện ở các thuộc địa có thể được quan sát thấy từ tỷ lệ người châu Âu định cư tử
vong. Ở những nơi mà tỷ lệ người định cư tử vong cao thì loại hình thuộc địa khai thác
được thành lập. Vì vậy, các thể chế về bảo vệ quyền sở hữu không được đưa ra. Mặt
khác, các thuộc địa định cư được đặc trưng bởi thể chế nhằm bảo vệ quyền sở hữu. Các
tác giả còn cho rằng điều này giải thích sự khác biệt trong thể chế hiện hành vì chất
lượng thể chế có xu hướng tồn tại.
Ndulu và O’Connell (1999) cũng chỉ ra những nguyên nhân lịch sử như một lời
giải thích chính đáng cho các thể chế chính trị kém của khu vực châu Phi hạ Sahara.
Ngoài chế độ thực dân, họ thảo luận về thời đại hậu thuộc địa được đặc trưng bởi chế
độ độc tài dân sự trong những năm 60 và 70. Tiếp theo đó là chế độ độc tài quân sự
trong những năm 80. Họ cũng cho rằng tác động tiêu cực của những sự kiện chính trị
liên tiếp được khuếch đại bởi tác động của chiến tranh lạnh mà kết quả rơi vào “một
cuộc chiến để kiểm soát tư tưởng của các cường quốc lớn trong chiến tranh” - Hoa Kỳ
và Liên Xô. Điều này có thể hoặc ít nhất một phần giải thích hiện trạng phát triển thể
chế ở các nước này, do đó giải thích mức độ hoạt động kinh tế.
Ý nghĩa của các sự kiện chính trị hậu thuộc địa tại khu vực châu Phi hạ Sahara và
châu Mỹ La tinh đặc trưng bởi quy luật chủ nghĩa thuộc về nhà thờ, có thể liên quan
đến việc “điểm xung đột xã hội” được đưa ra bởi Acemoglu et al. (2004). Theo quan
điểm này, các thể chế được lựa chọn bởi những người kiểm soát quyền lực chính trị.
Do đó, các thể chế được lựa chọn sẽ là tối đa hóa lợi ích của các nhóm quyền lực chính
trị chứ không phải là lợi ích xã hội.
Tuy nhiên, chúng ta nên lưu ý rằng, trong bối cảnh các cuộc thảo luận về quy luật

sách không có lợi cho thị trường hoạt động hiệu quả.
Vấn đề Địa lý (độ cao và khí hậu) cũng liên quan đến chất lượng của thể chế. Một
lần nữa, La Porta et al. (1999) cho thấy rằng các quốc gia gần đường xích đạo thì chính
phủ hoạt động kém hiệu quả hơn. Một lập luận cho mối quan hệ này được trình bày bởi
Hall (1999), liên quan đến vĩ độ “Ảnh hưởng phương Tây”, dẫn đến thể chế tốt hơn.


11

Tuy nhiên, nhược điểm trong lập luận này đó là vị trí địa lý (được đo lường khoảng
cách gần với đường xích đạo) có thể có một tác động trực tiếp lên thu nhập bình quân
đầu người, do đó tác động đến chất lượng thể chế (Acemoglu, Johnson và Robinson
(2001), Bloom et al. (1998)). Khí hậu ấm áp có thể có liên quan đến năng suất thấp hơn
và do đó làm cho thu nhập thấp. Bởi vì xã hội thịnh vượng có liên quan đến thể chế tốt
hơn, ảnh hưởng của địa lý về chất lượng thể chế có thể thực sự được truyền đi thông
qua thu nhập thay vì khoảng cách so với “Ảnh hưởng phương Tây” như lập luận của
Hall và Jones (1999).
Cuối cùng, Knack (2000) nghiên cứu tác động của sự phụ thuộc vào viện trợ của
chất lượng thể chế. Ông thấy rằng “sự lệ thuộc viện trợ sẽ làm suy yếu chất lượng thể
chế vì nó làm yếu đi trách nhiệm, khuyến khích tìm kiếm đặc lợi và tham nhũng, kích
động xung đột quyền kiểm soát các quỹ viện trợ, bòn rút tài năng khan hiếm từ bộ máy
quan liêu và giảm áp lực cải cách chính sách và thể chế hiệu quả”. Mặc dù những phát
hiện này là đáng tin cậy, những điều này có thể có vấn đề lựa chọn mẫu theo ý nghĩa là
nước phụ thuộc viện trợ thường người nghèo và có thể chế kém hơn. Knack (2000) đã
khắc phục những vấn đề này bằng cách sử dụng biến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh vào năm
1980 và GDP bình quân đầu người ban đầu.
1.4. Mô hình tăng trưởng nội sinh và vai trò của Chính phủ
Mô hình tăng trưởng tân cổ điển được coi là mô hình chuẩn đầu tiên, hội tụ được
khá nhiều các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế dài hạn. Thế nhưng, mô hình tăng
trưởng tân cổ điển vừa là một thành công lớn, lại vừa là một thất bại lớn. Một hạn chế

bù đắp nhờ đầu tư và viện trợ nước ngoài) mà quan trọng hơn là ở vốn con người. Bởi
thế, ý nghĩa to lớn của các mô hình tăng trưởng nội sinh là: tốc độ tăng trưởng dài hạn
có thể phụ thuộc vào hành động chính sách của chính phủ (đánh thuế, cung ứng cơ sở
hạ tầng, bảo hộ sở hữu trí tuệ, cung cấp các dịch vụ công liên quan đến giáo dục, y
tế…), vì các chính sách này có thể tác động tới các hoạt động sáng chế, phát minh và
tích lũy vốn con người.


13

Tuy nhiên, các mô hình tăng trưởng nội sinh còn bỏ qua những yếu tố như sự yếu
kém về cấu trúc hạ tầng, cấu trúc thể chế ở các nước đang phát triển, mà đây cũng là
những yếu tố kìm hãm tăng trưởng, giống như mức tiết kiệm và tích luỹ vốn con người
thấp. Từ lâu người ta đã nhận ra rằng các nhân tố phi kinh tế có mối tương tác với quá
trình tăng trưởng. Tuy nhiên, trong các mô hình tân cổ điển và tăng trưởng nội sinh,
lịch sử và thể chế không có vai trò gì.
Các kỹ thuật tính toán tăng trưởng đo tầm quan trọng tương đối của mức vốn, lao
động và công nghệ trong quá trình tăng trưởng kinh tế chỉ thực hiện trong khuôn khổ
một hàm sản xuất kinh tế vĩ mô. Thế nhưng các nhà kinh tế thể chế hiện đại lập luận
rằng thể chế là cấu trúc mang tính thúc đẩy của một xã hội, do đó các luật lệ, quy
tắc…tạo nên nền tảng thể chế của một xã hội sẽ chi phối sự phân bổ các nguồn lực của
xã hội và nền kinh tế, và do vậy có ảnh hưởng lớn đến năng suất.
Nếu như các mô hình kinh tế về tích tụ các yếu tố sản xuất thay đổi công nghệ nội
sinh chỉ cung cấp những lời giải thích gần đúng cho tăng trưởng kinh tế tương đối, thì
những mô hình nào đưa ra lời giải thích đáng tin cậy hơn cả? Nhiều nhà nghiên cứu
gần đây cho rằng thể chế mới là yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng kinh tế. Khi
nhấn mạnh tầm quan trọng của lý thuyết thể chế và các thể chế kinh tế, để có các đánh
giá khách quan hơn, cần xem xét tới vai trò cũng như hoạt động của chính phủ.Mô hình
nội sinh nêu lên những hạn chế về khả năng rượt đuổi của các nước đang phát triển bởi
sự hạn chế về khả năng vốn con người. Giải pháp để những nước này thoát nghèo và

Trong một nỗ lực để trả lời câu hỏi tại sao một số quốc gia có thể chế kém có xu
hướng làm chậm tăng trưởng kinh tế, một số lượng lớn các tác giả đã xem xét mối liên
hệ giữa cấu trúc chính trị hay thể chế, thể chế kinh tế và hiệu quả kinh tế. Lý thuyết
chính trị cho rằng thể chế được hình thành bởi những người cầm quyền để chuyển
nguồn lực cho chính họ (Acemoglu, Johnson, và Robinson, 2004; La Porta et al, 1999).
Acemoglu et al. (2004) lập luận rằng các nhóm có lợi ích khác nhau sẽ thích thể chế
khác nhau và các nhóm có quyền lực chính trị mạnh hơn cuối cùng sẽ quyết định
những thể chế nào ưu tiên thực hiện. Câu hỏi đặt ra trong phần này là thể chế tác động


15

như thế nào đến hoạt động kinh tế. Một trong những câu trả lời cho câu hỏi đó là tìm
kiếm đặc lợi và giả thuyết nắm bắt trạng thái. Theo giả thuyết này, các tầng lớp quyền
lực chính trị có lợi ích mâu thuẫn với lợi ích của công chúng nói chung sẽ tham gia vào
các hoạt động tìm kiếm đặc lợi. Như vậy, họ sẽ không sẵn sàng để thay đổi hiện trạng.
Đặc lợi và nhiệm vụ bảo vệ đặc lợi trong tương lai có thể dẫn đến phân bổ không
hiệu quả các nguồn lực theo khía cạnh phúc lợi xã hội. Hơn nữa, các nguồn lực được
dành cho các hoạt động tìm kiếm đặc lợi lãng phí thay vì hoạt động sản xuất (Kimenyi
và Tollison, 1999).
Dethier (1999) cho rằng “hiệu quả sử dụng các nguồn lực công phụ thuộc vào
các chương trình khuyến khích của các tổ chức công và cải cách nên tập trung vào việc
thiết kế các chương trình đảm bảo cam kết và thực hiện chính sách tối đa hóa phúc lợi
xã hội đáng tin cậy. Thể chế tốt cải thiện nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả trong
việc sử dụng các nguồn tài nguyên, do đó nâng cao tăng trưởng kinh tế (Dethier 1999).
Các thể chế chính trị thiết lập hệ thống pháp luật quy định các quy tắc kiểm soát
biến động. Trong một tiến trình chính trị, các nhóm lợi ích khác nhau cạnh tranh quyền
lực chính trị, đặc lợi kinh tế trong khuôn khổ các quy tắc được xác định bởi hệ thống
pháp luật. Nếu không có một cơ chế khuyến khích thích hợp trong các thể chế chính trị,
các quy tắc có thể được thiết lập để đem lại lợi ích cho những nhóm đặc biệt có lợi thế

mạng, các vụ ám sát chính trị, bầu cử dân chủ...) đã được sử dụng. Một phần trong các
tài liệu liên quan đã tập trung vào nghiên cứu các tác động của biến chính trị và thể chế
đến mức GDP bình quân đầu người thực tế, một số nghiên cứu khác thì sử dụng tăng
trưởng kinh tế.
Câu hỏi thường xuyên nhất được nghiên cứu là vai trò của dân chủ trong phát
triển kinh tế. Hầu hết các nghiên cứu gần đây đã sử dụng các chỉ số về quyền chính trị
và tự do công dân được biên soạn bởi Freedom House để đo lường mức độ dân chủ.
Các tác giả khác như Barro (1991) đã sử dụng chỉ số bất ổn chính trị và bạo lực chính
trị để nghiên cứu tác động của các biến chính trị đến tăng trưởng kinh tế. Những dẫn


17

xuất đó bao gồm số lượng các cuộc cách mạng và cuộc đảo chính quân sự và số lượng
các vụ ám sát chính trị.
Một số tác giả khác đã tập trung vào việc đo lường chính sách bất ổn khách quan.
Những đo lường này được dựa trên độ lệch chuẩn của các biến như thuế suất, biến tiền
tệ và bóp méo thương mại như là các dẫn xuất cho một khuôn khổ chính sách không
chắc chắn (Kormedi và Meguire, 1985).
Những nguồn về thể chế khác thường được sử dụng như the International Country
Risk Guide (ICRG) (Cục Hướng dẫn rủi ro quốc gia quốc tế) được tổng hợp bởi nhóm
Political Risk Services (PRS). Nhóm PRS là một dịch vụ thương mại cung cấp đánh
giá rủi ro tài chính, kinh tế và chính trị cho các nhà đầu tư. Các dữ liệu bao gồm các chỉ
số về nguy cơ thoái thác các hợp đồng của chính phủ, nguy cơ tước quyền sở hữu của
đầu tư tư nhân, tham nhũng trong chính phủ, quy định của pháp luật, chất lượng của bộ
máy quan liêu và căng thẳng sắc tộc (Acemoglu, Johnson và Robinson, 2001; Knack
và Keefer, 1995).
Kaufmann và Kraay (2002) tính toán sáu chỉ số tổng hợp về thể chế công từ các
chỉ số khác nhau dựa trên khía cạnh khác nhau của thể chế công. Các chỉ số tổng hợp
là: (1)Tiếng nói và trách nhiệm: đo lường mức độ mà công dân của một quốc gia có thể

giữa những thời kỳ chỉ có ý nghĩa khi các phương pháp khảo sát cùng thời gian. Một số
biện pháp đo lường chất lượng thể chế công được sử dụng trong nghiên cứu của La
Porta et al. (1999) có thể gây hiểu lầm như là có thể được đo lường chất lượng của các
chính sách cụ thể chứ không phải là chất lượng thể chế công theo nghĩa rộng. Ví dụ
như trường hợp ở Cuba, với một tỷ lệ người dân biết chữ cao và một hệ thống thể chế
công thiếu dân chủ. Điều này có thể do một số chính sách cụ thể, đặc biệt chứ không
phải do tổng thể chất lượng thể chế công.
Biết rằng chất lượng thể chế công là không thể đo lường được, các nhà nghiên
cứu thực nghiệm không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc sử dụng các chỉ số thay
cho đo lường thực tế. Tuy nhiên, các chỉ số dễ mắc phải lỗi bị chệch, do đó có thể dẫn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status