BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
----------
LƢU MINH TRUNG
QUẢN LÝ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG MỐI QUAN HỆ
VỚI TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM:
TIẾP CẬN BẰNG MÔ HÌNH MARKOV SWITCHING
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số ngành: 60340102
TP. HCM, tháng 02 năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
----------
LƢU MINH TRUNG
QUẢN LÝ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG MỐI QUAN HỆ
VỚI TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM:
TIẾP CẬN BẰNG MÔ HÌNH MARKOV SWITCHING
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TS. Trƣơng Quang Dũng
Phản biện 1
3
TS. Phan Thị Minh Châu
Phản biện 2
4
TS. Hà Văn Dũng
Ủy viên
5
TS. Phạm Phi Yên
Ủy viên, Thƣ ký
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã đƣợc sửa
chữa (nếu có).
Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn
GS.TS. Võ Thanh Thu
TRƢỜNG ĐH CÔNG NGHỆ TP.HCM
chính Thế giới năm 2008 đến mối quan hệ này ở thị trƣờng Việt Nam.
(2). Từ đó, cung cấp bằng chứng về mối quan hệ tƣơng tác giữa tỷ giá hối đoái và tỷ
suất sinh lợi trên thị trƣờng Việt Nam cũng nhƣ tác động của khủng hoảng tài
chính đến mối quan hệ này.
(3). Đề xuất những gợi ý trong quản lý và quyết định đầu tƣ trong giai đoạn thị
trƣờng biến động mạnh cũng nhƣ khi thị trƣờng ít biến động trong giai đoạn
nghiên cứu từ năm 2000 đến 2015.
III- Ngày giao nhiệm vụ: ............/.........../2017
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: .........../........../2017
V- Cán bộ hƣớng dẫn: PGS. TS Phan Đình Nguyên
CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
(Họ tên và chữ ký)
KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký)
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ Quản lý tỷ giá hối đoái trong mối quan
hệ với tỷ suất sinh lợi trên thị trƣờng Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình
Markov Switching là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập
và nghiêm túc. Các số liệu trong luận văn đƣợc thu thập từ thực tế, đáng tin cậy,
đƣợc xử lý trung thực khách quan và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ công
trình nào.
Học viên thực hiện Luận văn
này giai đoạn thị trƣờng biến động mạnh và giai đoạn thị trƣờng ít biến động qua
từng thời kỳ và có sự can thiệp của ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam trong một biên
độ giao động cho phép dẫn đến hiệu ứng tự triệt tiêu trong tác động của tỷ giá hối
đoái ở kỳ gốc và tỷ giá hối đoái ở kỳ trƣớc đến tỷ suất sinh lợi trên thị trƣờng. Hiệu
ứng này của tỷ giá hối đoái cũng đƣợc tìm thấy rõ ràng hơn khi thị trƣờng ít biến
động.
Từ khóa: Sự biến động của thị trường; Tỷ giá hối đoái, Tỷ suất sinh lời, Thị
trường chứng khoán, Markov Switching
iv
ABSTRACT
The paper uses the Markov Switching approach to find evidence of the effects
of exchange rate fluctuations in relation to the return on investment (TSSL) of
securities in the Vietnamese market.
From the approach to the model using the Markov Switching Estimation
technique for the investigation and the article found evidence of the difference in
this relationship, the market volatility was strong and the market phase was less
volatile. Each period and intervention by the State Bank of Vietnam in a permissible
range allows the effect of self destructiveness in the effect of the exchange rate in
the base period and the exchange rate in the previous period. Profitability in the
market. This effect of the exchange rate is also found to be clearer when the market
is less volatile.
Key words: market volatility, exchange rate, yield, stock market, Markov
Switching
v
3.3. Kết quả nghiên cứu từ mô hình markov switching...................................30
CHƢƠNG 4: NHỮNG GỢI Ý CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ ĐẦU TƢ.............39
4.1. Gợi ý chính sách quản lý và đầu tƣ khi thị trƣờng biến động mạnh........39
4.2. Gợi ý chính sách quản lý và đầu tƣ khi thị trƣờng ít biến động...............40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................. 42
vi
1. KẾT LUẬN..................................................................................................... 42
2. KIẾN NGHỊ.................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................... x
PHỤ LỤC.................................................................................................................. 1
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tỷ lệ xuất khẩu trên GDP qua các giai đoạn nghiên cứu......................... 21
Bảng 2.2: Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu......................................................... 23
Bảng 3.1: Các giá trị thống kê cho các kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định tính
dừng KPSS.............................................................................................................. 26
Bảng 3.2: Các giá trị tới hạn cho các kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định tính
dừng KPSS.............................................................................................................. 27
Bảng 3.3: Hệ số tự tƣơng quan và hệ số tƣơng quan riêng phần của tỷ giá hối đoái
giữa đồng Dollar Mỹ và đồng Việt Nam................................................................. 28
Bảng 3.4: Hệ số tự tƣơng quan và hệ số tƣơng quan riêng phần của tỷ suất sinh lợi
29
Bảng 3.5: Kết quả ƣớc lƣợng xem xét tác động của tỷ giá hối đoái đến tỷ suất sinh
lợi thị trƣờng bằng mô hình chuyển đổi trạng thái đơn........................................... 30
Biểu đồ 2.8: Chỉ số thị trƣờng chứng khoán VN-Index giai đoạn 01/2011 – 12/2012
................................................................................................................................... 18
Biểu đồ 2.9: Tỷ giá hối đoái của đồng tiền Dollar Mỹ so với đồng Việt Nam giai
đoạn 01/2013 – 12/2015 ............................................................................................ 19
Biểu đồ 2.10: Chỉ số thị trƣờng chứng khoán VN-Index giai đoạn 01/2013 –
12/2015 ...................................................................................................................... 19
ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TT
Từ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
1
CV
Coefficient of Variation
2
EU
7
VND
Hệ số biến đổi
Liên minh châu Âu
Tổng sản phẩm nội địa
Thành phố Hồ Chí Minh
Việt Nam đồng
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mối quan hệ giữa thị trƣờng ngoại hối và thị trƣờng chứng khoán đƣợc đề
cập rất nhiều trong các lý thuyết kinh tế theo hai hình thức tiếp cận chủ yếu. Thứ
nhất là sử dụng mô hình flow - oriented do Dornbusch & Fischer (1980) đề xuất.
Thứ hai là sử dụng mô hình stock - oriented do Branson (1983) và Frankel (1983)
công bố độc lập với ý tƣởng gần giống nhƣ nhau. Hai mô hình này đƣợc sử dụng
rộng rãi để nghiên cứu mối quan hệ tƣơng tác giữa biến động trong tỷ giá hối đoái
và biến động trong tỷ suất sinh lợi trên thị trƣờng. Tuy nhiên, từ sau năm 1989
nhiều nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều thị trƣờng khác nhau để làm rõ mối quan hệ
giữa tỷ suất sinh lợi và tỷ giá hối đoái. Đồng thời trong số các nghiên cứu đó cho
rằng biến động trong tỷ giá hối đoái không nắm bắt tốt sự biến động của tỷ suất sinh
lợi trên thị trƣờng chứng khoán (Jorion, 1990 và Jorion, 1991) nhƣng cũng có một
số những nghiên cứu thực nghiệm khác đi đến kết luận ngƣợc lại (Roll, 1992;
Dumas & Solnik, 1995).
Xuất phát từ câu hỏi nghiên cứu làm rõ mối quan hệ tƣơng tác giữa tỷ suất
2015.
3. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Tác giả nghiên cứu mối quan hệ của tỷ giá hối đoái và tỷ suất sinh lợi trên thị
trƣờng Việt Nam. Trong đó, tập trung vào phân tích sự khác biệt trong mối quan hệ
này ở những giai đoạn biến động mạnh và ít biến động của thị trƣờng từ đó tính
toán đƣợc khoảng thời gian cho từng giai đoạn biến động và xác suất rơi vào từng
giai đoạn ở thị trƣờng Việt Nam.
Đồng thời kiểm định mối quan hệ này ở giai đoạn trƣớc và sau khi xảy ra
khủng hoảng tài chính Thế giới.
4. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Tác giả sử dụng dữ liệu của tỷ giá hối đoái thu thập từ IMF và dữ liệu chỉ số
VN - Index từ Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM. Tất cả đều đƣợc tác giả làm dữ
liệu theo tháng và đƣợc tính toán theo trung bình của từng ngày trong tháng vì ảnh
huởng lớn của cú sốc bên ngoài đến thị truờng chứng khoán đặc biệt là ở các thị
trƣờng mới nổi và các quốc gia phát triển cũng nhƣ để tránh vấn đề giao dịch
không đồng bộ và sự tƣơng quan ngắn hạn do dữ liệu bị nhiễu với tần suất cao nhƣ
dữ liệu theo ngày (Fayyad & Daly, 2011).
Đồng thời, dữ liệu theo tháng cũng cho phép bóc tách các biến mang tính chu
kỳ và phân tích tốt hơn sự thay đổi chế độ theo thời gian. Bên cạnh đó, hiện tƣợng
phƣơng sai thay đổi cũng đƣợc kiểm soát tốt hơn trong mô hình Markov Switching
3
khi sử dụng dữ liệu theo tháng thay vì dữ liệu theo ngày hoặc theo tuần (Hamilton
& Susmel, 1994). Hơn nữa, bằng thực nghiệm cho thấy cơ chế chuyển đổi giữa các
regime biến động mạnh và ít biến động cũng đƣợc phát hiện rõ ràng hơn khi sử
dụng dữ liệu theo tháng (Aloui & Jammazi, 2009).
l
+ ∑ S α StockReturn + ∑ α 2, j ( S REER +
v
1, j
(
t)
t −k
k
t)
t −k
(S
t)
e
t
k
Trong đó:
REERt là sự thay đổi của tỷ giá hối đoái;
REERt −k là các biến trễ của sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái;
trƣờng chứng khoán cũng đại diện cho hiệu quả hoạt động về mặt giá trị thị trƣờng
của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, giá trị thị trƣờng của doanh nghiệp cũng hàm ý dự
báo cho dòng tiền tƣơng lai của doanh nghiệp đó.
Hƣớng tiếp cận thứ hai là mô hình theo hƣớng “Stock-oriented” của tỷ giá hối
đoái do Frankel (1983) và Branson (1993) đề xuất. Mô hình này cho rằng những
tiến bộ trong thị trƣờng chứng khoán ảnh hƣởng đến tỷ giá thông qua thanh khoản
và tài sản. Sự giảm giá chứng khoán làm giảm giá trị tài sản của các nhà đầu tƣ địa
phƣơng, làm giảm nhu cầu thanh khoản của họ. Sau đó, các ngân hàng phản ứng
bằng cách hạ lãi suất nên làm suy giảm dòng vốn, làm giảm nhu cầu đối với đồng
nội tệ và do đó, đồng nội tệ bị mất giá.
Do đó tài sản trong nƣớc và nƣớc ngoài không thể xem là thay thế hoàn hảo
cho nhau để đạt cân bằng cho một danh mục đầu tƣ hiệu quả, nhƣ vậy các nhà đầu
5
tƣ điều chỉnh tỷ lệ danh mục đầu tƣ trong nƣớc của họ bằng tài sản nƣớc ngoài để
thích nghi với những thay đổi trong điều kiện kinh tế, tỷ giá hối đoái cũng thay đổi
theo. Bên cạnh đó, những bằng chứng của cả hai lý thuyết đƣợc tìm thấy là không
thống nhất giữa các quốc gia vì các nghiên cứu ở những thị trƣờng khác nhau đồng
thời cũng sử dụng những kỹ thuật khác nhau.
1.2. Một số nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
1.2.1. Nghiên cứu thực nghiệm ở các quốc gia phát triển
Các nghiên cứu về mối tƣơng quan giữa tỷ giá và giá cổ phiếu đã đƣợc thực hiện
ở nhiều quốc gia sử dụng các kỹ thuật khác nhau và thu đƣợc những kết quả khác nhau.
Trong thực tế, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các nƣớc phát triển, các nghiên
cứu tận dụng đặc tính tự hồi quy chuyển đổi Markov (MS-AR) để nắm bắt thị trƣờng
ngoại hối và hành vi chuyển đổi trong thị trƣờng chứng khoán. Turner et al. (1989),
Chu et al. (1996) là những nhà tiên phong trong việc sử dụng phƣơng pháp MS-AR.
Bên cạnh đó, Chu et al. (1996) đi đến kết luận rằng lợi nhuận chứng khoán đƣợc đặc
phát triển là Nhật Bản, Đức, Mỹ, Anh và Canada trong thời kỳ 1976 - 1991 tìm ra
bằng chứng cho hành vi chuyển đổi Markov mang tính dễ biến động trong lợi nhuận
gộp của thị trƣờng chứng khoán. Kết quả cho thấy Canada tốn ít thời gian nhất để
thị trƣờng chứng khoán trở lại bình thƣờng sau cú sốc trong khi Đức là quốc gia
mất nhiều thời gian nhất. Tuy nhiên, phƣơng sai lợi nhuận trung bình của Đức có
trung bình thấp nhất trong chế độ biến động cao. Một kết luận khác của bài nghiên
cứu là lợi nhuận chứng khoán khác nhau theo thời gian và phƣơng sai có điều kiện
là chế độ phụ thuộc và các thị trƣờng khác nhau thì khác nhau về tần số của sự thay
đổi chế độ cũng nhƣ độ bền của chế độ. Maheu & McCurdy (2000) tìm đến thị
trƣờng Mỹ với chuỗi dữ liệu lợi nhuận chứng khoán hàng tháng từ năm 1802 đến
năm 1995. Bài nghiên cứu đúc kết sự chuyển đổi xảy ra giữa hai chế độ (thu nhập
thấp - bất ổn và tình trạng thu nhập cao - ổn định) và hành vi phi tuyến trên thị
trƣờng chứng khoán. Với việc mở rộng mô hình ARCH, tác giả sử dụng mô hình
DDMS - ARCH để cho thấy một thời kỳ lợi nhuận âm phụ thuộc vào xác suất
chuyển đổi giữa thị trƣờng sụt giá (bear market) và thị trƣờng lên giá (bull market).
Neih và Lee (2001) kiểm tra các mối quan hệ động (dynamic) giữa giá cổ
phiếu và tỷ giá hối đoái của các nƣớc thuộc khối G7 bằng các kiểm định chéo cơ
bản và các mô hình sửa lỗi Vector từ năm 1993 đến năm 1996. Nghiên cứu này
7
không xem xét mối quan hệ nhân quả kép giữa các biến và các kết quả cho thấy
không có mối quan hệ dài hạn giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái tại các nƣớc G7.
Muller và Verschoor (2006) kiểm tra cách mà các công ty đa quốc gia ở Mỹ bị ảnh
hƣởng bởi biến động tỷ giá hối đoái. Họ tin rằng những biến động tiền tệ là một
nguồn chính của sự bất ổn kinh tế vĩ mô ảnh hƣởng đến giá trị của công ty; một tình
huống mà họ gọi là rủi ro do biến động tỷ giá hối đoái. Về mặt lý thuyết, họ phác
thảo một vài lý do giải thích tại sao mối tƣơng quan giữa tỷ giá hối đoái và giá cổ
phiếu có thể bị bất đối xứng. Chúng bao gồm các tác động bất đối xứng của việc
biến động thấp.
Chế độ thứ ba là chế độ thị trƣờng tăng liên tục đặc trƣng bởi lợi nhuận cao
và tốc độ tăng trƣởng nhanh chóng.
Chế độ thứ tƣ là thị trƣờng “boun - back” với đặc trƣng là lợi nhuận cao đi
kèm với biến động cao.
Một số nghiên cứu khác cũng đã khám phá các vấn đề trong khu vực châu Á.
Pan et al (2007) đã sử dụng các kiểm định nhân quả Granger và mô hình Vector hồi
quy tự động để kiểm tra mối quan hệ động giữa giá tỷ giá hối đoái và chứng khoán
ở bảy quốc gia châu Á: Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ma-lay-xi-a, Sin-ga-po,
Đài Loan và Thái Lan từ năm 1988 đến năm 1998. Họ đã tìm thấy mối quan hệ
nhân quả đáng kể ở Hồng Kông, Nhật Bản, Ma-lay-xi-a và Thái Lan trƣớc cuộc
khủng hoảng tài chính. Nghiên cứu này cũng tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ
nhân quả giữa các thị trƣờng chứng khoán và thị trƣờng ngoại hối ở Hồng Kông,
Hàn Quốc và Singapore.
Những bài nghiên cứu gần đây, việc sử dụng mô hình chế độ chuyển đổi MSEGARCH của Henry (2009) để nghiên cứu mối quan hệ giữa thị trƣờng chứng
khoán và lãi suất ngắn hạn của Anh thời kỳ 1980 - 2007. Henry là ngƣời tiên phong
việc giới thiệu mô hình EGARCH chuyển đổi Markov hai chế độ nhằm xem xét mối
quan hệ của các biến số kinh tế vĩ mô. Trong chế độ thứ nhất (lợi nhuận cao nhƣng
biến động thấp), biến động của vốn chủ sở hữu phản ứng bất đối xứng và không liên
tục với những cú sốc trong thu nhập vốn chủ sở hữu. Trong chế độ thứ hai (trung
bình thấp và biến động cao), phƣơng sai có điều kiện của lợi nhuận vốn chủ sở hữu
phản ứng liên tục nhƣng lại mang tính đối xứng với mục đích nhằm nâng cao lợi
nhuận vốn chủ sở hữu. Song song đó, tác giả đã tìm ra bằng chứng cho
9
thấy biến động chênh lệch lãi suất tại những kỳ hạn ngắn hơn đóng vai trò quan
trọng trong việc xác định xác suất của quá trình chuyển đổi qua hai chế độ và biến
động của lợi nhuận chứng khoán.
bằng cách sử dụng các kiểm định có liên quan. Kết quả cho thấy có hiệu ứng biến
động lan toả từ giá cổ phiếu tới tỷ giá hối đoái và từ tỷ giá đến giá cổ phiếu.
Một lần nữa, Gruo et al. (2011) nghiên cứu tác động lây lan giữa thị trƣờng
chứng khoán, thị trƣờng bất động sản, thị trƣờng tín dụng và thị trƣờng năng lƣợng
trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính gần đây bằng việc sử dụng mô hình vector tự
hồi quy đa biến với kỹ thuật Markov Switching. Cụ thể Mô hình của các tác giả
phân biệt giữa hai trƣờng hợp: Trƣờng hợp với phƣơng sai cao xảy ra suốt cuộc
khủng hoảng cho vay dƣới chuẩn và trƣờng hợp ổn định với phƣơng sai thấp và rủi
ro cao. Theo xu hƣớng tƣơng tự, kết quả của các tác giả chứng minh rằng hiệu ứng
lây lan giữa các thị trƣờng rõ ràng hơn trong cuộc khủng hoảng tài chính.
Gần đây hơn, Tsai (2012) sử dụng hồi quy Quantile để điều tra các mối quan
hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái tại sáu quốc gia châu Á: Sin-gapo, Thái Lan, Ma-lay-xi-a, Phi-lip-pin, Hàn Quốc và Đài Loan. Các kết quả cũng
ủng hộ giả thiết đã nêu rằng hai biến có quan hệ âm. Cụ thể hơn, các mối quan hệ
âm đƣợc quan sát rõ rệt hơn khi tỷ giá hối đoái là rất thấp hoặc rất cao. Kết quả này
đƣợc củng cố bởi sự cân bằng danh mục đầu tƣ hiệu quả tại hai thị trƣờng này
trong đó vạch ra rằng sự gia tăng (giảm) lợi nhuận trên chỉ số giá chứng khoán sẽ
dẫn đến sự tăng giá (giảm giá) của đồng nội tệ thông qua sự giảm (tăng) tỷ giá hối
đoái. Kết quả của Tsai (2012) cũng cho thấy mối quan hệ là không đồng nhất giữa
các quốc gia và qua các tình huống thị trƣờng và các hệ số có thể thay đổi khi hiệu
quả cân bằng danh mục đầu tƣ không thể hiện mọi lúc trong mọi thị trƣờng. Các tác
giả giải thích rằng giá cổ phiếu có tác động đáng kể lên tỷ giá hối đoái tồn tại theo
thời gian mà phần lớn vốn đầu tƣ vào hay ra khỏi thị trƣờng.
1.2.2 Nghiên cứu thực nghiệm ở các quốc gia đang phát triển.
Thị trƣờng các quốc gia mới nổi cũng đã đƣợc đƣa vào nghiên cứu để xem xét
tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 thay vì chủ yếu tập trung vào thị
trƣờng các quốc gia phát triển nhƣng từ năm 2007 trở về sau nhƣ các nghiên cứu
trƣớc đây. Mô hình ARCH tự hồi quy chuyển đổi Markov Switching – Auto-regressive
Conditional of Heteroskedasticity (MS-ARCH) đƣợc Cai (1994) sử dụng
tình hình của thị trƣờng chứng khoán ở tất cả các nƣớc ngoại trừ Malaysia
12
là không có quan hệ nhân quả giữa giá cổ phiếu với tỷ giá hối đoái. Các tác giả này
tuyên bố rằng kết quả của họ là đáng tin cậy khi đã vƣợt qua một loạt các kiểm định
bao gồm kiểm định quan hệ nhân quả và kiểm định phƣơng sai thay đổi.
Brunetti et al. (2008) cũng sử dụng mô hình tƣơng tự cho thị trƣờng ngoại hối
của các nƣớc Đông Á. Với cách tiếp cận tƣơng tự, 6 quốc gia mới nối ở Châu Á trở
thành nguồn dữ liệu để Wang & Theobald (2008) thực hiện mô hình MS-AR trong
việc nghiên cứu hành vi chuyển đổi chế độ cho thị trƣờng chứng khoán suốt thời kỳ
từ 1970 đến 2004. Kết luận đƣợc đƣa ra rằng có từ 2 đến 3 trạng thái dễ biến động
tại các thị trƣờng chứng khoán đƣợc lựa chọn. Đặc biệt, sự chuyển đổi giữa các chế
độ có liên quan với tính quốc tế, cũng nhƣ đặc điểm của các quốc gia, những sự
kiện đó dẫn đến mức độ biến động của các thị trƣờng đó cũng đƣợc rút ra từ bài
nghiên cứu.
Thêm vào đó, mô hình hai chế độ MS-AR đƣợc sử dụng trong nghiên cứu
của Ismail & Isa (2008), việc tân dụng này đã theo dõi đƣợc hành vi chuyển đổi chế
độ cả trung bình và phƣơng sai với dữ liệu hàng tháng của thị trƣờng chứng khoán
Malaysia từ năm 1974 đến năm 2003. Các tác giả kết luận, ứng dụng của mô hình
MS-AR có thể đo lƣờng đƣợc sự chuyển đổi chế độ xảy ra suốt thời kỳ từ 1974 đến
2003 vƣợt trội hơn mô hình tuyến tính AR (1) thông thƣờng. Hơn nữa, các bằng
chứng cho việc chuyển đổi giữa hai chế độ cũng đƣợc đúc kết nhƣ việc tác động
của các sự kiện sụp đổ thị trƣờng chứng khoán năm 1987, cú sốc giá dầu thô năm
1974 và khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997.
Diamandis (2008) dùng mô hình tƣơng quan động để tìm ra bằng chứng cho
thấy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thị trƣờng các nƣớc phát triển trong các cuộc
khủng hoảng của Châu Á, Nga và Mỹ Latinh và thị trƣờng chứng khoán Mỹ Latinh
(Brazil, Argentina, Chile, Mexico) và thời kỳ 1997 - 1998. Song song đó, mô hình